Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH AN GIANG

Bản án số: 80/2025/HS-PT

Ngày 19 tháng 6 năm 2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Trần Hoàng Vũ.

Các Thẩm phán: Ông Đào Chí Keo và bà Trần Thị Thúy Hà.

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Nguyên Huân - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh An Giang

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Bà Phạm Huỳnh Ngọc Thi - Kiểm sát viên

Ngày 19 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh An Giang, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 110/2025/TLPT-HS ngày 16 tháng 5 năm 2025 đối với bị cáo Trương Thị Thúy H, do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 39/2025/HS-ST ngày 15 tháng 4 năm 2025 của Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang.

- Bị cáo có kháng cáo:

Trương Thị Thúy H, sinh ngày 17/4/1989, nơi sinh tại huyện P, tỉnh An Giang; nơi cư trú và chỗ ở hiện nay: Tổ A, khóm C, phường C, thành phố C, tỉnh An Giang; giới tính: Nữ; nghề nghiệp: Mua bán; trình độ văn hóa: không biết chữ; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Đạo Phật giáo H4; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trương Văn T và bà Đỗ Thị T1; chồng Trần Ngọc A; có 02 con, lớn sinh năm 2005, nhỏ sinh năm 2008; anh chị em có 02 người, bị cáo là người thứ nhất;

Tiền án: không;

Tiền sự: không;

Bị bắt ngày 18/12/2024, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam công an tỉnh A đến nay; bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Ngoài ra trong vụ án còn có người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có kháng cáo và không bị kháng cáo, kháng nghị nên Tòa án không triệu tập.

2

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 05 giờ ngày 12/5/2019, H và Em đang đứng bán nhang, đèn, muối, gạo dạo tại khu vực đường lên Miếu B thuộc tổ B, khóm V, phường N, thành phố C, thì Em thấy bà Phạm Thị H1; Lâm Ngọc T2 và Lê Thị C là những du khách đến từ thành phố Hồ Chí Minh, từ khu vực Bưu Điện N đi bộ đến Miễu bà Chúa Xứ N để cúng Bà. Lúc này, Em chèo kéo, mời gọi bà H1 đến chỗ của Thúy H mua muối, gạo; thấy H đứng trước sạp bán vật vật phảm của bà Ngô Thúy H2, bà H1 tưởng H2 là người của tiệm nên đã đồng ý mua các vật phẩm gồm 50kg gạo, giá 18.000đồng/kg; 50 kg muối, giá 12.000 đồng/kg; 01 chai dầu ăn, giá 30.000 đồng; tổng cộng 1.530.000 đồng (số vật phẩm này H2 lấy từ sạp của bà Ngô Thị H3 rồi bán lại cho bà H1); H3 không yêu cầu bà H1 trả tiền trước mà nói bà H1 cúng xong rồi trả tiền. Sau đó, H3 kêu Em đem số vật phẩm do bà H1 đã mua đến M, nhằm giúp cho cho E có cơ hội tiếp cận bà H1 để chiếm đoạt tiền bằng thủ đoạn để thêm vật phẩm như đã nêu trên. Trên đường chở số vật phẩm trên đến M, E ghé vào sạp bán vật phẩm phía trước nhà trọ số 18 mua 02 cặp thỏi vàng Bằng nhựa giá 240.000 đồng và 02 cặp đèn sáp ly với giá 240.000 đồng để chung vào số vật phẩm mà bà H1 đã mua. Sau khi, cúng xong, bà H1 quay lại gặp H3 tính tiền, thì H3 dùng thủ đoạn kê khống nói bà H1 đã mua 50 chai dầu ăn giá 30.000 đồng/chai; 50 thỏi vàng bằng giấy, giá 37.000 đồng/thỏi và yêu cầu bà H1 phải trả đủ số tiền 4.880.000 đồng, cao hơn số tiền thỏa thuận ban đầu 3.350.000 đồng, bà H1 không đồng ý trả thì H3 lớn tiếng uy hiếp, yêu cầu bà H1 phải trả. Lúc này, E đứng kế bên dùng lời lẽ bên vực H3, nói bà H1 đã mua số lượng vật phẩm như vậy thì phải trả tiền cho H3. Thấy H3 và Em lớn tiếng uy hiếp, do xứ lạ, sợ bị đánh nên bà H1 đã trả số tiền 4.880.000 đồng cho H3 và H3 đưa cho E 70.000 đồng từ tiền chiếm đoạt của bà H1.

Sau khi, trả đủ tiền cho H3, bị cáo E tiếp tục yêu cầu bà H1 trả thêm tiền mua 02 cặp đèn sáp và 02 thỏi vàng bằng nhựa giá 4.700.000 đồng, nghĩ Em đòi thêm 470.000 đồng, nên bà H1 đưa cho Em 500.000 đồng thì Em không đồng ý, mà yêu cầu bà H1 phải trả đủ 4.700.000 đồng, bà H1 không đồng ý và nói sẽ trình báo công an nên Em lấy 500.000 đồng của bà H1 rồi bỏ đi. Sau đó, bà H1 đến Công an phường N trình báo sự việc. Khi hay thông tin bà H1 đến trình báo Công an phường N, thì H3 nhờ Trần Ngọc A (chồng của H3) đem số tiền 3.160.000 đồng đã chiếm đoạt của bà H1 còn lại đến Công an phường N giao nộp.

* Vật chứng thu giữ: Tiền Việt Nam 3.160.000 đồng (do Trần Ngọc A là chồng của bị cáo Thúy H2 giao nộp; đã trả lại cho bà H1);

*Tại Bản án hình sự sơ thẩm số:39/2025/HS-ST ngày 15 tháng 4 năm 2025 của Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang đã quyết định:

3

Tuyên bố bị cáo Trương Thị Thúy H phạm tội “Cưỡng đoạt tài sản”.

Xử phạt: Bị cáo Trương Thị Thúy H 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 18/12/2024).

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

- Ngày 18/4/2025, bị cáo Trương Thị Thúy H kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt. Bị cáo cho rằng mức án ở cấp sơ thẩm xử bị cáo mức án cao, bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt để bị cáo về với gia đình chăm sóc cha mẹ già.

* Tại phiên tòa phúc thẩm: Bị cáo Trương Thị Thúy H vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo. Bị cáo Trương Thị Thúy H thừa nhận hành vi phạm tội của bị cáo như Tòa án cấp sơ thẩm đã xử đối với bị cáo.

* Kiểm sát viên phát biểu quan điểm giải quyết đối với vụ án và đề nghị:

- Về tố tụng: Bị cáo Trương Thị Thúy H có đơn kháng cáo trong thời hạn luật định, được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.

- Về nội dung: Toà án cấp sơ thẩm tuyên bố bị cáo Trương Thị Thúy H phạm tội “Cưỡng đoạt tài sản” xử phạt bị cáo 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù là có căn cứ. Bị cáo kháng cáo nhưng không cung cấp thêm chứng cứ hay tài liệu nào mới để xem xét cho kháng cáo của bị cáo. Mặc dù cấp sơ thẩm không áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo điểm b khoản 1 điều 51 là bồi thường khắc phục hậu quả là có thiếu sót. Tuy nhiên, mức án sơ tuyên của Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên đối với bị cáo là phù hợp với tính chất, mức độ hành vi nguy hiểm của hành vi phạm tội của bị cáo. Do đó, đề nghị HĐXX đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Bị cáo không tranh luận với đại diện Viện kiểm sát, nói lời sau cùng của bị cáo thể hiện thái độ ăn năn hối cải, xin Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hình thức: Đơn kháng cáo của bị cáo Trương Thị Thúy H làm trong thời hạn luật định, đơn hợp lệ nên được Hội đồng xét xử xem xét và giải quyết theo trình tự phúc thẩm.

[2] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng: Quá trình điều tra, truy tố, xét xử sơ thẩm đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm và phúc thẩm, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

4

[3] Về nội dung: Quá trình xét hỏi và tranh luận tại phiên tòa, bị cáo Trương Thị Thúy H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản án sơ thẩm. Lời nhận tội của bị cáo tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa là phù hợp với lời khai của người liên quan, người làm chứng, cùng các tang vật đã thu giữ, các tài liệu, chứng cứ khác được thu thập khách quan, đúng pháp luật có trong hồ sơ vụ án. Do đó, có đủ cơ sở khẳng định:

Khoảng 05 giờ ngày 12/5/2019, tại khu vực đường lên Miếu B Xứ N thuộc tổ B, khóm V, phường N, thành phố C, Trương Thị Thúy H đã có hành vi kê khống số tiền và lớn tiếng uy hiếp đối với bị hại, bị cáo H cùng người khác quanh để lấn áp tinh thần bà H1, buộc bà H1 phải trả đủ số tiền 4.880.000 đồng, cao hơn số tiền mà bà H1 đã thỏa thuận mua gạo, muối dùng để cúng Bà với bị cáo H lúc ban đầu, nhằm để chiếm đoạt số tiền 3.350.000 đồng của bà H1.

[4] Xét thấy, bị cáo Trương Thị Thúy H là người trên 18 tuổi, có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, biết rõ hành vi uy hiếp người khác để nhằm chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật, tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ nhưng bị cáo H nhưng vẫn cố ý thực hiện nhằm chiếm đoạt tài sản của người khác. Hành vi của bị cáo Trương Thị Thúy H đã phạm tội “Cưỡng đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 170 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017. Bản án sơ thẩm đã tuyên bố bị cáo Trương Thị Thúy H phạm tội “Cưỡng đoạt tài sản” là có căn cứ, đúng pháp luật.

[5] Xét yêu cầu kháng cáo của bị cáo:

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây mất trật tự trị an tại địa phương, làm cho quần chúng nhân dân lên án và bất bình, làm ảnh hưởng đến uy tín của địa phương nơi có khu du lịch tâm linh nên cần phải có mức án nghiêm để phòng ngừa tội phạm chung. Tuy nhiên, sau khi xảy ra sự việc bị cáo đã trả lại toàn bộ số tiền chiếm đoạt cho bị hại nhưng cấp sơ thẩm không áp dụng tình tiết điểm b khoản 1 điều 51 là bồi thường khắc phục hậu quả là có thiếu sót như quan điểm của đại diện Viện kiểm sát. Do đó, HĐXX phúc thẩm áp dụng thêm tình tiết điểm b khoản 1 điều 51 để giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt. Do đó kháng cáo xin giảm nhẹ của bị cáo, được HĐXX chấp nhận.

[5] Các quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

[6] Về án phí: Do kháng cáo được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên;

5

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

    Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trương Thị Thúy H, sửa Bản án hình sự sơ thẩm số: 39/2025/HS-ST ngày 15 tháng 4 năm 2025 của Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang đối với bị cáo Trương Thị Thúy H.

    Tuyên bố bị cáo Trương Thị Thúy H phạm tội “Cưỡng đoạt tài sản”.

    Áp dụng khoản 1 Điều 170; Điều 38; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017.

    Xử phạt: Bị cáo Trương Thị Thúy H 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù.

    Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 18/12/2024).

  2. Về án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Trương Thị Thúy H không phải án phí hình sự phúc thẩm.
  3. Các phần quyết định khác của bản án sơ thẩm về xử lý vật chứng, án phí hình sự sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị, có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang;
  • - Cơ quan THAHS - Công an tỉnh An Giang;
  • - Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an tỉnh An Giang;
  • - Sở Tư pháp tỉnh An Giang;
  • - Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc;
  • - Chi cục thi hành án dân sự thành phố Châu Đốc;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Hoàng Vũ

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 80/2025/HS-PT ngày 19/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG về hình sự phúc thẩm (cưỡng đoạt tài sản)

  • Số bản án: 80/2025/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm (Cưỡng đoạt tài sản)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 19/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trương Thị Thúy Hằng và đồng phạm
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger