|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số 80/2025/HNGĐ-ST Ngày 30 - 6 - 2025 V/v tranh chấp Hôn nhân và gia đình. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Hằng.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Thêu;
Bà Hoàng Thị Thu Hiền.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Thao - Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa:
Ông Phạm Thanh Phong – Kiểm sát viên
Ngày 30 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 68/2025/TLST-HNGĐ ngày 26 tháng 4 năm 2025 về việc “Tranh chấp hôn nhân gia đình”
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 121/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 13 tháng 6 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Phạm Thị T, sinh năm 1998
- HKTT: Xóm F, thôn M, xã V, huyện V, tỉnh Thái Bình
- Hiện nay chị T đang lao động tại Đài Loan
- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn T1, sinh năm 1987
- Địa chỉ: Xóm F, thôn M, xã V, huyện V, tỉnh Thái Bình
- (Các đương sự vắng mặt tại phiên toà)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện và bản tự khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn – chị Phạm Thị T trình bày:
- + Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Nguyễn Văn T1 tự nguyện tìm hiểu và đăng ký kết hôn vào ngày 12/7/2016 tại Ủy ban nhân dân xã V, huyện V, tỉnh Thái Bình. Thời gian đầu kết hôn vợ chồng chị chung sống hạnh phúc, hoà thuận. Đến năm 2019 giữa anh chị phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, tính cách không phù hợp dẫn đến thường xuyên xảy ra cãi vã, tình cảm rạn nứt. Sau đó chị đi lao động tại Đài Loan. Do vợ chồng sống xa nhau, không có thời gian quan tâm, chăm sóc lẫn nhau nên khoảng cách về tình cảm giữa anh chị ngày càng lớn. Hơn nữa, cũng do áp lực công việc và kinh tế gia đình nên mâu thuẫn giữa anh chị ngày càng nghiêm trọng. Nay chị xác định vợ chồng không còn tình cảm, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài nên đề nghị Toà án cho chị được ly hôn với anh T1.
- + Về con chung: Vợ chồng chị có hai con chung là cháu Nguyễn Nhật M, sinh ngày 11/6/2016 và cháu Nguyễn Huy C, sinh ngày 26/01/2018. Hiện tại hai cháu đang ở với anh T1. Ly hôn chị đề nghị Toà án giao cả hai con chung cho chị nuôi dưỡng. Chị không yêu cầu anh T1 cấp dưỡng nuôi con chung.
- + Về tài sản và nợ chung: Chị và anh T1 không có tài sản chung và nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Theo bản tự khai trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn – anh Nguyễn Văn T1 trình bày:
- + Về quan hệ hôn nhân: Anh và chị T tự nguyện tìm hiểu và đăng ký kết hôn ngày 12/7/2016 tại Ủy ban nhân dân xã V, huyện V, tỉnh Thái Bình đúng như chị T trình bày. Sau khi kết hôn vợ chồng anh chung sống hạnh phúc. Đến khoảng năm 2019 chị T đi lao động xuất khẩu tại Đài Loan. Khoảng ba năm đầu chị T vẫn liên lạc về với gia đình và các con. Ba năm trở lại đây, chị T chỉ liên lạc về nói chuyện với các con và không quan tâm tới anh. Ngày 14/4/2025 chị T được nghỉ phép về Việt Nam, anh và gia đình khuyên chị T về Việt Nam làm việc còn tiện chăm sóc con cái tuy nhiên chị T không đồng ý. Vì bất đồng quan điểm nên anh và chị T xảy ra cãi vã, chị T bỏ đi và không liên lạc về với anh và gia đình. Nay chị T xin ly hôn, anh vẫn mong muốn hoà giải để các con có gia đình trọn vẹn.
- + Về con chung: Vợ chồng anh có hai con chung là cháu Nguyễn Nhật M, sinh ngày 11/6/2016 và cháu Nguyễn Huy C, sinh ngày 26/01/2018. Hiện tại hai cháu đang ở với anh và bố mẹ đẻ anh. Nếu trong trường hợp ly hôn, anh đề nghị Toà án giao cả hai con chung cho anh nuôi dưỡng. Anh đề nghị chị T cấp dưỡng nuôi con chung là 2.000.000 đồng/con/tháng, tổng hai con là 4.000.000 đồng/tháng đến khi con chung đủ 18 tuổi.
Cháu Nguyễn Huy C và cháu Nguyễn Nhật M trình bày: Nếu bố mẹ ly hôn cả hai cháu có nguyện vọng được ở với bố T1.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình phát biểu ý kiến: Trong quá trình thụ lý và giải quyết vụ án, những người tiến hành tố tụng và nguyên đơn đã chấp hành đúng các quy định của pháp luật. Về nội dung, có đủ căn cứ để chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu đã thu thập có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử nhận định:
- Về thủ tục tố tụng:
- [1.1] Hiện tại chị T đang lao động tại Nhật Bản nên thẩm quyền giải quyết thuộc Toà án nhân dân tỉnh Thái Bình.
- [1.2] Anh T1 và chị T có đơn xin xét xử vắng mặt. Vì vậy, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt anh T1 và chị T là đúng quy định pháp luật.
- Về nội dung:
- [2.1] Về quan hệ hôn nhân: Chị T và anh T1 kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã V, huyện V, tỉnh Thái Bình là hôn nhân hợp pháp. Cả hai anh chị đều khẳng định cuộc sống hôn nhân của anh chị xảy ra nhiều mâu thuẫn. Việc anh chị không còn liên lạc, quan tâm đến cuộc sống của nhau; chị T xin nghỉ phép về Việt Nam nhưng sau đó bỏ đi không sống cùng anh T1 đã thấy rằng mâu thuẫn giữa anh chị đã trở nên trầm trọng. Như vậy khẳng định mâu thuẫn của anh chị đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được cần xử cho chị T được ly hôn với anh T1 là đúng quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.
- [2.2] Về nuôi con chung: Chị T và anh T1 có hai con chung là cháu Nguyễn Nhật M, sinh ngày 11/6/2016 và cháu Nguyễn Huy C, sinh ngày 26/01/2018. Hiện tại hai cháu đang ở với anh T1 và bố mẹ đẻ anh T1. Xét thấy, cả hai con chung sinh sống ổn định cùng anh T1 và ông bà nội từ khi còn nhỏ. Hai con được chăm sóc, yêu thương, được học tập và phát triển đầy đủ. Anh T1 có nguyện vọng được nuôi dưỡng cả hai con chung, cả hai con đều có nguyện vọng được ở với anh T1. Bên cạnh đó, hiện tại chị T đang lao động tại Đài Loan, không có điều kiện trực tiếp chăm sóc hai con chung. Vì vậy để đảm bảo cuộc sống sinh hoạt của con chung không bị xáo trộn, đảm bảo quyền lợi về mọi mặt cho con chung cần giao cả hai con chung cho anh T1 nuôi dưỡng.
- Về cấp dưỡng nuôi con chung: Anh T1 yêu cầu chị T cấp dưỡng nuôi con chung số tiền là 2.000.000 đồng/con/tháng đến khi con chung đủ 18 tuổi. Hội đồng xét xử nhận thấy đây là mức cấp dưỡng phù hợp, cần chấp nhận để đảm bảo quyền lợi của con chung.
- [2.3] Về chia tài sản chung và nợ chung: Chị T và anh T1 đều xác định anh chị không có tài sản chung và nợ chung nên Toà án không đặt ra giải quyết.
- [2.4] Về án phí: Chị T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm và án phí của người có nghĩa vụ cấp dưỡng theo quy định của pháp luật.
- [3] Xét ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên toà đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của chị Phạm Thị T. Hội đồng xét xử thấy, đề nghị của Kiểm sát viên có căn cứ, phù hợp pháp luật nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 56, Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 228, Điều 477, khoản 2 Điều 479 của Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 - Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý án phí, lệ phí Tòa án.
- Về hôn nhân: Xử cho chị Phạm Thị T được ly hôn với anh Nguyễn Văn T1
- Về nuôi con chung: Giao cho anh Nguyễn Văn T1 nuôi dưỡng cả hai con chung là cháu Nguyễn Nhật M, sinh ngày 11/6/2016 và cháu Nguyễn Huy C, sinh ngày 26/01/2018.
Chị T có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung số tiền là 2.000.000 đồng/con/tháng, tổng hai con chung là 4.000.000 đồng/tháng kể từ tháng 07 năm 2025 đến khi cả hai con chung đủ 18 tuổi.
Hai bên có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Hai bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con, yêu cầu cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
- Về chia tài sản chung và nợ chung: Không đặt ra giải quyết.
- Về án phí: Chị Phạm Thị T phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm. Chuyển 300.000 đồng chị T nộp tại biên lai 0000013 ngày 26/4/2025 tại Cục Thi hành án Dân sự tỉnh Thái Bình sang để thi hành án phí ly hôn sơ thẩm.
Chị Phạm Thị T phải chịu án phí của người có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung là 300.000 đồng.
- Về quyền kháng cáo: Chị Phạm Thị T có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày bản án được tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ. Anh Nguyễn Văn T1 có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Thị Kim Hằng |
Bản án số 80/2025/HNGĐ-ST ngày 30/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH về tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Số bản án: 80/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hôn nhân và gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Cho ly hôn
