TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 – VĨNH LONG Bản án số: 80/2025/HNGĐ-ST Ngày: 18-12-2025 V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 – VĨNH LONG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Hồng Đang
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Từ Xuân Tiếng
- Bà Bà Nguyễn Thị Phương Nga
Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thu Hiền – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 7 – Vĩnh Long.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 – Vĩnh Long tham gia phiên tòa: Võ Thị Minh Trang – Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 12 năm 2025, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân khu vực 7 – Vĩnh Long xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 94/2025/TLST–HNGĐ ngày 13 tháng 10 năm 2025 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 176/2025/QĐXXST - HNGĐ ngày 19 tháng 11 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên toà số: 132/2025/QÐST-HNGĐ ngày 08 tháng 12 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Thúy N, sinh năm: 1992. Địa chỉ: số A ấp P, xã G, tỉnh Vĩnh Long.
- Bị đơn: Ông Phan Thành T, sinh năm: 1985. Địa chỉ: số B ấp C, xã L, tỉnh Vĩnh Long.
Tại phiên tòa, bà N, ông T vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện và các lời khai tại bản tự khai, nguyên đơn là bà Nguyễn Thị Thúy N trình bày:
Về hôn nhân: bà và ông Phan Thành T cùng tự nguyện đăng ký kết hôn với nhau vào ngày 14/8/2012 theo giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 38/2012 Quyển số 01/2011 tại Ủy ban nhân dân xã A, huyện C, tỉnh Bến Tre (nay là Ủy ban nhân dân xã G, tỉnh Vĩnh Long). Thời gian đầu ông bà chung sống hạnh phúc. Tuy nhiên, đến đầu năm 2025 ông bà thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm trong cuộc sống, thường xuyên cự cãi dẫn đến mâu thuẫn ngày càng gay gắt. Bà và ông T đã ly thân từ đó đến nay. Nay bà xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích của cuộc hôn nhân không đạt được nên bà yêu cầu ly hôn với ông Phan Thành T.
Về con chung: bà và ông T có 03 con chung là Phan Tuấn K, sinh ngày 02/3/2013; Phan Thanh H, sinh ngày 26/10/2014 và Phan Ngọc Như Ý, sinh ngày 25/11/2017, hiện nay đang sống với bà N. Bà N yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu ông Phan Thành Trung cấp D nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: không có, không yêu cầu Toà án giải quyết.
Tại đơn yêu cầu giải quyết, xét xử ngày 08/12/2025 ông Phan Thành T trình bày:
Về hôn nhân: ông thống nhất ý kiến của bà N về thời gian chung sống, kết hôn. Trong quá trình chung sống vợ chồng cũng có mâu thuẫn do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, ông và bà N đã sống ly thân từ tháng 5/2024 đến nay. Nay theo yêu cầu ly hôn của bà N thì ông đồng ý ly hôn.
Về con chung: ông và bà N có 03 con chung là Phan Tuấn K, sinh ngày 02/3/2013; Phan Thanh H, sinh ngày 26/10/2014 và Phan Ngọc Như Ý, sinh ngày 25/11/2017. Hiện cả 03 con chung đang sống với bà N. Ông có nguyện vọng được nuôi con chung là Phan Thanh H. Tuy nhiên, hiện Thanh H đang học tại xã G do đang sống chung với bà N nên nếu giao Thanh H cho ông thì ít nhiều sẽ ảnh hưởng đến việc học của Thanh H. Do đó trong vụ án này ông đồng ý để bà N tiếp tục nuôi dưỡng cả 03 con chung. Ông không cấp dưỡng nuôi con do bà N không có yêu cầu. Trường hợp, sau này nếu ông có yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn thì ông sẽ khởi kiện để Toà án xem xét yêu cầu của ông.
Về tài sản chung, nợ chung: không có.
Do bận công việc nên ông không thể đến Tòa án tham gia giải quyết vụ án nên đề nghị Tòa án tiến hành giải quyết, xét xử vụ án vắng mặt ông.
Kiểm sát viên Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 – Vĩnh Long phát biểu quan điểm:
1. Về tố tụng:
Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán đã tiến hành các thủ tục tố tụng đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử, Thư ký thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về việc xét xử sơ thẩm vụ án.
Nguyên đơn thực hiện đúng quy định tại các điều 70, 71 của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn không tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải nên chưa thực hiện đúng quy định tại các điều 70, 72 của Bộ luật tố tụng dân sự.
2. Về nội dung: Căn cứ Điều 56, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Đề nghị Hội đồng xét xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thúy N:
- Về hôn nhân: bà Nguyễn Thị Thúy N được ly hôn với ông Phan Thành T.
- Về con chung:
Giao 03 con chung là Phan Tuấn K, sinh ngày 02/3/2013, Phan Thanh H, sinh ngày 26/10/2014 và Phan Ngọc Như Ý, sinh ngày 25/11/2017 cho bà Nguyễn Thị Thúy N trực tiếp trông nôm, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi đủ 18 tuổi.
Về cấp dưỡng nuôi con: ghi nhận bà Nguyễn Thị Thúy N không yêu cầu ông Phan Thành Trung cấp D nuôi con.
Về tài sản chung; nợ chung: bà N và ông T khai không có nên không xem xét giải quyết.
Về án phí hôn hân và gia đình: bà Nguyễn Thị Thúy N phải chịu.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: bà Nguyễn Thị Thúy N và ông Phan Thành T vắng mặt tại phiên tòa nhưng có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt. Do đó, theo quy định tại khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bà N và ông T.
[2] Về nội dung vụ án:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: bà N và ông T chung sống trên tinh thần tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại tại Ủy ban nhân dân xã A, huyện C, tỉnh Bến Tre (nay là Ủy ban nhân dân xã G, tỉnh Vĩnh Long) vào ngày 14/8/2012 nên quan hệ hôn nhân của ông, bà được coi là hợp pháp, được pháp luật bảo vệ. Bà N và ông T đều thừa nhận trong quá trình chung sống, ông bà sống có hạnh phúc được thời gian đầu, sau đó thì xảy ra mâu thuẫn và đã sống ly thân với nhau.
Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình quy định: “1. Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình”.
Hội đồng xét xử xét thấy, thời điểm bà N và ông T còn chung sống thì giữa hai bên đã xảy ra những mâu thuẫn. Tuy nhiên, bà N và ông T không có biện pháp để hàn gắn tình cảm vợ chồng, hôn nhân không hạnh phúc. Mặc khác, hiện bà N và ông T đã sống ly thân với nhau, ông bà không còn quan tâm chăm sóc nhau như vợ chồng, không có thời gian đoàn tụ. Điều này chứng tỏ, tình trạng hôn nhân của bà N và ông T đã trầm trọng, đời sống chung của vợ chồng không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Ông T cũng đồng ý với yêu cầu ly hôn của bà N. Do đó, yêu cầu xin ly hôn của bà N là có căn cứ và phù hợp với Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[2.2] Về con chung: bà N và ông T có 03 con chung là Phan Tuấn K, sinh ngày 02/3/2013, Phan Thanh H, sinh ngày 26/10/2014 và Phan Ngọc Như Ý, sinh ngày 25/11/2017. Xét thấy: từ khi bà N và ông T sống ly thân cho đến nay, bà N là người trực tiếp nuôi dưỡng cả 03 con chung, bà N vẫn đảm bảo tốt quyền và lợi ích của con chung. Trong vụ án này, ông T cũng đồng ý để bà N tiếp tục nuôi 03 con chung. Do đó, để đảm bảo sự ổn định trong cuộc sống của con chung nên giao con chung cho bà N được tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp.
Về việc cấp dưỡng nuôi con: theo quy định tại Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình thì sau khi ly hôn “Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con”. Tuy nhiên, bà N không yêu cầu ông Trung cấp D nuôi con, xét thấy đây là sự tự nguyện của bà N, không trái với quy định pháp luật nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
[2.3] Về tài sản chung và nợ chung: bà N và ông T khai không có nên không yêu cầu giải quyết.
[2.4] Về án phí: bà N phải chịu án phí hôn nhân và gia đình là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng.
[3] Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 – Vĩnh Long phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 56, 57, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Thúy N. Bà Nguyễn Thị Thúy N được ly hôn với ông Phan Thành T.
- Về con chung: ghi nhận bà Nguyễn Thị Thúy N và ông Phan Thành T có 03 con chung là Phan Tuấn K, sinh ngày 02/3/2013, Phan Thanh H, sinh ngày 26/10/2014 và Phan Ngọc Như Ý, sinh ngày 25/11/2017.
Giao cả 03 con chung cho bà Nguyễn Thị Thúy N được tiếp tục trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi con chung đủ 18 tuổi.
Ghi nhận việc bà Nguyễn Thị Thúy N không yêu cầu ông Phan Thành Trung cấp D nuôi con.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
Vì lợi ích của con, một hoặc cả hai bên có quyền yêu cầu Tòa án quyết định việc cấp dưỡng cho con.
Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.
- Về tài sản chung nợ chung: không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm: bà Nguyễn Thị Thúy N phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo biên lai thu số 0004526 ngày 07 tháng 10 năm 2025 của Thi hành án dân sự tỉnh V; bà N đã nộp đủ án phí.
Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo đối với bản án này để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long xét xử phúc thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trang 5
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Hồng Đang |
Bản án số 80/2025/HNGĐ-ST ngày 18/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 – VĨNH LONG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 80/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/12/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 – VĨNH LONG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
