Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN THUẬN CHÂU

TỈNH SƠN LA

Bản án số: 80/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 17-6-2025

V/v: Ly hôn, nuôi con chung

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TC, TỈNH SƠN LA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nông Văn Thịnh.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Ngọc Thiệp, bà Lý Thị Vinh.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lan Phượng - Thư ký Toà án nhân dân huyện TC, tỉnh Sơn La.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện TC, tỉnh Sơn La tham gia phiên tòa: Bà Trương Thị Khánh Linh - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện TC, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 128/2025/TLST-HNGĐ ngày 17-02-2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 92/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 26-5-2025, Quyết định hoãn phiên tòa số: 110/2025/QÐST-HNGĐ ngày 11-6-2025, Quyết định hoãn phiên tòa số: 115/2025/QÐST-HNGĐ ngày 16-6-2025; giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Chị Bạc Thị L, sinh năm 1997. (Vắng mặt)

    Địa chỉ cư trú: Bản NC, xã MB, huyện TC, tỉnh Sơn La.

  2. Bị đơn: Anh Lò Văn C, sinh năm 1988. (Vắng mặt)

    Địa chỉ cư trú: Bản NC, xã MB, huyện TC, tỉnh Sơn La.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện, bản tự khai và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Bạc Thị L trình bày:

Về hôn nhân: Chị Bạc Thị L và anh Lò Văn C kết hôn với nhau có đăng ký kết hôn ngày 27/7/2015 tại Ủy ban nhân dân xã MB, huyện TC, tỉnh Sơn La, kết hôn trên cơ sở tự nguyện không bị ai ép buộc. Vợ chồng chung sống với nhau được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, thường xuyên xảy ra cãi vã, không tìm được tiếng nói chung, mâu thuẫn kéo dài, hai bên gia đình đã hòa giải không thành, mục đích hôn nhân không đạt được. Vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2019, không ai quan tâm đến cuộc sống của ai. Nay chị L xác định tình cảm vợ chồng không còn, chị yêu cầu giải quyết ly hôn với anh Lò Văn C.

Về con chung: Chị Bạc Thị L và anh Lò Văn C có 02 con chung là cháu Lò Thị L, sinh ngày 23/8/2013 và cháu Lò Thanh T, sinh ngày 23/9/2015. Trong thời gian vợ chồng sống ly thân, cháu Lò Thị L ở với chị L, còn cháu Lò Thanh T ở với anh C.

Chị L đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu Lò Thị L và giao cháu Lò Thanh T cho anh Lò Văn C được trực tiêp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục.

Về cấp dưỡng nuôi con: Không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Trong bản tự khai và các chứng cứ có trong hồ sơ, bị đơn anh Lò Văn C trình bày như sau:

Về hôn nhân: Anh Lò Văn C và chị Bạc Thị L kết hôn hợp pháp, chung sống với nhau không có mâu thuẫn gì. Chị Bạc Thị L tự ý bỏ đi không về nhà chồng từ năm 2019, hai bên gia đình đã hòa giải cho vợ chồng nhưng chị L không nghe. Vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2019 đến nay. Anh C xác định tình cảm vợ chồng vẫn còn nên anh không nhất trí ly hôn với chị Bạc Thị L.

Về con chung: Anh Lò Văn C và chị Bạc Thị L có 02 con chung là cháu Lò Thị L, sinh ngày 23/8/2013 và cháu Lò Thanh T, sinh ngày 23/9/2015. Trong thời gian vợ chồng sống ly thân, cháu Lò Thị L ở với chị L, còn cháu Lò Thanh T ở với anh C.

Anh C đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu Lò Thanh T và giao cháu Lò Thị L cho chị Bạc Thị L được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục.

Về cấp dưỡng nuôi con: Không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Căn cứ khoản 3 Điều 208 Bộ luật Tố tụng dân sự, Toà án tiến hành xác minh nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn vợ chồng và điều kiện nuôi con tại địa chỉ nơi cư trú của các đương sự:

Kết quả xác minh tại chính quyền địa phương ngày 23/4/2025 xác định: Anh Lò Văn C và chị Bạc Thị L kết hôn hợp pháp, chung sống với nhau tại bản NC, xã MB, huyện TC, tỉnh Sơn La. Quá trình chung sống phát sinh mâu thuẫn gia đình nên đã sống ly thân từ lâu, nguyên nhân mâu thuẫn không nắm rõ. Chị L và anh C có 02 con chung: Cháu Lò Thanh T đang ở với anh C, còn cháu Lò Thị L đang ở với chị L từ khi vợ chồng sống ly thân đến nay. Anh C, chị L đều có khả năng và điều kiện nuôi con.

Ý kiến của cháu Lò Thị L, sinh ngày 23/8/2013 (Biên bản ghi ý kiến ngày 05/5/2025): Cháu Lò Thị L có nguyện vọng muốn tiếp tục ở với chị Bạc Thị L.

Ý kiến của cháu Lò Thanh T, sinh ngày 23/9/2015 (Biên bản ghi ý kiến ngày 05/5/2025): Cháu Lò Thanh T có nguyện vọng muốn tiếp tục ở với anh Lò Văn C.

Quá trình giải quyết vụ án, các đương sự không cung cấp thêm chứng cứ cho Tòa án, không có ý kiến gì về các chứng cứ do các đương sự khác xuất trình và không yêu cầu triệu tập đương sự khác, người tham gia tố tụng khác.

Chị Bạc Thị L có đơn đề nghị xét xử vắng mặt với nội dung: Chị L giữ nguyên ý kiến như trình bày trong đơn khởi kiện, bản tự khai và yêu cầu miễn án phí.

Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện TC phát biểu ý kiến:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa: Thẩm phán đã thực hiện các thủ tục tố tụng theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, thụ lý vụ án đúng thẩm quyền, xác định đúng quan hệ pháp luật, xác định đúng đầy đủ tư cách tham gia tố tụng, tiến hành thu thập tài liệu, chứng cứ đúng quy định, đảm bảo đúng thời hạn, tống đạt đầy đủ hợp lệ các văn bản tố tụng cho đương sự. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử tham gia đúng thành phần trong quyết định đưa vụ án ra xét xử, các trình tự của phiên tòa diễn ra theo đúng quy định của pháp luật, Thư ký phiên tòa thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng: Nguyên đơn đã thực hiện đúng các quy định tại Điều 70, Điều 71 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn thực hiện không đầy đủ quy định tại Điều 70, Điều 72 Bộ luật Tố tụng dân sự. Việc Tòa án mở phiên tòa xét xử vụ án vắng mặt nguyên đơn, bị đơn là đúng quy định pháp luật tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về việc giải quyết vụ án: Áp dụng Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị Quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016. Viện kiểm sát đề nghị:

Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Bạc Thị L được ly hôn với anh Lò Văn C.

Về con chung: Giao cháu Lò Thị L, sinh ngày 23/8/2013 cho chị Bạc Thị L trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Giao cháu Lò Thanh T, sinh ngày 23/9/2015 cho anh Lò Văn C trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Chị Bạc Thị L và anh Lò Văn C không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về án phí: Miễn án phí dân sự sơ thẩm cho chị Bạc Thị L theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Nguyên đơn chị Bạc Thị L yêu cầu ly hôn với bị đơn anh Lò Văn C có địa chỉ nơi cư trú tại bản NC, xã MB, huyện TC, tỉnh Sơn La. Tòa án nhân dân huyện TC, tỉnh Sơn La thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền, theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Nguyên đơn chị Bạc Thị L vắng mặt tại phiên tòa có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt nguyên đơn.

Bị đơn anh Lò Văn C đã được Tòa án triệu tập tống đạt hợp lệ lần thứ ba vắng mặt tại phiên tòa. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bị đơn.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Bạc Thị L và anh Lò Văn C kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, không ai bị ép buộc, được Ủy ban nhân dân xã MB, huyện TC, tỉnh Sơn La cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn theo quy định. Do đó, chị L và anh C là vợ chồng hợp pháp. Sau khi kết hôn, vợ chồng chị L, anh C chung sống với nhau được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, thường xuyên xảy ra cãi vã, không tìm được tiếng nói chung, mâu thuẫn kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Hai bên gia đình đã hòa giải cho vợ chồng nhưng không thể hàn gắn. Anh C và chị L đã sống ly thân từ năm 2019 đến nay, không ai quan tâm đến cuộc sống của ai. Tình cảm vợ chồng không còn, chị L yêu cầu ly hôn với anh Lò Văn C. Anh C xác định còn tình cảm vợ chồng nên không nhất trí ly hôn với chị Bạc Thị L.

Trên cơ sở xem xét các tài liệu, chứng cứ, bản tự khai của đương sự và tại phiên tòa cho thấy cuộc sống chung vợ chồng của chị L và anh C không hạnh phúc, mâu thuẫn kéo dài, nguyên nhân do mâu thuẫn gia đình, vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không tìm được tiếng nói chung, vợ chồng đã được hai bên gia đình hòa giải nhưng không thành, đã sống ly thân được một thời gian dài không ai quan tâm đến cuộc sống của ai dẫn đến tình cảm vợ chồng xa cách, hôn nhân gia đình trở nên bế tắc.

Từ các căn cứ nêu trên cho thấy mâu thuẫn của vợ chồng chị L và anh C đã thực sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ Điều 51, Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, xử cho chị Bạc Thị L ly hôn với anh Lò Văn C.

[3] Về con chung: Chị Bạc Thị L và anh Lò Văn C có 02 con chung: Cháu Lò Thị L, sinh ngày 23/8/2013 và cháu Lò Thanh T, sinh ngày 23/9/2015. Trong thời gian vợ chồng sống ly thân, cháu Lò Thị L ở với chị L, còn cháu Lò Thanh T ở với anh C.

Chị Bạc Thị L đề nghị trực tiếp nuôi dưỡng cháu Lò Thị L và giao cháu Lò Thanh T cho anh Lò Văn C được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc. Anh Lò Văn C nhất trí với ý kiến của chị Bạc Thị L.

Ý kiến của cháu Lò Thị L muốn ở với chị Bạc Thị L. Ý kiến của cháu Lò Thanh T muốn ở với anh Lò Văn C.

Hội đồng xét xử xét thấy: Ý kiến của cháu Lò Thị L và cháu Lò Thanh T có nguyện vọng đồng nhất với ý kiến của anh Lò Văn C và chị Bạc Thị L. Anh C, chị L đều có nơi ở ổn định, có công việc và thu nhập. Trong thời gian vợ chồng sống ly thân, chị L và anh C đều đảm bảo được điều kiện nuôi dưỡng các cháu về mọi mặt. Do đó cần chấp nhận ý kiến của các đương sự, giao cháu Lò Thị L cho chị Bạc Thị L và giao cháu Lò Thanh T cho anh Lò Văn C trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con.

Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Bạc Thị L, anh Lò Văn C không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

[4] Về tài sản chung, nợ chung: Chị Bạc Thị L và anh Lò Văn C xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết, trường hợp sau khi giải quyết ly hôn có phát sinh tranh chấp và có người yêu cầu, sẽ được giải quyết bằng vụ án khác.

[5] Về án phí: Nguyên đơn chị Bạc Thị L là người dân tộc thiểu số cư trú ở xã có điều kiện – kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn và có yêu cầu miễn án phí. Do đó, miễn toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch cho chị Bạc Thị L. Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 và khoản 6 Điều 15 Nghị Quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 và khoản 3 Điều 228, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 và khoản 6 Điều 15 Nghị Quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016. Tuyên xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Bạc Thị L được ly hôn với anh Lò Văn C.
  2. Về con chung: Giao cháu Lò Thị L, sinh ngày 23/8/2013 cho chị Bạc Thị L trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng; giao cháu Lò Thanh T, sinh ngày 23/9/2015 cho anh Lò Văn C trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con đến tuổi trưởng thành (đủ 18 tuổi và có khả năng lao động) hoặc đến khi có quyết định khác của cơ quan có thẩm quyền.

    Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Bạc Thị L và anh Lò Văn C không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

  3. Sau khi ly hôn người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom con, không ai được cản trở người đó thực hiện quyền này, không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con theo quy định tại Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
  4. Về tài sản chung, nợ chung: Chị Bạc Thị L và anh Lò Văn C xác định không có, không yêu cầu Toà án giải quyết. Do đó không xem xét giải quyết trong vụ án. Trường hợp sau khi giải quyết ly hôn có phát sinh tranh chấp và có người yêu cầu, sẽ được giải quyết bằng vụ án khác.
  5. Về án phí: Miễn toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch cho chị Bạc Thị L.
  6. Về quyền kháng cáo: Chị Bạc Thị L, anh Lò Văn C được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Sơn La;
  • - VKSND huyện TC (2);
  • - Chi cục THADS huyện TC;
  • - UBND xã MB, huyện TC, tỉnh Sơn La;
  • - Đương sự;
  • - Lưu hồ sơ, lưu án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Nông Văn Thịnh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 80/2025/HNGĐ-ST ngày 17/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THUẬN CHÂU, TỈNH SƠN LA về ly hôn, nuôi con chung

  • Số bản án: 80/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, nuôi con chung
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THUẬN CHÂU, TỈNH SƠN LA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: giải quyết ly hôn, nuôi con chung
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger