|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH TÂY NINH Bản án số: 80/2025/HNGĐ-ST Ngày: 17-6-2025 V/v “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh Phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Võ Hồng Thảo Nguyên.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lâm Văn Be;
Ông Lê Văn Lài.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hà - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Ông Võ Minh Mẫn - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 25/2025/TLST-HNGĐ ngày 14 tháng 01 năm 2025 về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 66/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 05 tháng 5 năm 2025 và quyết định hoãn phiên toà số 53/2025/QĐST-HNGĐ ngày 30 tháng 5 năm 2025 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Phạm Thị Kim S, sinh năm 1989; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: ấp G, xã B, thành phố T, tỉnh Tây Ninh. Nơi cư trú hiện tại: ấp S, xã T, huyện C, tỉnh Tây Ninh; có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
Bị đơn: Anh Nguyễn Văn H, sinh năm 1990; nơi cư trú: ấp B, xã N, huyện C, tỉnh Tây Ninh; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 08-01-2025 và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn, chị Phạm Thị Kim S trình bày:
Chị và anh Nguyễn Văn H chung sống với nhau 2010 và có đăng ký kết hôn vào ngày 20-11-2019 tại Ủy ban nhân dân xã B, thành phố T, tỉnh Tây Ninh. Chị và anh H chung sống đến 2024 thì xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân do anh H có người phụ nữ khác bên ngoài nên không quan tâm không lo lắng cho vợ con, thường xuyên bỏ nhà đi đâu không rõ, chị hỏi thì anh H nói anh đi về bên nhà cha mẹ ruột tại ấp B, xã N, huyện C, tỉnh Tây Ninh. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, hôn nhân không có hạnh phúc nên chị yêu cầu Toà án giải quyết cho chị được ly hôn với anh H.
Về con chung: Anh chị có 02 con chung tên Nguyễn Minh L, sinh ngày 14-3-2020 và Nguyễn Bích T, sinh ngày 14-3-2022. Chị yêu cầu được nuôi dưỡng hai con chung, không yêu cầu anh Hạ cấp D nuôi con.
Về tài sản chung: Không yêu cầu giải quyết.
Về nợ chung: Không có nên không yêu cầu giải quyết.
Từ khi thụ lý vụ án Tòa án nhiều lần triệu tập anh Nguyễn Văn H đến để giải quyết vụ án nhưng anh H vắng mặt không rõ lý do, không nộp cho Tòa án văn bản ghi ý kiến của mình đối với yêu cầu của nguyên đơn và tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án:
- Về tố tụng: Thẩm phán và Hội đồng xét xử tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự từ giai đoạn thụ lý đến khi giải quyết vụ án. Các đương sự chấp hành đầy đủ các quy định pháp luật trong quá trình tham gia tố tụng.
- Về nội dung: Căn cứ Điều 9, 51, 56 và Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; đề nghị Hội đồng xét xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của chị Phạm Thị Kim S với anh Nguyễn Văn H; giao cháu Nguyễn Minh L, sinh ngày 14-3-2020 và Nguyễn Thị Bích T, sinh ngày 14-3-2022 cho chị S nuôi dưỡng; ghi nhận chị S không yêu cầu anh Hạ cấp D nuôi con; về tài sản chung: Không yêu cầu giải quyết nên không xem xét giải quyết; về nợ chung: Đương sự trình bày không có nên không đặt ra để giải quyết; về án phí: Chị S phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Chị S là nguyên đơn vắng mặt tại phiên tòa có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt; anh H là bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa lần 2 không rõ lý do, Hội đồng xét xử áp dụng khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng chị S và anh H.
[2] Xét yêu cầu khởi kiện của chị S:
[2.1] Về hôn nhân: Chị và anh Nguyễn Văn H chung sống với nhau 2010 và có đăng ký kết hôn vào ngày 20-11-2019 tại Ủy ban nhân dân xã B, thành phố T, tỉnh Tây Ninh nên quan hệ hôn nhân của anh chị là hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ. Theo chị S, quá trình chung sống đến năm 2024 thì xảy ra mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, không hợp nhau, anh H có người phụ nữ khác, không quan tâm lo lắng cho vợ con thường xuyên bỏ nhà đi lâu lâu về một lần. Nay nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, hôn nhân không hạnh phúc nên chị S khởi kiện yêu cầu ly hôn với anh H.
Anh H mặc dù đã được Tòa án triệu tập và tống đạt các văn bản tố tụng hợp lệ nhưng không đến Tòa án, không gửi văn bản trình bày ý kiến nên không có ý kiến trình bày.
Xét thấy, chị S và anh H đã không còn chung sống với nhau, giữa vợ chồng không còn yêu thương, quan tâm đến nhau, do vậy tình trạng hôn nhân của anh chị đã đến mức trầm trọng, không thể khắc phục được, đời sống chung thực tế không còn, mục đích hôn nhân không đạt được. Trong quá trình giải quyết vụ án, anh H không đến Tòa án làm việc và hòa giải, không trình bày quan điểm thể hiện anh H không có mong muốn đoàn tụ, không có nguyện vọng giải quyết mâu thuẫn vợ chồng. Như vậy, có căn cứ về việc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị S.
[2.2] Về con chung: Cả hai có 02 con chung tên Nguyễn Minh L, sinh ngày 14-3-2020 và Nguyễn Bích T, sinh ngày 14-3-2022. Chị S yêu cầu được nuôi dưỡng hai con chung, không yêu cầu anh Hạ cấp D nuôi con.
Xét thấy, chị S yêu cầu nuôi con, anh H được triệu tập hợp lệ nhưng không đến Tòa án để trình bày nguyện vọng, từ bỏ quyền lợi của mình nên cần giao con chung cho chị S nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục; ghi nhận chị S không yêu cầu anh Hạ cấp D nuôi con.
[2.3] Về tài sản chung: Chị S không yêu cầu giải quyết, nên Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết.
[2.4] Về nợ chung: Chị S khai không có nợ chung nên Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết.
[3] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành là có căn cứ và phù hợp với quy định pháp luật nên chấp nhận.
[4] Về án phí: Căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, chị S là nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 9, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Khoản 4 Điều 147, Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
-
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Phạm Thị Kim S đối với anh Nguyễn Văn H về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”.
Chị Phạm Thị Kim S được ly hôn với anh Nguyễn Văn H. -
Về con chung: Giao cháu Nguyễn Minh L, sinh ngày 14-3-2020 và Nguyễn Bích T, sinh ngày 14-3-2022 cho chị S trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi con chung đủ 18 tuổi. Ghi nhận chị S không yêu cầu anh Hạ cấp D nuôi con chung.
Sau khi ly hôn anh Nguyễn Văn H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở. - Về tài sản chung: Chị Phạm Thị Kim S không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về nợ chung: Chị Phạm Thị Kim S khai không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về án phí: Chị Phạm Thị Kim S phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng, nhưng được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo biên lai thu số 0010345 ngày 14 tháng 01 năm 2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh. Ghi nhận đã nộp xong.
Đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Võ Hồng Thảo Nguyên |
Bản án số 80/2025/HNGĐ-ST ngày 17/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH TÂY NINH về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 80/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH TÂY NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phạm Thị Kim S và Nguyễn Văn H
