Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 12 - HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 80/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 11/11/2025

V/v: Tranh chấp ly hôn

----------

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12 - HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Việt Cường.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Quốc Mạnh.

Ông Đỗ Ngọc Anh.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Vinh – Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân khu vực 12 - Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 12 - Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Mạnh Hùng – Kiểm sát viên.

Trong ngày 11 tháng 11 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 12 - Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 223/2025/TLST-HNGĐ ngày 02 tháng 10 năm 2025 về việc: “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 89/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 31 tháng 10 năm 2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị T, sinh ngày 23/3/1999.

Số Căn cước công dân: [...].

Nơi đăng ký thường trú: ấp L, xã A, tỉnh Cà Mau (Địa chỉ cũ: Lung Lá, xã A, huyện Đ, tỉnh Bạc Liêu).

- Bị đơn: Anh Nguyễn Cự V, sinh ngày 06/6/1999.

Số Căn cước công dân: [...].

Nơi đăng ký thường trú: Xóm E, thôn Đ, xã H, thành phố Hà Nội (Địa chỉ cũ: Xóm E, thôn Đ, xã H, huyện Ứ, thành phố Hà Nội). Hiện anh Nguyễn Cự V đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 2 – Công an thành phố H.

(Nguyên đơn và bị đơn vắng mặt đều có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Trong đơn khởi kiện, các lời khai trong quá trình giải quyết nguyên đơn chị Nguyễn Thị T trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Nguyễn Cự V tự nguyện đăng ký kết hôn ngày 30/5/2023 tại UBND phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương (nay là phường P, thành phố Hồ Chí Minh). Vợ chồng chung sống hạnh phúc thời gian ngắn thì thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng tính tình không hòa hợp, bất đồng trong quan điểm, lối sống, anh V ham chơi, không tu chí làm ăn, có hành vi vi phạm pháp luật và hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 2 – Công an thành phố H. Chị đã nhiều lần khuyên bảo anh V nhưng không có kết quả. Vợ chồng đã ly thân, chị đã chuyển ra ngoài sinh sống từ lâu, vợ chồng không ai quan tâm đến ai. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng đã mâu thuẫn trầm trọng, không thể đoàn tụ được nữa, chị xin ly hôn anh Nguyễn Cự V.

- Về con chung: Chị trình bày vợ chồng không có con chung.

- Về tài sản chung và nợ chung: Chị trình bày không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại Bản tự khai và Đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn anh Nguyễn Cự V trình bày:

- Về hôn nhân: Anh và chị Nguyễn Thị T lấy nhau tự nguyện và có đăng ký kết hôn ngày 30/5/2023 tại UBND phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương (nay là phường P, thành phố Hồ Chí Minh). Sau khi kết hôn vợ chồng anh sống và làm ăn tại Bình Dương. Trong quá trình chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng không hợp nhau và làm ăn kinh tế không thuận lợi. Vợ chồng ly thân và không có quan tâm, chăm sóc nhau nữa. Nay chị T có đơn xin ly hôn, anh xác định tình cảm vợ chồng không còn nên anh đồng ý với yêu cầu xin ly hôn của chị T. Do anh đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 2 – Công an thành phố H nên đề nghị Toà án xét xử vắng mặt anh.

- Về con chung: Anh trình bày vợ chồng không có con chung.

- Về tài sản chung và công nợ chung: Anh trình bày không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt.

Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa:

- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân khu vực 12 - Hà Nội (Thẩm phán, Thư ký tòa án) đã thụ lý, thu thập chứng cứ và đưa vụ án ra xét xử theo đúng trình tự, thủ tục và thẩm quyền. Nguyên đơn, bị đơn đã chấp hành đầy đủ quy định của pháp luật có liên quan trong việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình. Tại phiên tòa hôn nay, nguyên đơn, bị đơn vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt nên đề nghị Tòa án tiến hành giải quyết vắng mặt nguyên đơn, bị đơn theo quy định tại khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị áp dụng Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình 2014:

  • Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị T, xử cho chị Nguyễn Thị T được ly hôn anh Nguyễn Cự V.
  • Về con chung: Không có.
  • Tài sản chung và nợ chung: Các đương sự trình bày không có và không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.

- Về án phí: Chị Nguyễn Thị T phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về tố tụng:

Chị Nguyễn Thị T khởi kiện yêu cầu xin ly hôn anh Nguyễn Cự V nên thuộc tranh chấp về Ly hôn theo quy định khoản 1 Điều 28 và điểm a khoản 1 Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn anh Nguyễn Cự V có đăng ký thường trú tại: Xóm E, thôn Đ, xã H, thành phố Hà Nội nên thuộc thẩm quyền thụ lý và giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 12 - Hà Nội theo quy định điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Tại phiên tòa, nguyên đơn, bị đơn vắng mặt và đều có đơn xin xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử quyết định áp dụng khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự của Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn theo thủ tục chung.

[2]. Về nội dung:

[2.1]. Về quan hệ hôn nhân:

Chị Nguyễn Thị T và anh Nguyễn Cự V được xây dựng trên cơ sở tìm hiểu tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại UBND phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương (nay là phường P, thành phố Hồ Chí Minh) vào ngày 30/5/2023 nên là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống giữa anh chị phát sinh nhiều mâu thuẫn, không có hạnh phúc và đã sống ly thân, mỗi người một nơi, không còn quan tâm chăm sóc đến nhau, sau đó anh Nguyễn Cự V vi phạm pháp luật nên bị tạm giam nên chị T xin ly hôn. Trong quá trình giải quyết vụ án, chị T và anh V đều có văn bản thể hiện quan điểm xác định tình cảm vợ chồng không còn và đề nghị tòa án xét xử vắng mặt cho anh chị được ly hôn. Xét thấy, các quyền và nghĩa vụ của vợ, chồng trong quan hệ hôn nhân giữa chị T và anh V đã bị vi phạm nghiêm trọng, mâu thuẫn đã trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, hiện nay sống ly thân. Do vậy, yêu cầu xin ly hôn của chị T và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 12 - Hà Nội là có căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân gia đình năm 2014 nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[2.2]. Về con chung: Không có.

[2.3]. Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự trình bày không có, không đề nghị giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[3]. Về án phí: Nguyên đơn phải nộp án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[4]. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 228; Điều 235; Điều 266; Điều 271; khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Áp dụng Điều 51, Điều 53, Điều 54, Điều 56 và Điều 57 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

Căn cứ Giấy chứng nhận kết hôn số 56 do UBND phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương (nay là phường P, thành phố Hồ Chí Minh) cấp ngày 30/5/2023;

Xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận đơn yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Thị T đối với anh Nguyễn Cự V. Xử chị Nguyễn Thị T được ly hôn anh Nguyễn Cự V.
  2. Về con chung: Không có.
  3. Về tài sản chung và nợ chung: Không xem xét giải quyết.
  4. Về án phí: Chị Nguyễn Thị T phải nộp 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ 300.000 đồng đã nộp tạm ứng án phí theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0009874 ngày 02/10/2025 tại Phòng thi hành án dân sự khu vực 12 - Hà Nội.
  5. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn chị Nguyễn Thị T, bị đơn anh Nguyễn Cự V vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - TAND TP. Hà Nội;
  • - VKSND khu vực 12 - Hà Nội;
  • - Phòng THADS khu vực 12 - Hà Nội;
  • - UBND phường Phú Lợi, TP Hồ Chí Minh;
  • - Đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Việt Cường

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 80/2025/HNGĐ-ST ngày 11/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12 - HÀ NỘI về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 80/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 11/11/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12 - HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp ly hôn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger