Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 80/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 07-11-2025

V/v tranh chấp về hôn nhân và

gia đình về ly hôn.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Hữu Tính.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Tưởng;

2. Bà Dương Thị Lệ.

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Thái Toàn - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp.

Đại diện Viện kiểm sát tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Bà Mai Thị Đào Quyên – Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 11 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 01/2025/TLST-HNGĐ ngày 07 tháng 01 năm 2025 về “Tranh chấp hôn nhân và gia đình về ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 23/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 08 tháng 9 năm 2025, Quyết định hoãn phiên tòa số 138A/2025/QĐST-HNGĐ ngày 10 tháng 7 năm 2025, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Trương Mỹ Y, sinh năm 1996;

Địa chỉ: Ấp D, xã M, tỉnh Đồng Tháp;

2. Bị đơn: Anh H, S - F, sinh năm 1983; Quốc tịch: Đài Loan;

Địa chỉ: Số E, đường T, Khóm B, thôn V, làng L, huyện B, Đài Loan.

(Nguyên đơn có mặt, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa.)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, nguyên đơn chị Trịnh Mỹ Y1 trình bày:

Chị Y1 và ông H, S – Feng sống chung năm 2024, có đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn 37/2024 ngày 09 tháng 12 năm 2024 tại Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh Tiền Giang (nay là Ủy ban nhân dân xã M, tỉnh Đồng Tháp). Quá trình chung sống phát sinh mâu thuẫn, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc, vợ chồng thường hay gây gổ do tính cách không hòa hợp nên ông H, S – Feng trở về Đài Loan, vợ chồng không còn sống chung từ đó đến nay. Nhận thấy, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, do đó chị Trương Mỹ Y yêu cầu Tòa án giải quyết:

  • - Về quan hệ hôn nhân: Chị Trương Mỹ Y yêu cầu được ly hôn với anh H, S – F.
  • - Về con chung: Không có.
  • - Về tài sản chung: Không có.
  • - Về nợ chung: Không có.

* Bị đơn anh H, S – F: Đã được Tòa án tống đạt Thông báo thụ lý vụ án theo địa chỉ ghi nhận tại Giấy chứng nhận kết hôn số 37/2024 ngày 09 tháng 12 năm 2024 tại Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh Tiền Giang (nay là Ủy ban nhân dân xã M, tỉnh Đồng Tháp). Tuy nhiên công văn số 2165/BTP-PLQT ngày 16 tháng 6 năm 2025, cơ quan có thẩm quyền của Bộ Tư pháp Lãnh Thổ Đài Loan đã thực hiện ủy thác tư pháp nêu trên vào ngày 28/04/2025 bằng phương thức: Tống đạt hồ sơ trực tiếp cho người sống chung cùng đương sự. Căn cứ theo quy định tại Điều 474 và Điều 477 bộ luật Tố tụng Dân sự. Đến nay, Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp vẫn chưa nhận được bản tự khai trình bày ý kiến bằng văn bản của anh H, S – Feng đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Trương Mỹ Y và vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng.

Tại phiên tòa, nguyên đơn chị Trương Mỹ Y trình bày: Chị và anh H, S – Feng qua mai mối quen biết nhau do chị họ của chị Y là người đang có chồng tại Đài Loan. Chị Y có mong muốn được qua Đài Loan sinh sống để được thay đổi cuộc sống tốt hơn nên chưa tìm hiểu kỷ về anh F, sau khi quen biết nhau hơn một tháng hai bên đã tiến đến hôn nhân bằng việc đăng ký kết hôn. Sau khi kết hôn anh F về Đài Loan sinh sống không còn liên lạc với chị cho đến khi chị làm đơn xin ly hôn. Chị xác định không hòa hợp được với anh F do không hiểu ngôn ngữ, văn hóa, anh F bỏ về Đài Loan nên cuộc sống hôn nhân hiện tại không thể di trì do đó chị quyết định xin được ly hôn với anh F.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu:

  • - Về tố tụng: Kể từ ngày thụ lý vụ án đến trước thời điểm nghị án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký và những người tham gia tố tụng tuân thủ đúng quy định Bộ luật Tố tụng Dân sự.
  • - Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Trương Mỹ Y, cho chị Trương Mỹ Y được ly hôn với anh H, S – F.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1]. Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Bị đơn anh H, S - Feng là công dân nước ngoài, quốc tịch Đài Loan, chị Tương Mỹ Y2 là công dân Việt Nam nên vụ án tranh chấp hôn nhân và gia đình về ly hôn thuộc thẩm quyền của Tòa án Việt Nam quy định tại khoản 1 Điều 469, khoản 1 Điều 470 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Chị Y2 cư trú tại huyện C, tỉnh Tiền Giang (nay là xã M, tỉnh Đồng Tháp), Việt Nam nên Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp thụ lý, giải quyết vụ án theo đơn khởi kiện của chị Trương Mỹ Y là đúng quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 2 Điều 38 và khoản 1 Điều 40 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Căn cứ vào Điều 127 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 thì việc ly hôn này được giải quyết theo pháp luật Việt Nam.

[2] Bị đơn anh H, S - F1 đã được tống đạt hợp lệ “Thông báo thụ lý” bằng hình thức ủy thác tư pháp của Đ tại L Đài Loan nhưng anh H, S - Feng vắng mặt không rõ lý do trong suốt quá trình tố tụng nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh H, S - Feng theo quy định tại Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

[3]. Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Trương Mỹ Y, Hội đồng xét xử xét thấy:

[3.1]. Về quan hệ hôn nhân: Chị Trương Mỹ Y và anh H, S - Feng sống chung năm 2024, có đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn 37/2024 ngày 09 tháng 12 năm 2024 tại Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh Tiền Giang (nay là Ủy ban nhân dân xã M, tỉnh Đồng Tháp), nên đây là hôn nhân hợp pháp.

Chị Y cho rằng sau khi kết hôn, do không đồng nhất về ngôn ngữ, văn hóa nên vợ chồng không thể hòa hợp, sau đó anh H, S - Feng trở về Đài Loan sinh sống và làm việc. Chị Y và anh H, S – F không còn liên lạc, mỗi người sống một nơi, không có điều kiện quan tâm, chăm sóc, chia sẻ với nhau về cuộc sống, đến nay tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, nên chị Y yêu cầu được ly hôn với anh H, S - F.

Xét, yêu cầu của chị Y là có căn cứ, phù hợp pháp luật bởi lẽ sau khi kết hôn, anh H, S - Feng về Đài Loan sinh sống và làm việc, còn chị Y thì sinh sống tại Việt Nam, khoảng cách địa lý, ngôn ngữ, văn hóa đã làm tình cảm của anh chị dần phai nhạt, anh chị không còn liên lạc với nhau, không còn quan tâm, chăm sóc lẫn nhau, cho thấy mâu thuẫn giữa hai bên đã trở nên trầm trọng, không còn khả năng hàn gắn, đời sống hôn nhân thực tế không còn. Do vậy, việc chị Y xin ly hôn với anh H, S - Feng là có căn cứ, phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[2.2]. Về con chung, tài sản chung và nợ chung: Chị Trương Mỹ Y khai không có và anh H, S - Feng không có lời trình bày nên Hội đồng xét xử không xem xét, nếu sau này các bên có tranh chấp sẽ được thụ lý giải quyết bằng vụ án khác.

[3]. Về án phí: Chị Trương Mỹ Y phải nộp 300.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm, được khấu trừ vào tạm ứng án phí đã nộp.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ các Điều 51, Điều 53, Điều 56, Điều 127 Luật hôn nhân và gia đình 2014; khoản 1 Điều 28, khoản 2 Điều 38 và khoản 1 Điều 40, Điều 227, Điều 228, Điều 273, khoản 1 Điều 469, khoản 1 Điều 470, Điều 479 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Trương Mỹ Y.

  1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Trương Mỹ Y được ly hôn với anh H, S – F.
  2. Về con chung, tài sản chung và nợ chung: Không có yêu cầu giải quyết.
  3. Về án phí: Chị Trương Mỹ Y phải nộp 300.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm được khấu trừ vào 300.000 đồng tạm ứng án phí chị Y đã nộp theo biên lai thu số 0000029 ngày 03/01/2025 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Tiền Giang (nay là Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Tháp) nên chị Y đã nộp xong án phí.
  4. Về quyền kháng cáo:
    1. Chị Trương Mỹ Y được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
    2. Anh H, S - Feng được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 01 tháng, kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án sơ thẩm.

Nơi nhận:

  • - Tòa Phúc thẩm TANDTC tại TP.HCM;
  • - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp;
  • - THADS tỉnh Đồng Tháp;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ, án văn;
  • - HNGĐ-ST 2026 - Tính.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Trần Hữu Tính

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 80/2025/HNGĐ-ST ngày 07/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP về tranh chấp về hôn nhân và gia đình về ly hôn

  • Số bản án: 80/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về hôn nhân và gia đình về ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 07/11/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Truong My Y - H, S - F
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger