|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN TỈNH BÌNH DƯƠNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 80/2025/DS-ST
Ngày 30-5-2025
V/v tranh chấp hợp đồng đặt cọc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Văn Tuyên.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trịnh Văn Lực;
Ông Nguyễn Văn Hoàn.
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Việt Hà - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Xuân Tình - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 5 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 135/2025/TLST-DS ngày 24 tháng 3 năm 2025 về việc “tranh chấp hợp đồng đặt cọc” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 93/2025/QĐXXST-DS ngày 25 tháng 4 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 411/2025/QĐST-DS ngày 13 tháng 5 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Thành T, sinh năm 1987. Thường trú: một phần nhà 173/18, Quốc lộ A, tổ A, khu phố E, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt.
- Bị đơn: Ông Nguyễn Quốc B, sinh năm 1983. Thường trú: số H, đường Đ, khu phố Đ, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo Đơn khởi kiện đề ngày 29 tháng 8 năm 2024, lời khai trong quá trình tổ tụng, nguyên đơn ông Nguyễn Thành T trình bày.
Vào ngày 28/12/2022, ông Nguyễn Thành T có đặt cọc 100.000.000 đồng với ông Nguyễn Quốc B để đảm bảo cho việc nhận chuyển nhượng đối với thửa đất số 2127, tờ bản đồ số 70, tọa lạc tại khu phố Đ, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CR391303, số vào sổ cấp GCN CS26315 do Chi nhánh Văn phòng Đ (nay là thành phố ), tỉnh Bình Dương cấp ngày 30/7/2019 cho ông Nguyễn Quốc B có diện tích là 119.9m², hai bên thỏa thuận giá chuyển nhượng là 2.400.000.000 đồng. Các bên thực hiện ký kết hợp đồng đặt cọc và chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất là tại địa chỉ thửa đất này, hai bên ký kết có sự chứng kiến của bà Võ Thúy L. Tuy nhiên, ông T không biết rõ nhân thân bà Võ Thúy L, không biết số điện thoại và địa chỉ của bà L nên không cung cấp cho Tòa án được. Ông Nguyễn Thành T không yêu cầu giám định chữ ký, chữ viết của ông Nguyễn Quốc B tại Hợp đồng đặt cọc và chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất ngày 28/12/2022. Đến ngày 15/01/2023, ông B cần thêm tiền để làm giấy tờ nên có bảo ông Trung chuyển thêm 50.000.000 đồng cho ông B. Tổng số tiền ông T đã đặt cọc cho ông B là 150.000.000 đồng. Theo thỏa thuận của hợp đồng đặt cọc thì đến ngày 28/02/2023, ông B sẽ thực hiện việc chuyển nhượng thửa đất nêu trên tại phòng công chứng, tuy nhiên đến ngày 28/02/2023 thì ông B nêu nhiều lý do không thể thực hiện việc chuyển nhượng được và hứa sẽ trả lại cho ông T số tiền đã chuyển nhượng cho ông B. Tuy nhiên, đến nay mặc dù đã hứa hẹn nhiều lần nhưng ông B vẫn không trả lại số tiền đặt cọc 150.000.000 đồng cho ông T. Từ ngày 10/5/2024, ông T không còn liên lạc được với ông B. Nay, ông T khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Nguyễn Quốc B trả lại cho ông Nguyễn Thành T số tiền đặt cọc 150.000.000 đồng. Ông Nguyễn Thành T không yêu cầu phạt cọc, không yêu cầu tính lãi.
- Quá trình tiến hành tố tụng, Tòa án đã triệu tập bị đơn ông Nguyễn Quốc B nhưng ông B vắng mặt không rõ lý do, không có ý kiến trình bày đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến: Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử, trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Những người tham gia tố tụng đã chấp hành đúng pháp luật tố tụng, đã thực hiện các quyền và nghĩa vụ theo quy định; không kiến nghị khắc phục, bổ sung các thủ tục tố tụng. Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ các tài liệu có tại hồ sơ vụ án đã được Hội đồng xét xử làm rõ tại phiên tòa đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Nguyên đơn ông Nguyễn Thành T khởi kiện tranh chấp hợp đồng đặt cọc đối với bị đơn ông Nguyễn Quốc B, có đăng ký thường trú tại: số H, đường Đ, khu phố Đ, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương nên căn cứ khoản 3 Điều 26; Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền thụ lý, giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương; quan hệ pháp luật là “Tranh chấp hợp đồng đặt cọc”.
[2] Tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn ông Nguyễn Thành T vắng mặt và có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt; bị đơn ông Nguyễn Quốc B đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không rõ lý do. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn theo quy định tại khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[3] Bị đơn ông Nguyễn Quốc B vắng mặt tất cả các lần Tòa án triệu tập là tự từ bỏ quyền, nghĩa vụ chứng minh của mình theo quy định tại Điều 91 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn giao nộp và các tài liệu, chứng cứ do Tòa án thu thập để giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.
[4] Về quan hệ đặt cọc: Xét thấy, ngày 28/12/2022, ông Nguyễn Thành T và ông Nguyễn Quốc B có ký kết Hợp đồng đặt cọc và chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất với nội dung: ông Nguyễn Thành T đặt cọc 100.000.000 đồng để nhận chuyển nhượng đối với thửa đất số 2127, tờ bản đồ số 70, tọa lạc tại khu phố Đ, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CR391303, số vào sổ cấp GCN CS26315 do Chi nhánh Văn phòng Đ (nay là thành phố ), tỉnh Bình Dương cấp ngày 30/7/2019 cho ông Nguyễn Quốc B có diện tích chuyển nhượng là 119.9m², hai bên thỏa thuận giá chuyển nhượng là 2.400.000.000 đồng. Theo thỏa thuận tại hợp đồng, đến ngày 28/02/2023, hai bên sẽ ký hợp đồng chuyển nhượng và thanh toán số tiền còn lại là 2.300.000.000 đồng. Hợp đồng đặt cọc có chữ ký, chữ viết của ông Nguyễn Thành T và ông Nguyễn Quốc B, cùng với sự chứng kiến của bà Võ Thúy L. Đến ngày 15/01/2023, ông B nhận thêm 50.000.000 đồng để đảm bảo cho việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất nêu trên cho ông Nguyễn Thành T. Tổng số tiền ông T đã đặt cọc cho ông B là 150.000.000 đồng. Theo thỏa thuận của hợp đồng đặt cọc thì đến ngày 28/02/2023, ông B sẽ thực hiện việc chuyển nhượng thửa đất nêu trên tại phòng công chứng, tuy nhiên đến ngày 28/02/2023 thì ông B nêu nhiều lý do không thể thực hiện việc chuyển nhượng được và hứa sẽ trả lại cho ông T số tiền đã nhận. Tuy nhiên, đến nay mặc dù đã hứa hẹn nhiều lần nhưng ông B vẫn không trả lại số tiền đặt cọc 150.000.000 đồng cho ông T. Từ ngày 10/5/2024, ông T không còn liên lạc được với ông B. Quá trình tố tụng, Tòa án đã triệu tập hợp lệ bị đơn ông Nguyễn Quốc B nhưng ông B vắng mặt không rõ lý do, không có ý kiến hay cung cấp tài liệu, chứng cứ để phản bác phần trình bày cũng như chứng cứ và yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Như vậy, căn cứ vào chứng cứ của nguyên đơn ông Nguyễn Thành T cung cấp và tài liệu chứng cứ Tòa án thu thập được, có cơ sở xác định ông Nguyễn Quốc B đã nhận 150.000.000 đồng để đảm bảo cho việc hai bên sẽ ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất nêu trên vào ngày 28/02/2023 nhưng ông B đã từ bỏ việc giao kết, thực hiện hợp đồng đối với ông Nguyễn Thành T là vi phạm nghiệm trọng nghĩa vụ theo quy định tại Hợp đồng đặt cọc và chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất ngày 28/12/2022 nên ông Nguyễn Thành T yêu cầu ông Nguyễn Quốc B trả lại số tiền đã đặt cọc 150.000.000 đồng là có căn cứ để chấp nhận.
[5] Đối với hiệu lực của Hợp đồng đặt cọc và chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất ngày 28/12/2022, xét thấy: theo hồ sơ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố D, tỉnh Bình Dương cung cấp thì đến ngày 28/6/2023, ông Nguyễn Quốc B đã ký hợp đồng chuyển nhượng toàn bộ quyền sử dụng đất nêu trên cho ông Lê Duy T1 và bà Nguyễn Thị Anh . Ngoài ra, nguyên đơn khởi kiện yêu cầu trả lại tiền đặt cọc mà không yêu cầu tiếp tục thực hiện hợp đồng, đồng thời bị đơn ông Nguyễn Quốc B đã từ bỏ việc giao kết, thực hiện hợp đồng là vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ của hợp đồng được quy định tại Điều 423 của Bộ luật Dân sự nên Hội đồng xét xử tuyên bố chấm dứt Hợp đồng đặt cọc và chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất ngày 28/12/2022 giữa ông Nguyễn Thành T và ông Nguyễn Quốc B.
[6] Về yêu cầu phạt cọc và yêu cầu tính lãi suất: Nguyên đơn ông Nguyễn Thành T không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.
[7] Từ những phân tích và nhận định nêu trên, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
[8] Quan điểm của đại diện Viện Kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[9] Án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được Tòa án chấp nhận nên bị đơn ông Nguyễn Quốc B phải chịu án phí có giá ngạch trên số tiền 150.000.000 đồng bị đơn phải trả lại cho nguyên đơn.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 147, khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 238, Điều 266, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự;
- Căn cứ các Điều 328, 385, 422, 423 và khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015;
- Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án,
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Thành T đối với bị đơn ông Nguyễn Quốc B về việc “Tranh chấp hợp đồng đặt cọc”.
1.1 Chấm dứt Hợp đồng đặt cọc và chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất ngày 28/12/2022 giữa ông Nguyễn Thành T và ông Nguyễn Quốc B.
1.2 Buộc ông Nguyễn Quốc B có nghĩa vụ trả lại cho ông Nguyễn Thành T số tiền 150.000.000 đồng (một trăm năm mươi triệu) đồng.
Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Buộc ông Nguyễn Quốc B phải chịu 7.500.000 đồng. Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương hoàn trả cho ông Nguyễn Thành T số tiền 4.195.500 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001587 ngày 26/9/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
3. Về quyền kháng cáo: Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Văn Tuyên |
Bản án số 80/2025/DS-ST ngày 30/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG về tranh chấp hợp đồng đặt cọc
- Số bản án: 80/2025/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng đặt cọc
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/05/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng đặt cọc giữa nguyên đơn Nguyễn Thành T với bị đơn Nguyễn Quốc B
