TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 3 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 80/2025/DS-ST
Ngày: 23/6/2025
V/v: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 3, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có :
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trầm Tuấn Kiệt.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Đặng Thị Ngọc Hằng.
- Ông Nguyễn Kiên Hiển.
- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Nhật Vi Phượng - Thư ký Tòa án nhân dân Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Quận 3, TP. Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Ngô Thị Thu Hường - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 6 năm 2025, tại phòng xử án Tòa án nhân dân Quận 3, TP. Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 833/TLST-DS ngày 07 tháng 11 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 206/2025/QĐXXST-DS ngày 12 tháng 5 năm 2025; Quyết định hoãn phiên tòa số 256/2025/QÐST-DS ngày 02 tháng 6 năm 2025 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần S.
Trụ sở: Lầu 13, 2 N, Phường V, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo ủy quyền: Bà Nguyễn Chung Xuân M – Theo Giấy ủy quyền số 2198/2024/UQ-TT.XLN ngày 12/11/2024.
Bị đơn: Ông Ngô Hoàn V, sinh năm 1991.
Địa chỉ: 1 T, Phường A, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.
(bà M có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; ông V vắng mặt không có lý do)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 13/8/2024, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần S có bà Nguyễn Chung Xuân M là đại diện theo ủy quyền trình bày:
Ngày 22/12/2021, ông V có ký với Ngân hàng Thương mại Cổ phần S (gọi tắt là Ngân hàng) Hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng - các tài liệu này được gọi chung là Hợp đồng). Căn cứ thu nhập của ông V, Ngân hàng đã đồng ý cấp thẻ tín dụng với hạn mức sử dụng là 75.000.000 đồng, với mục đích tiêu dùng cá nhân.
Sau khi được cấp thẻ tín dụng, ông V đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 1.511.832.278 đồng.
Trong quá trình sử dụng thẻ, từ ngày kích hoạt thẻ đến nay ông V đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền 1.440.823.009 đồng (Thứ tự thanh toán căn cứ theo Điều 21 của Bản Điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng). Qua nhiều lần làm việc, nhắc nhở nhưng ông V vẫn không có thiện chí trả nợ. Do ông V vi phạm nghĩa vụ thanh toán (Điều 24 của Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng), ngày 06/02/2024 Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn (Điều 24.4 của Bản Điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng).
Mặc dù Ngân hàng đã thường xuyên đôn đốc, nhiều lần làm việc trực tiếp với ông V, yêu cầu có trách nhiệm thanh toán ngay khoản nợ quá hạn, đồng thời Ngân hàng cũng tạo điều kiện về mặt thời gian để trả nợ, tuy nhiên ông V vẫn chưa thanh toán khoản nợ vay quá hạn cho Ngân hàng, vi phạm các điều khoản đã quy định tại Hợp đồng đã ký.
Yêu cầu Tòa án giải quyết:
- Buộc ông Ngô Hoàn V phải trả ngay cho Ngân hàng tổng số tiền tạm tính đến ngày 28/6/2024 là 99.274.493 đồng (Bằng chữ: Chín mươi chín triệu, hai trăm bảy mươi tư nghìn, bốn trăm chín mươi ba đồng), trong đó:
- - Nợ gốc: 84.223.469 đồng.
- - Lãi quá hạn: 15.051.024 đồng.
- Và ông Ngô Hoàn V có trách nhiệm thanh toán khoản lãi phát sinh từ ngày 29/6/2024 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại Hợp đồng.
Bị đơn ông Ngô Hoàn V đã được Tòa án tống đạt, niêm yết Giấy triệu tập, Thông báo thụ lý vụ án, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải theo quy định của pháp luật, nhưng bị đơn vẫn không có mặt theo triệu tập nên Tòa án không ghi nhận được lời khai.
Tại phiên tòa hôm nay:
- - Ngân hàng Thương mại Cổ phần S có bà Nguyễn Chung Xuân M là đại diện theo ủy quyền có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
- - Bị đơn ông Ngô Hoàn V vắng mặt không có lý do.
Nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần S có bà Nguyễn Chung Xuân M là đại diện theo ủy quyền giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, yêu cầu Tòa án giải quyết:
- Buộc Ông Ngô Hoàn V phải trả ngay cho Ngân hàng tổng số tiền tạm tính đến ngày 23/6/2025 là 136.902.053 đồng (Một trăm ba mươi sáu triệu, chín trăm linh hai nghìn, không trăm năm mươi ba đồng), trong đó:
- - Nợ gốc: 84.223.469 đồng.
- - Lãi quá hạn: 52.678.584 đồng.
Và có trách nhiệm thanh toán khoản lãi phát sinh từ ngày 24/6/2025 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại Hợp đồng.
Bị đơn đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án số: 833/TB-TLVA ngày 07/11/2024 nhưng đều không có ý kiến bằng văn bản gửi Tòa án nhân dân Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh, cũng không có yêu cầu phản tố. Ngoài ra, Tòa án đã làm thủ tục tống đạt, niêm yết hợp lệ Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa theo quy định pháp luật nhưng bị đơn vắng mặt không có lý do. Bị đơn cũng không có ý kiến gì liên quan đến chứng cứ do nguyên đơn cung cấp.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 3 phát biểu ý kiến:
Việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án, thu thập chứng cứ và tại phiên tòa Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký Tòa án đã tuân thủ đúng các quy định của pháp luật.
Về việc chấp hành pháp luật của các đương sự trong vụ án: Từ khi thụ lý vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay các đương sự đã thực hiện đúng các quy định Bộ luật tố tụng dân sự về quyền và nghĩa vụ của đương sự. Nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai đối với việc xét xử nhưng vắng mặt không rõ lý do, không đến tham gia phiên tòa xem như từ bỏ quyền và nghĩa vụ chứng minh của mình. Căn cứ Điều 227, Điều 228 và Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn là đúng quy định.
Về nội dung: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có cơ sở, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, quyết định chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
Xét quan hệ tranh chấp giữa nguyên đơn và bị đơn trong vụ án này là tranh chấp về dân sự mà cụ thể là “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” được quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015.
Xét ông Ngô Hoàn V có địa chỉ cư trú tại Quận C. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015 xác định vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 3.
Xét thủ tục xét xử vắng mặt: Nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Bị đơn đã được tống đạt hợp lệ Thông báo về việc thụ lý vụ án, Giấy triệu tập để trình bày ý kiến; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Quyết định đưa vụ án ra xét xử; Quyết định hoãn phiên tòa và Giấy triệu tập để tham gia phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt không có lý do.
Căn cứ vào khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân Quận 3 tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn.
[2] Xét các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết thời hiệu khởi kiện nên Tòa án không giải quyết về thời hiệu khởi kiện theo quy định tại khoản 2, Điều 184 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[3] Về áp dụng quy định pháp luật để giải quyết vụ án:
Xét giao dịch dân sự do các bên xác lập và đang thực hiện có nội dung và hình thức phù hợp với quy định của Bộ luật Dân sự nên áp dụng quy định của Bộ luật Dân sự để giải quyết vụ án.
[4] Xét yêu cầu của Ngân hàng Thương mại Cổ phần S:
Căn cứ vào chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai của Ngân hàng Thương mại Cổ phần S, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Ngày 22/12/2021, ông V có ký với Ngân hàng Thương mại Cổ phần S (gọi tắt là Ngân hàng) Hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng - các tài liệu này được gọi chung là Hợp đồng). Căn cứ thu nhập của ông V, Ngân hàng đã đồng ý cấp thẻ tín dụng với hạn mức sử dụng là 75.000.000 đồng, với mục đích tiêu dùng cá nhân.
Tạm tính đến hết ngày 23/6/2025 tổng dư nợ đối với Hợp đồng tín dụng của ông Ngô Hoàn V tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần S là: 136.902.053 đồng (Một trăm ba mươi sáu triệu, chín trăm linh hai nghìn, không trăm năm mươi ba đồng), trong đó:
- - Nợ gốc: 84.223.469 đồng.
- - Lãi quá hạn: 52.678.584 đồng.
Tại khoản 1 Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) có quy định: “Tổ chức tín dụng có quyền chấm dứt việc cấp tín dụng, thu hồi nợ trước hạn khi phát hiện khách hàng cung cấp thông tin sai sự thật, vi phạm các quy định trong hợp đồng cấp tín dụng”.
Xét tại Điều 463 và khoản 5 Điều 466 Bộ luật Dân sự năm 2015 có quy định:
Điều 463: “Hợp đồng vay tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên cho vay giao tài sản cho bên vay; khi đến hạn trả, bên vay phải hoàn trả cho bên cho vay tài sản cùng loại theo đúng số lượng, chất lượng và chỉ phải trả lãi nếu có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định”.
Khoản 5 Điều 466: “Trường hợp vay có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả hoặc trả không đầy đủ thì bên vay phải trả lãi như sau:
a) Lãi trên nợ gốc theo lãi suất thỏa thuận trong hợp đồng tương ứng với thời hạn vay mà đến hạn chưa trả; trường hợp chậm trả thì còn phải trả lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật này;
b) Lãi trên nợ gốc quá hạn chưa trả bằng 150% lãi suất vay theo hợp đồng tương ứng với thời gian chậm trả, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.
...”
Xét tại Bản Điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng Thương mại Cổ phần S có quy định:
“23. Cách tính lãi
23.1 Chủ Thẻ đồng ý thanh toán lãi phát sinh trên Thẻ. Lãi được tính như sau:
a) Đối với G (không áp dụng với Thẻ nội địa, phí, lệ phí: Nếu Chủ Thẻ không thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ Số Tiền Đến Hạn vào hoặc trước Ngày Đến Hạn, Chủ Thẻ phải thanh toán lãi cho S1 đối với tất cả các khoản nợ được thể hiện trong Thông Báo Giao Dịch hiện tại và bất kỳ khoản nợ nào phát sinh sau đó trên Thẻ cho đến khi toàn bộ các khoản nợ đến hạn ghi trong Thông Báo Giao Dịch mới nhất được thanh toán vào hoặc trước Ngày Đến Hạn. Lãi được tính từ ngày Chủ Thẻ thực hiện giao dịch cho đến hết ngày việc thanh toán được thực hiện đầy đủ.
Nếu Chủ Thẻ thanh toán toàn bộ Số Tiền Đến Hạn vào hoặc trước Ngày Đến Hạn theo Thông Báo Giao Dịch thì Chủ Thẻ được miễn lãi đối với tất cả các giao dịch tại Thông Báo Giao Dịch hiện tại.
Giao Dịch Rút Tiền Mặt/Tương Đương Rút Tiền M1: Lãi được tính từ ngày Chủ Thẻ thực hiện giao dịch cho đến hết ngày Chủ Thẻ thanh toán toàn bộ số tiền đã sử dụng/đã rút.
23.2 S1 có quyền sửa đổi mức lãi suất trong từng thời kỳ theo quyết định của minh mà không cần thông báo trước cho Chủ T.”
Tại khoản 2 Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) có quy định: “Tổ chức tín dụng và khách hàng có quyền thỏa thuận về lãi suất, phí cấp tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng theo quy định của pháp luật”.
Do đó việc ông Vũ C trả nợ gốc, lãi cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần S là vi phạm thỏa thuận giữa hai bên và trái với quy định pháp luật. Vì vậy, xét Ngân hàng Thương mại Cổ phần S yêu cầu ông V trả số nợ trên ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật là có cơ sở nên được chấp nhận.
Ngoài ra ông Ngô Hoàn V phải thanh toán cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần S tiền lãi phát sinh theo quy định tại hợp đồng đã ký kể từ ngày 24/6/2025 cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ.
[5] Như đã phân tích, xét ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 3 là có cơ sở và phù hợp với quy định pháp luật nên được chấp nhận. Do bị đơn không tham gia tố tụng và không có lời khai nên không giải quyết.
[6] Về án phí: Căn cứ khoản 1 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội:
- - Án phí dân sự sơ thẩm: ông Ngô Hoàn V phải nộp là 6.845.103 đồng.
- - H lại cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần S số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 2.481.862 đồng theo biên lai số 0059113 ngày 06/11/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 3.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 179, Điều 180, khoản 1 Điều 207, khoản 2 Điều 227, khoản 1 và khoản 3 Điều 228, khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 463 và khoản 5 Điều 466 Bộ luật Dân sự 2015;
Căn cứ khoản 2 Điều 91, khoản 1 Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);
Căn cứ khoản 1 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;
Căn cứ Luật Thi hành án dân sự.
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần S.
- - Nợ gốc: 84.223.469 đồng (Bằng chữ: T1 mươi tư triệu, hai trăm hai mươi ba nghìn, bốn trăm sáu mươi chín đồng);
- - Lãi quá hạn: 52.678.584 đồng (Bằng chữ: Năm mươi hai triệu, sáu trăm bảy mươi tám nghìn, năm trăm tám mươi tư đồng).
- Về án phí dân sự sơ thẩm:
- - Ông Ngô Hoàn V phải nộp 6.845.103 đồng (Sáu triệu tám trăm bốn mươi lăm nghìn một trăm linh ba đồng).
- - H lại cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần S số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 2.481.862 đồng (Hai triệu bốn trăm tám mươi mốt nghìn tám trăm sáu mươi hai đồng) theo biên lai số 0059113 ngày 06/11/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 3.
Buộc ông Ngô Hoàn V phải trả ngay cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần S tổng số tiền tạm tính đến ngày 23/6/2025 là 136.902.053 đồng (Bằng chữ: Một trăm ba mươi sáu triệu, chín trăm linh hai nghìn, không trăm năm mươi ba đồng), trong đó:
Và có trách nhiệm thanh toán khoản lãi phát sinh từ ngày 24/6/2025 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại Hợp đồng.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
- Về quyền kháng cáo:
Ngân hàng Thương mại Cổ phần S và ông Ngô Hoàn V được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hoặc được niêm yết.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trầm Tuấn Kiệt |
Bản án số 80/2025/DS-ST ngày 23/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 3, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 80/2025/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/06/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 3, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn
