|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT TỈNH BÌNH DƯƠNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 80/2025/DS - ST
Ngày: 11 – 6 – 2025
V/v: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy Nga
Các Hội thẩm nhân dân.
- Bà Nguyễn Thị Thắm
- Bà Nguyễn Kim Lý
Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Hương Giang – Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thủy - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 6 năm 2025 tại phòng xử án - Tòa án nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương, Tòa án nhân dân thành phố Bến Cát xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 46/2025/TLST - DS ngày 08 tháng 01 năm 2025, về việc: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 124/2025/QĐXXST- DS ngày 05 tháng 5 năm 2025 và Quyết định Hoãn phiên tòa số 72/2025/QÐST – DS ngày 23 tháng 5 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần S; địa chỉ trụ sở: Số B N, phường V, quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện: Ông Mai Xuân T, sinh năm 1976; chức vụ: Chuyên viên quản lý nợ. (Theo văn bản ủy quyền số 16/2024/GUQ-CNBC ngày 31 tháng 12 năm 2024). Vắng mặt;
- Bị đơn: Bà Nguyễn Thị P, sinh năm: 1990; nơi thường trú: Khu M, phường T, thành phố B, tỉnh Bình Dương. Vắng mặt;
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 27 tháng 11 năm 2024, các bản tự khai ngày 27/11/2024, ngày 19/3/2025 và trong quá trình giải quyết, xét xử, nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần S (gọi tắt là Ngân hàng) – do ông Mai Xuân T đại diện trình bày:
Ngày 09/07/2022, giữa bà Nguyễn Thị P và Ngân hàng TMCP S có ký kết Hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng). Căn cứ thu nhập của bà P, Ngân hàng đã đồng ý cấp thẻ tín dụng hạn mức 50.000.000 đồng, mục đích tiêu dùng cá nhân. Sau khi được cấp Thẻ tín dụng bà P đã thực hiện các giao dịch, thanh toán với tổng số tiền là 205.551.789 đồng. Trong quá trình sử dụng thẻ, từ ngày kích hoạt thẻ đến nay bà P đã thanh toán cho Ngân hàng với số tiền 149.071.020 đồng. Ngân hàng nhiều lần làm việc, nhắc nhở nhưng bà P không có thiện chí trả nợ. Do bà P vi phạm nghĩa vụ thanh toán theo hợp đồng sử dụng thẻ, ngày 10/10/2024 Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ nợ còn thiếu sang nợ quá hạn. Tính đến ngày 10/11/2024 bà P còn nợ tổng cộng 56.480.769 đồng (năm mươi sáu triệu bốn trăm tám mươi nghìn bảy trăm sáu mươi chín đồng). Ngân hàng khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà Nguyễn Thị P phải trả cho Ngân hàng tổng số tiền tạm tính đến ngày 10/11/2024 là 56.480.769 đồng (năm mươi sáu triệu bốn trăm tám mươi nghìn bảy trăm sáu mươi chín đồng) và lãi phát sinh sau ngày 10/11/2024 cho đến khi trả hết nợ vay theo lãi suất quy định tại Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng. Tính đến ngày xét xử sơ thẩm (11/6/2025), bà P còn nợ ngân hàng số tiền gốc và lãi là 72.434.888 đồng.
Bị đơn bà Nguyễn Thị P vắng mặt trong toàn bộ quá trình giải quyết vụ án, không cung cấp ý kiến, không có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
Tại Biên bản xác minh ngày 11/3/2025, Công an phường T, thành phố B cung cấp: Bà Nguyễn Thị P có hộ khẩu thường trú tại khu M, khu phố F, phường T, thành phố B, tỉnh Bình Dương. Tuy nhiên bà P đã bán nhà đi nơi khác sinh sống từ hơn một năm, hiện bà P sinh sống tại đâu Công an phường T không nắm được vì bà P không trình báo.
* Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát:
Về việc chấp hành pháp luật tố tụng: Về việc chấp hành pháp luật tố tụng của nguyên đơn, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa thực hiện đúng quy định pháp luật tố tụng.
Về việc giải quyết tranh chấp: Đề nghị chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn; Bị đơn phải chịu án phí theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Ngân hàng Thương mại cổ phần S cấp thẻ tín dụng cho bà Nguyễn Thị P với hạn mức tín dụng là 50.000.000 đồng, mục đích tiêu dùng cá nhân, do đó cần xác định đây là vụ án tranh chấp về dân sự theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự.
[1.2] Tại thời điểm xác lập giao dịch bà P có hộ khẩu thường trú, cư trú tại Khu mở rộng, khu phố F, phường T, thành phố B, đến nay vẫn đăng ký hộ khẩu thường trú tại đây nhưng đã không còn cư trú từ hơn một năm. Bà P bỏ đi khỏi nơi cư trú nhưng không thông báo cho Ngân hàng biết nơi cư trú mới. Nay Ngân hàng khởi kiện, Tòa án tiến hành thủ tục niêm yết công khai, giải quyết vắng mặt bà P theo quy định tại Điều 179 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung:
[2.1] Xét Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng do bà Nguyễn Thị P ký ngày 09/7/2022:
Căn cứ Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 09/7/2022 của bà Nguyễn Thị P, Ngân hàng đã cấp hạn mức thẻ tín dụng với số tiền 50.000.000 đồng cho bà P. Quá trình sử dụng thẻ tín dụng, bà P đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ nợ còn thiếu sang nợ quá hạn từ ngày 10/10/2024. Nay Ngân hàng khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết, buộc bà P thanh toán toàn bộ khoản nợ còn thiếu là có căn cứ. Tính đến ngày 11/6/2025, bà P còn nợ của Ngân hàng gốc và lãi là 72.434.888 đồng. Do đó, cần buộc bà P có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng số tiền này là có căn cứ.
[2.2] Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (12/6/2025) bà P còn phải tiếp tục thanh toán lãi phát sinh theo thỏa thuận trong Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 09/7/2022 của bà Nguyễn Thị P, cho đến khi thanh toán xong khoản nợ.
[3] Về án phí: Án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch là 3.621.744 đồng (72.434.888 đồng x 5%). Do toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch số tiền là 3.621.744 đồng, theo quy định tại khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14; Nguyên đơn đã tạm ứng án phí nên cần hoàn lại cho nguyên đơn.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14;
Áp dụng khoản 2 Điều 91 Luật tổ chức tín dụng.
Áp dụng khoản 1 Điều 117, khoản 4 Điều 422; điều 428; điều 463; khoản 1 Điều 466, khoản 1 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015; điểm b khoản 2 điều 8 Nghị quyết 01/2019/NQ – HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao;
- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại cổ phần S, về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” với bị đơn bà Nguyễn Thị P.
Bà Nguyễn Thị P có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng Thương mại cổ phần S số tiền tính đến ngày 11/6/2025 là 72.434.888 đồng (bảy mươi hai triệu bốn trăm ba mươi bốn nghìn tám trăm tám mươi tám đồng). Trong đó, nợ gốc 54.158.807 đồng; lãi 18.276.081 đồng.
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (12/6/2025), bà Nguyễn Thị P còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 09/7/2022, cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc.
- Về nghĩa vụ chịu án phí:
Bà Nguyễn Thị P phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch số tiền là 3.621.744 đồng (ba triệu sáu trăm hai mươi mốt nghìn bảy trăm bốn mươi bốn đồng).
Hoàn lại cho Ngân hàng Thương mại cổ phần S số tiền 1.412.019 đồng (một triệu bốn trăm mười hai nghìn không trăm mười chín đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí số 0005993 ngày 13/12/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố B, tỉnh Bình Dương.
- Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được cấp tống đạt theo quy định.
Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 482 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự (Văn bản hợp nhất số: 32/VBHN-VPQH ngày 07/12/2020).
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thúy Nga |
Bản án số 80/2025/DS - ST ngày 11/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 80/2025/DS - ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 11/06/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ngân hàng TMCP S khởi kiện bà Nguyễn Thị P về việc: "Tranh chấp hợp đồng tín dụng"
