|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 80/2025/DS-PT
Ngày: 06/3/2025.
V/v: Tranh chấp Hợp đồng mua
bán hàng hóa.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Trang Thư
Các Thẩm phán: 1/ Bà Nguyễn Thị Tuyết Loan
2/ Bà Võ Bích Hải
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Huyền - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa: Ông Bùi Trung Nam - Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 3 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 419/2024/TLPT-DS ngày 09 tháng 12 năm 2024 về việc “Tranh chấp Hợp đồng mua bán hàng hóa”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 154/2024/DS-ST ngày 17 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân quận Cái Răng, thành phố Cần Thơ bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 541/2024/QĐ-PT ngày 18 tháng 12 năm 2024, giữa các đương sự:
-
- Nguyên đơn: Ông Cao Văn C, sinh năm 1974.
Nơi cư trú: Số B, ấp A, xã T, huyện L, tỉnh Hậu Giang; Có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt.
-
- Bị đơn: Ông Hoàng Quốc L, sinh năm 1978.
Nơi cư trú: Số C, đường số E, Khu dân cư E, khu vực T, phường P, quận C, thành phố Cần Thơ.
Người đại diện hợp pháp của bị đơn:
- Ông Phạm Ngọc T, sinh năm 1980; Địa chỉ: Số E, khu V, phường P, quận Ô, thành phố Cần Thơ (Văn bản ủy quyền ngày 02/5/2024).
- Bà Lê Thị Ngọc T1, sinh năm 1995; Địa chỉ: Số C, đường N, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ (Các văn bản ủy quyền ngày 24/11/2023 và ngày 02/5/2024).
Cùng địa chỉ liên lạc: Số C, đường N, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ; Cùng có mặt.
-
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- 1/ Bà Bùi Thị Lan P, sinh năm 1984.
Nơi cư trú: Số C, đường số E, Khu dân cư E, khu vực T, phường P, quận C, thành phố Cần Thơ.
Người đại diện hợp pháp của bà P:
- 1.1. Ông Phạm Ngọc T, sinh năm 1980; Địa chỉ: Số E, khu V, phường P, quận Ô, thành phố Cần Thơ (Văn bản ủy quyền ngày 02/5/2024).
- 1.2. Bà Lê Thị Ngọc T1, sinh năm 1995; Địa chỉ: Số C, đường N, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ (Các văn bản ủy quyền ngày 24/11/2023 và ngày 02/5/2024).
Cùng địa chỉ liên lạc: Số C, đường N, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ; Cùng có mặt.
- 2/ Bà Phạm Chúc G, sinh năm 1978.
Nơi cư trú: Số B, ấp A, xã T, huyện L, tỉnh Hậu Giang.
Người đại diện hợp pháp của bà G: Ông Cao Văn C, sinh năm 1974 (Văn bản ủy quyền ngày 04/12/2023); Có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt.
* Người kháng cáo: Bị đơn ông Hoàng Quốc L.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện ngày 22/01/2024 và quá trình giải quyết, nguyên đơn ông Cao Văn C trình bày:
Do có quen biết làm ăn, mua bán lúa với nhau nhiều năm nên ngày 31/8/2020 nguyên đơn có bán lúa cho bị đơn ông Hoàng Quốc L tổng số lượng lúa Đ, lúa ST24 và có thỏa thuận như sau:
- + Giá lúa Đài Thơm 8 với số lượng là 288.600kg x 6.000 đồng/01kg = 1.731.600.000 đồng (Một tỷ, bảy trăm bà mươi mốt triệu, sáu trăm nghìn đồng).
- + Giá lúa ST24 với số lượng 111.932kg x 7.500 đồng/01kg = 839.490.000 đồng (Tám trăm ba mươi chin triệu, bốn trăm chín mươi nghìn đồng).
Sau khi nhận lúa xong, bị đơn có ký xác nhận và ghi họ tên vào biên nhận ngày 31/8/2020 và hứa sẽ thanh toán hết số tiền trên vào ngày 01/9/2020. Nhưng từ khi nhận lúa xong thì bị đơn không thanh toán số tiền trên cho nguyên đơn. Tuy nhiên, trước khi giao lúa cho bị đơn thì phía bị đơn có tạm ứng trước số tiền là 500.000.000 đồng (Năm trăm triệu đồng) vào ngày 15/8/2020. Do có khấu trừ số tiền bị đơn tạm ứng trước nên số tiền bị đơn còn nợ nguyên đơn là 2.071.090.000 đồng (2.571.090.000 đồng – 500.000.000 đồng = 2.071.090.000 đồng).
Do bị đơn không thực hiện nghĩa vụ trả tiền theo thỏa thuận (nêu trên) nên nguyên đơn khởi kiệnyêu cầu Tòa án buộc ông Hoàng Quốc Lvà bà Bùi Thị Lan Pphải có nghĩa vụ thanh toán số tiền mua bán lúa còn nợ tổng cộng là 2.071.090.000 đồng (Hai tỷ, không trăm bảy mươi mốt triệu, không trăm chín mươi nghìn đồng) và tiền lãi chậm trả theo quy định của pháp luật tính từ ngày 01/9/2020 đến khi bị đơn thanh toán hết nợ.
Tại phiên hòa giải ngày 08/5/2024, nguyên đơn xác định: Biên nhận lúa ST24 số lượng 111.932 kg và Đài Thơm số lượng 288.600 kg là do ông Hoàng Quốc L ký xác nhận vào ngày 31/8/2020 về việc có nhận tổng số lượng lúa là 111.932kg. Ngoài ra, việc ký nhận lúa của ông L vào ngày 31/8/2020 chỉ có ông và ông L biết nên ông Nguyễn Tấn H không biết và cũng không có liên quan. Đồng thời, người đến nhận lúa là người của ông Hoàng Quốc L đưa đến nên nguyên đơn không biết ai và cũng không thể cung cấp được cho Tòa án đưa vào tham gia tố tụng. Nếu ông L yêu cầu thì ông L phải cung cấp cho Tòa án để Tòa án triệu tập người nhận lúa vào tham gia tố tụng làm rõ vụ án theo yêu cầu của bị đơn.
* Tại đơn phản tố ngày 22/01/2024 và quá trình giải quyết vụ án, bị đơn ông Hoàng Quốc L (có người đại diện theo ủy quyền) trình bày:
Bị đơn ông Hoàng Quốc Lyêu cầu Tòa án không chấp nhận đơn khởi kiện của ông Cao Văn C vì bị đơn không có ký biên nhận ngày 31/8/2020 và cũng không có giao dịch mua lúa của ông C nên bị đơn không đồng ý trả tiền theo yêu cầu của nguyên đơn. Đồng thời, tại đơn phản tố bị đơn yêu cầu ông Cao Văn C và bà Phạm Chúc G có nghĩa vụ trả số tiền đã mượn của bị đơn tổng cộng là 1.778.210.760 đồng (Một tỷ, bảy trăm bảy mươi tám triệu, hai trăm mười nghìn, bảy trăm sáu mươi đồng). Số tiền mượn này được chuyển khoản 06 lần và 03 lần ký nhận tiền mặt.
Bị đơn khẳng định là bị đơn không có ký giao dịch với nguyên đơn nên biên nhận ngày 31/8/2020 mà chỉ có giao dịch vào ngày 31/3/2020 nên biên nhận ngày 31/8/2020 là có dấu hiệu bị sửa số 3 thành số 8. Tuy nhiên, tại phiên hòa giải hôm nay ông C chưa cung cấp được chứng cứ chứng minh cho việc có giao lúa cho ông L và cũng không cung cấp được người nhận lúa là ai để đưa vào tham gia tố tụng nên nguyên đơn chưa chứng minh được ngày 31/8/2020 giữa nguyên đơn và bị đơn có mua bán lúa ST24 số lượng 111.932 kg và Đài Thơm số lượng 288.600 kg vì đây là số lượng lớn nên nguyên đơn phải cung cấp được chứng cứ chứng minh bị đơn có nhận số lúa này. Do đó, bị đơn thấy rằng chưa cần thiết để giám định việc nguyên đơn có sửa số và tuổi mực. Nếu sau này nguyên đơn chứng minh được bị đơn có giao dịch vào ngày 31/8/2020 thì bị đơn sẽ yêu cầu giám định ở cấp phúc thẩm để được xem xét lại. Đồng thời, bị đơn cũng không đồng ý với yêu cầu của nguyên đơn về việc cung cấp người nhận lúa để đưa vào tham gia tố tụng vì đây là nghĩa vụ của nguyên đơn phải cung cấp chứng cứ chứng minh cho Tòa án xem xét đơn khởi kiện của mình.
Ngoài ra, bị đơn cũng xin rút lại yêu cầu phản tố vì các chứng từ chuyển khoản này đã được giải quyết bằng bản án phúc thẩm số 92/2022/DS-PT ngày 12/5/2022 nên bị đơn không yêu cầu phản tố để bù trừ nghĩa vụ vì đã giải quyết.
* Trong vụ án, còn có những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan gồm bà Bùi Thị Lan Pvà bà Phạm Chúc G. Theo đó, các đương sự có tương ứng người đại diện theo ủy quyền là nguyên đơn và phía bị đơn nên thể hiện chung lời khai (như trên).
Tại bản án dân sự sơ thẩm số: 154/2024/DS-ST ngày 17 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân quận Cái Răng đã tuyên xử:
- - Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Cao Văn C.
- - Buộc ông Hoàng Quốc Lvà bà Bùi Thị Lan Pcó nghĩa vụ trả cho nguyên đơn tổng số tiền 2.071.090.000 đồng (Hai tỉ, không trăm bảy mươi mốt triệu, không trăm chín mươi đồng).
- - Thời hạn và phương thức trả nợ sẽ do Chi cục Thi hành án dân sự quận Cái Răng, thành phố Cần Thơ điều chỉnh.
- - Đình chỉ yêu cầu phản tố của bị đơn ông Hoàng Quốc L do rút yêu cầu.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về nghĩa vụ chậm trả tiền, chi phí tố tụng giám định chữ ký, án phí và quyền kháng cáo của đương sự theo luật định.
Tại đơn kháng cáo đề ngày 24/9/2024, bị đơn ông Hoàng Quốc L yêu cầu cấp phúc thẩm không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Tại phiên tòa phúc thẩm,
Bị đơn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát:
Về tố tụng: Hoạt động tố tụng của người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng đã tuân thủ các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung: Qua phân tích, đánh giá các tài liệu chứng cứ và tình tiết, dữ kiện liên quan cho thấy: Bản án sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ. Bị đơn kháng cáo nhưng không cung cấp được chứng cứ mới. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử “Giữ nguyên bản án sơ thẩm”.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
- [1]Kháng cáo của bị đơn ông Hoàng Quốc Ltrong thời hạn luật định, có nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm nên hợp lệ.
- [2] Theo đơn khởi kiện của nguyên đơn, phản tố của bị đơn và chứng cứ đã thẩm tra cho thấy: Các đương sự tranh chấp về Hợp đồng mua bán hàng hóa, trong đó bị đơn cư trú tại địa giới hành chính quận C nên Tòa án nhân dân quận Cái Răng thụ lý, giải quyết và xác định quan hệ pháp luật là có căn cứ, đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- [3] Sau khi xét xử sơ thẩm, nguyên đơn và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không kháng cáo.
Riêng, bị đơn ông Hoàng Quốc L cho rằng: Giữa nguyên đơn với bị đơn không thực hiện giao dịch mua bán hàng hóa, bị đơn không nợ như bản án sơ thẩm đã tuyên nên kháng cáo yêu cầu cấp phúc thẩm không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
-
[4] Về thủ tục tố tụng (tại cấp phúc thẩm):
-
[4.1] Về sự vắng mặt của người tham gia tố tụng:
Trong vụ án, nguyên đơn ông Cao Văn C không kháng cáo nhưng có liên quan đến việc kháng cáo nên Tòa án triệu tập đương sự tham gia phiên tòa phúc thẩm. Nhưng, ông C (là nguyên đơn, đồng thời là đại diện theo ủy quyền của người liên quan bà Phạm Chúc G) có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành phiên tòa xét xử vụ án theo quy định tại khoản 2 Điều 296 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
-
[4.2] Về yêu cầu trưng cầu giám định:
Theo hồ sơ vụ án thể hiện: Tiến trình tố tụng tại cấp sơ thẩm, bà Lê Thị Ngọc T1 (người đại diện cho bị đơn) có Đơn đề nghị trưng cầu giám định tuổi mực và dấu hiệu chỉnh sửa số “3” thành số “8” trong Biên nhận đề ngày 31/8/2020 (Bút lục: 49). Tuy nhiên, tại phiên hòa giải ngày 08/5/2024, bà T1 xác định: chưa cần thiết yêu cầu giám định vấn đề này (Bút lục: 97). Trong khi, nguyên đơn đã cung cấp Biên nhận đề ngày 31/8/2020 (Bút lục: 09) được thiết lập giữa hai bên nên trường hợp phản đối (như trường hợp cụ thể của vụ án) thì bị đơn có nghĩa vụ phải thu thập, cung cấp, giao nộp cho Tòa án tài liệu, chứng cứ chứng minh cho sự phản đối đó theo quy định tại khoản 2 Điều 91 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nhưng ở đây, bị đơn không thực hiện quyền/nghĩa vụ tương ứng. Bên cạnh đó, thời gian qua phía bị đơn cũng không tự mình yêu cầu tổ chức, cá nhân thực hiện giám định (khoản 3 Điều 160 của Bộ luật Tố tụng dân sự) để cung cấp Kết luận giám định có giá trị phủ định sự việc như bị đơn trình bày. Do đó, tại phiên tòa phúc thẩm bà T1 yêu cầu giám định vấn đề trên không được chấp nhận.
Nên vụ án được tiếp tục giải quyết theo thủ tục chung và các tài liệu, chứng cứ có liên quan được xem xét đánh giá toàn diện trong tổng thể các tình tiết của vụ án.
-
[4.1] Về sự vắng mặt của người tham gia tố tụng:
- [5] Căn cứ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, yêu cầu kháng cáo và diễn biến tại phiên tòa phúc thẩm, Hội đồng xét xử chỉ xem xét phần có kháng cáo theo quy định tại Điều 293 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
-
[6] Xét kháng cáo của đương sự:
-
[6.1] Dẫn chiếu nội dung Biên nhận đề ngày 31/8/2020 thể hiện:
Tổng cộng số lượng lúa mà C giao cho L là 288.600 kg lúa ĐT8 và lúa ST24 số lượng là 111.932 kg.
(Ký và ghi rõ họ tên Hoàng Quốc L).
Điều này hoàn toàn phù hợp với Biên nhận ngày 15/8/2020 của ông Cao Văn C về việc có ứng của Hoàng Quốc L 500.000.000 đồng (Năm trăm triệu đồng) tiền trả sà lan lúa 2ST24 (Bút lục: 07). Nên có căn cứ tin hai bên xác lập giao dịch mua bán lúa tương ứng thời gian này là có thật.
-
[6.2] Quá trình tố tụng, bị đơn không thừa nhận chữ ký trong biên nhận (nêu trên) và cho rằng chỉ có giao dịch vào tháng 3/2020 chứ không có giao dịch tháng 8/2020 và cho rằng có dấu hiệu chỉnh sửa số “3” thành số “8”.
Nhưng, như đã phân tích tại đoạn [4.2] phía bị đơn không chứng minh được về phản đối của mình. Trong khi, tại Kết luận giám định số 112/KL-KTHS-TL ngày 30/8/2024 và Văn bản số 149/KLHS ngày 16/9/2024 về đính chính Kết luận giám định của Phòng K Công an thành phố C xác định: Biên nhận đề ngày 31/8/2020 có chữ ký, chữ viết do cùng một người ký, viết ra (Hoàng Quốc L) – Bút lục: 163, 165.
Hơn nữa, căn cứ bản án dân sự sơ thẩm số 66/2021/DSST ngày 07/7/2021 của Tòa án nhân dân quận Cái Răng và bản án dân sự phúc thẩm số 92/2022/DSPT ngày 12/5/2022 của Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ đã thể hiện sự việc giữa nguyên đơn và bị đơn có giao dịch mua bán lúa với nhau, không lập hợp đồng mua bán bằng văn bản mà thông qua hình thức thỏa thuận miệng, theo đó bị đơn đến nhận hàng trực tiếp của nguyên đơn, rồi ký biên nhận sau khi đã nhận đủ hàng hóa. Điều đó cho thấy: sự kiện giữa nguyên – bị đơn đã được giải quyết bằng bản án có hiệu lực pháp luật. Nên đây là tình tiết, sự kiện không phải chứng minh theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 92 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Và theo các bản án có hiệu lực đã tách giao dịch liên quan đến Biên nhận ngày 15/8/2020 và Xác nhận số lượng lúa ngày 31/8/2020 thành vụ kiện khác (Bút lục: 6 - 7, đoạn [2.4.2]) nên khi đáp ứng các điều kiện được viện dẫn, nguyên đơn khởi kiện lại vụ án (bị tách) là có căn cứ.
Đối vớiông Hoàng Quốc Lvà bà Bùi Thị Lan Plà vợ chồng nên trong quan hệ hôn nhân thì vợ chồng tham gia thiết lập giao dịch trong các mục đích cũng nhằm tạo ra thu nhập để xây dựng kinh tế gia đình nói chung và đáp ứng nhu cầu tương ứng của mỗi gia đình nói riêng. Ở đây, ông L và bà P cũng không thiết lập thỏa thuận nào khác về tạo lập tài sản hay nghĩa vụ của vợ/chồng trong thời kỳ hôn nhân nên tài sản hay nghĩa vụ (nếu có) đều được xác định tài sản chung/nghĩa vụ chung theo những quy định cơ bản nhất của pháp luật về hôn nhân và gia đình. Do đó, vợ/chồng phải chịu trách nhiệm liên đới với giao dịch do một bên thực hiện theo quy định tại Điều 27 Luật Hôn nhân và Gia đình.
Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm buộc ông Hoàng Quốc Lvà bà Bùi Thị Lan Pcó nghĩa vụ trả số tiền còn nợ, có khấu trừ số tiền tạm ứng trước đó: [(288.600kg lúa Đài Thơm 8 x 6.000 đồng/01kg) + (111.932kg lúa ST24 x 7.500 đồng/01kg)] – 500.000.000 đồng (tiền ứng) = 2.071.090.000 đồng là đúng quy định tại Điều 440 Bộ luật Dân sự năm 2015.
Việc nguyên đơn không yêu cầu trả lãi trên số tiền chậm trả, đây là sự tự định đoạt của nguyên đơn và hoàn toàn có lợi cho phía bị đơn nên không đặt ra xem xét là phù hợp.
-
[6.1] Dẫn chiếu nội dung Biên nhận đề ngày 31/8/2020 thể hiện:
- [7] Trên cơ sở yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên cấp sơ thẩm buộc bị đơn phải án phí sơ thẩm có giá ngạch và chi phí tố tụng về giám định chữ ký là đúng quy định tại các Điều 147 và 161 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- [8] Bị đơn kháng cáo nhưng không cung cấp được chứng cứ mới chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp nên không có cơ sở chấp nhận.
-
[9] Về án phí dân sự phúc thẩm:
Kháng cáo của bị đơn không được chấp nhận nên đương sự phải chịu án phí phúc thẩm theo quy định tại Điều 148 của Bộ luật Tố tụng dân sự vfa hướng dẫn tại Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 31/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án.
- [10] Từ những phân tích trên, đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp.
-
[11] Những phần khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực thi hành và đảm bảo giá trị pháp lý ràng buộc. Tuy nhiên, cấp phúc thẩm có điều chỉnh về cách tuyên trong khuôn khổ luật định.
Riêng, đối với quyết định của bản án có tuyên “Thời hạn và phương thức trả nợ sẽ do Chi cục Thi hành án dân sự quận Cái Răng, thành phố Cần Thơ điều chỉnh”. Thực tế, trong vụ án các đương sự không có sự thống nhất thỏa thuận về thời gian và phương thức giao trả tiền nên vấn đề này thuộc thẩm quyền của cơ quan chức năng theo pháp luật về thi hành án dân sự và cụ thể trong bản án cũng đã thể hiện quyền/nghĩa vụ của người có quyền thỏa thuận, yêu cầu, tự nguyện hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự đã bao hàm tổng thể các lý do này. Nên việc tuyên này là không cần thiết. Cấp sơ thẩm cần rút kinh nghiệm chung.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Hoàng Quốc L.
Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số: 154/2024/DS-ST ngày 17 tháng 9năm 2024 của Tòa án nhân dân quận Cái Răng, thành phố Cần Thơ (có điều chỉnh về cách tuyên).
Áp dụng:
- - Các Điều 430 và 440 Bộ luật Dân sự năm 2015;
- - Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
-
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Cao Văn C.
Buộc ông Hoàng Quốc Lvà bà Bùi Thị Lan Pcó nghĩa vụ trả cho nguyên đơn tổng số tiền 2.071.090.000 đồng (Hai tỷ không trăm bảy mươi mốt triệu không trăm chín mươi nghìn đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.
-
Về án phí dân sự:
-
- Án phí sơ thẩm:
+ Ông Hoàng Quốc L và bà Bùi Thị Lan Pphải chịu 73.421.800 đồng án phí dân sự. Khấu trừ 32.673.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 003226 ngày 23/01/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Cái Răng. Nên ông L và bà P phải nộp thêm số tiền là 40.748.800 đồng (Bốn mươi triệu bảy trăm bốn mươi tám nghìn tám trăm đồng).
+ Nguyên đơn ông Cao Văn C được nhận lại 43.943.000 đồng (Bốn mươi ba triệu chín trăm bốn mươi ba nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0003058 ngày 10/11/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Cái Răng, thành phố Cần Thơ.
-
- Án phí phúc thẩm:
Ông Hoàng Quốc L phải chịu 300.000 đồng. Chuyển tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0003710 ngày 01/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Cái Răng thành án phí phải chịu (đã thực hiện xong).
-
- Án phí sơ thẩm:
-
Về chi phí giám định chữ ký (chi phí tố tụng):
Bị đơn phải chịu chi phí tố tụng với số tiền là 6.782.000 đồng (Sáu triệu bảy trăm tám mươi hai nghìn đồng) – đã thực hiện xong.
- Những phần khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị nên được thi hành theo quyết định của bản án sơ thẩm.
-
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
CÁC THẨM PHÁN |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
Nguyễn Thị Trang Thư |
Nơi nhận:
- - Đương sự;
- - VKSND thành phố Cần Thơ;
- - TAND quận Cái Răng;
- - Chi cục THADS quận Cái Răng;
- - Lưu hồ sơ vụ án.
Bản án số 80/2025/DS-PT ngày 06/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ về tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa
- Số bản án: 80/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hợp đồng mua bán hàng hóa
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 06/03/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Hợp đồng mua bán hàng hóa
