Hệ thống pháp luật
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN MƯỜNG TÈ
TỈNH LAI CHÂU
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 80/2024/HSST
Ngày: 25/7/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG TÈ, TỈNH LAI CHÂU

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Văn Bình.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lý Ngọc Sáng, Ông Bùi Thanh Hải.

Thư ký phiên tòa: Bà Lâm Thị Tuyết- Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Tè tham gia phiên tòa: Ông Võ Văn Tuấn- Kiểm sát viên.

Trong ngày 25 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 77/2024/TLST-HS ngày 04 tháng 6 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 80/2024/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 7 năm 2024 đối với các bị cáo:

  1. Vũ Ngọc H, sinh năm 1988, tại huyện Y, tỉnh Bắc Giang.

    Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Bản Bó, xã M, huyện M, tỉnh Lai Châu; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ văn hoá: 9/12; Chức vụ đoàn thể, chính quyền: Không; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Vũ Văn T (đã chết) và con bà: Nguyễn Thị H1, sinh năm 1962; Bị cáo có vợ: Tống Thị L, sinh năm 1996 và có 02 con, con lớn sinh năm 2020, con nhỏ sinh năm 2022; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 11/3/2024 đến ngày 20/3/2024 được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú tại xã M, huyện M, tỉnh Lai Châu, đến nay có mặt tại phiên tòa.

  2. Vũ Văn S, sinh năm 1984, tại huyện T, tỉnh Thanh Hóa.

    Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Khu phố H, thị trấn M, huyện M, tỉnh Lai Châu; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ văn hoá: 12/12; Chức vụ đoàn thể, chính quyền: Không; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Vũ Đình P (đã chết) và con bà: Lê Thị C, sinh năm 1947; Bị cáo có vợ: Nguyễn Thị X, sinh năm 1985 và có 02 con, con lớn sinh năm 2004, con nhỏ sinh năm 2012; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 11/3/2024 đến ngày 20/3/2024 được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú tại thị trấn M, huyện M, tỉnh Lai Châu, đến nay có mặt tại phiên tòa.

  3. Nguyễn Thị T1, sinh năm 1980, tại huyện N, tỉnh Nam Định.

    Nơi ĐKHKTT: Xóm I, xã N, huyện N, tỉnh Nam Định; Nơi đăng ký tạm trú và chỗ ở: Khu phố G, thị trấn M, huyện M, tỉnh Lai Châu; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ văn hoá: 5/12; Chức vụ đoàn thể, chính quyền: Không; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Văn N, sinh năm 1952 và con bà: Trần Thị T2, sinh năm 1950 Bị cáo có chồng: Bùi Văn Đ, sinh năm 1973 và có 02 con, con lớn sinh năm 1997, con nhỏ sinh năm 1999; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 11/3/2024 đến ngày 20/3/2024 được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú tại thị trấn M, huyện M, tỉnh Lai Châu, đến nay có mặt tại phiên tòa.

  4. Nguyễn Văn T3, sinh năm 1983, tại huyện T, tỉnh Phú Thọ.

    Nơi ĐKHKTT: Khu H, xã M, huyện Y, tỉnh Phú Thọ; Nơi đăng ký tạm trú và chỗ ở: Bản Bó, xã M, huyện M, tỉnh Lai Châu; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ văn hoá: 5/12; Chức vụ đoàn thể, chính quyền: Không; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Văn T4 (đã chết) và con bà: Phạm Thị S1, sinh năm 1952; Bị cáo có vợ; Đinh Thị H2, sinh năm 1977 (đã ly hôn), bị cáo có 02 con, con lớn sinh năm 2010, con nhỏ sinh năm 2015; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 11/3/2024 đến ngày 20/3/2024 được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú tại thị trấn M, huyện M, tỉnh Lai Châu, đến nay có mặt tại phiên tòa.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Ông Phạm Bình Đ1, sinh năm 1967

Địa chỉ: Khu phố I, thị trấn M, huyện M, tỉnh Lai Châu. Xin vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do quen biết với nhau từ trước, khoảng 15 giờ ngày 11/3/2024, trong lúc ngồi chơi một mình tại quán cơm phở “T" thuộc khu phố A, thị trấn M, huyện M do ông Phạm Bình Đ1, sinh năm 1967, trú tại khu phố I, thị trấn M quản lý và sử dụng. Vũ Ngọc H, sinh năm 1988, trú tại bản Bó, xã M, huyện M dùng điện thoại di động gọi điện cho Nguyễn Văn T3, sinh năm 1983, trú cùng bản và Vũ Văn S, sinh năm 1984, trú tại khu phố H, thị trấn M đến quán C1 để uống nước. Sau khi nghe điện thoại từ H, T3 có gọi điện thoại cho Nguyễn Thị T1, sinh năm 1980, trú tại khu phố G, thị trấn M đến uống nước cùng. Tuy nhiên, do T1, T3 và S đều có việc bận nên không ai đi ra quán cơm phở uống nước cùng H. Khoảng 17 giờ cùng ngày, S (có mang theo trên người số tiền 10.000.000 đồng) và T3 (có mang theo trên người số tiền 11.000.000 đồng) đi ra quán cơm phở thì gặp H đang ngồi uống nước một mình ở đó. Trong lúc ngồi uống nước, cả ba người đã cùng rủ nhau đánh bài ăn tiền dưới hình thức đánh sâm. Do biết phòng số 2, tầng 3 của quán cơm phở không có người ở nên cả ba người đã cùng nhau đi lên đó để đánh bài ăn tiền. Khi đi lên phòng, cả ba người nhìn thấy trong phòng 3 có rải sẵn một chiếc chiếu nhựa, trên chiếc chiếu có rải một tấm thảm và đặt bộ máy tính để bàn, có kết nối mạng. Tại góc phòng có một tấm bạt màu trắng, trên một mặt của tấm bạt có in sẵn 04 hình vuông với số lượng các hình tròn và màu sắc khác nhau gồm 01 ô in 04 hình tròn màu đen, phía dưới các hình tròn ghi 1=10, 01 ô in 04 hình tròn màu trắng, phía dưới các hình tròn ghi 1=10, 01 ô in 03 hình tròn màu đen, phía dưới các hình tròn ghi 2=7, 01 ô hình in ba hình tròn màu trắng, phía dưới các hình tròn ghi 2=7. Do chỉ có ba người và có sẵn máy tính kết nối mạng nên cả ba người thống nhất sẽ đánh bạc ăn tiền dưới hình thức xóc đĩa. Để khách quan, cả ba người thống nhất bật máy tính để tìm một trang mạng có trò chơi xóc đĩa để lấy kết quả trên trang mạng làm kết quả đánh bạc. Khi H, T3, S đang xem cách chơi xóc đĩa trên máy tính thì có Nguyễn Thị T1 đi vào (T1 có mang theo số tiền 2.802.000 đồng). Sau đó, cả bốn người thống nhất sử dụng kết quả xóc đĩa trên trang mạng để làm kết quả đánh bạc ăn tiền. Do Vũ Ngọc H có nhiều tiền nhất (Khoảng hơn 21.000.000 đồng) nên cả nhóm thống nhất sẽ để H làm cái và thoả thuận luật chơi như sau: Căn cứ kết quả của từng lượt chơi trên máy tính, người chơi sẽ đặt cược, số tiền đặt cược tối thiểu mỗi lượt là 10.000 đồng, số tiền đặt cược tối đa là 200.000 đồng. Trên trang mạng trò chơi xóc đĩa sử dụng 04 viên xúc xắc, 01 chiếc đĩa và 01 cái bát để làm công cụ trò chơi. Thời gian để đặt cược của mỗi lượt là 45 giây. Người chơi sẽ đặt cược vào một trong hai cửa là chẵn hoặc lẻ với quy ước: Khi mở bát nếu có 02 cặp quân vị cùng màu hoặc 04 quân vị cùng màu thì kết quả được tính là chẵn. Nếu có 03 quân vị cùng màu và 01 quân vị khác màu thì được tính là lẻ. Người chơi thắng thì ngoài số tiền đặt cược sẽ được H trả thêm số tiền bằng số tiền đặt cược còn người chơi thua thì sẽ bị mất số tiền đã đặt cược. Do H là người làm cái nên H yêu cầu người chơi nếu chọn kết quả chẵn thì đặt tiền phía bên tay phải của H, còn nếu chọn kết quả lẻ thì đặt tiền phía bên tay trái của H. Ngoài ra, do có tấm bạt in sẵn 04 ô vuông có số lượng hình tròn và màu sắc khác nhau nên cả nhóm thống nhất sẽ đặt cược thêm kết quả theo số hình tròn in trên tấm bạt này, theo đó: Nếu kết quả trên trang mạng là 04 quân vị màu đỏ sẽ tương đương với ô có 04 hình tròn màu đen trên tấm bạt hoặc 04 quân vị màu trắng sẽ tương đương với ô có 04 hình tròn màu trắng trên tấm bạt thì tỷ lệ 1=10, nghĩa là nếu thắng thì người chơi sẽ được người cầm cái trả số tiền gấp 10 lần số tiền đặt cược, nếu thua thì người chơi chỉ bị mất số tiền đặt cược. Nếu kết có quả là 03 quân vị màu đỏ và 01 quân vị trăng sẽ tương đương với ô có in 03 hình tròn màu đen in trên tấm bạt hoặc ba quân vị màu trắng và 01 quân vị đỏ sẽ tương ứng với ô có in ba hình tròn màu trắng trên tấm bạt thì tỷ lệ 2=7, nghĩa là nếu người chơi thắng sẽ được người cầm cái trả số tiền gấp 3,5 lần số tiền đặt cược, còn nếu người chơi thua sẽ chỉ bị mất số tiền đã đặt cược. Hồi 18 giờ 00 phút ngày 11/3/2024, trong khi H, S, T3 và T1 đang cùng nhau đánh bạc thì bị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện M phát hiện, bắt quả tang. Vật chứng thu giữ trên chiếu bạc gồm có: Số tiền 22.560.000 đồng; 01 tấm bạt màu trắng 04 ô vuông, mỗi ô đều in số lượng hình tròn và màu sắc khác nhau, 01 chiếc chiếu nhựa, 01 tấm thảm; 01 bộ máy tính để bàn (gồm màn hình, chuột và bàn phím); 01 bộ phát Wifi tp-link màu đen; 01 ổ điện màu trắng đục, dây điện màu vàng, phích cắm màu trắng và 01 bộ loa Genius màu đen.

Ngoài ra, Cơ quan điều tra còn thu giữ trên người Vũ Ngọc H 01 chiếc điện thoại Nokia 105 (có gắn kèm thẻ sim); thu giữ trên người Nguyễn Văn T3 số tiền 10.210.000 đồng và 01 chiếc điện thoại Iphone 11 Promax (có gắn kèm thẻ sim); thu giữ trên người của Vũ Văn S số tiền 10.050.000 đồng và 01 chiếc điện thoại Iphone 13 Promax (có gắn kèm thẻ sim); thu giữ trên người của Nguyễn Thị T1 số tiền 2.782.000 đồng và 01 chiếc điện thoại Iphone 14 Promax (có gắn kèm thẻ sim). Quá trình điều tra vụ án, Cơ quan CSĐT Công an huyện M đã xác định được đối với số tiền 10.210.000 đồng thu giữ trên người của Nguyễn Văn T3 thì số tiền 10.000.000 đồng, T3 không dùng vào việc đánh bạc. Các điện thoại di động, các bị cáo cũng không sử dụng vào việc đánh bạc.

Tại bản kết luận giám định số 310 ngày 18/3/2024 của Phòng K Công an tỉnh L kết luận: Tổng số tiền 45.602.000 đồng tiền Việt Nam gửi giảm định là tiền thật (Kết luận giám định kèm theo bảng thống kê số tiền gửi giám định của Phòng K Công an tỉnh L).

Tại bản cáo trạng số 39/CT- VKS-MT ngày 04/6/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Tè truy tố các bị cáo Vũ Ngọc H, Vũ Văn S, Nguyễn Thị T1 và Nguyễn Văn T3 về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự. Tại phiên tòa Kiểm sát viên giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố các bị cáo Vũ Ngọc H, Vũ Văn S, Nguyễn Thị T1 và Nguyễn Văn T3 về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự. Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 35; điểm b khoản 1 Điều 32; Điều 50 Bộ luật hình sự đối với các bị cáo Vũ Ngọc H và Nguyễn Thị T1. Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 35; điểm b khoản 1 Điều 32; Điều 50 Bộ luật hình sự đối với các bị cáo Vũ Văn S và Nguyễn Văn T3.

Đề nghị xử phạt bị cáo Vũ Ngọc H từ 40.000.000 đồng đến 45.000.000 đồng; đề nghị xử phạt các bị cáo Vũ Văn S, Nguyễn Thị T1 và Nguyễn Văn T3 mỗi bị cáo từ 25.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng. Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo vì các bị cáo bị đề nghị hình phạt chính là phạt tiền. Về án phí các bị cáo Vũ Ngọc H, Vũ Văn S, Nguyễn Thị T1 và Nguyễn Văn T3 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Xử lý vật chứng, đề nghị áp dụng điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy: 1 (Một) tấm bạt màu trắng, viền màu đen (tờ bảng quân vị) kích thước 42cm x 44cm, trên một mặt của tấm bạt có in sẵn 04 hình vuông kích thước tương tự nhau 19cm x 19cm gồm: 01 ô có 04 hình tròn màu đen bên dưới có chữ 1 = 10 màu đỏ; 01 ô có 04 hình tròn màu trắng, viền đen bên dưới có chữ 1 = 10 màu đỏ; 01 ô có 03 hình tròn màu đen, bên dưới có chữ 2 = 7 màu đỏ; 01 ô có 03 hình tròn màu trắng, viền đen bên dưới có chữ 2 = 7 màu đỏ và mặt còn lại không in gì.

Đối với số tiền: 45.602.000 đồng (Bốn mươi năm triệu sáu trăm linh hai nghìn đồng) tiền Việt Nam gồm: 48 tờ tiền Polymer mệnh giá 500.000 đồng, 45 tờ tiền Polymer mệnh giá: 200.000 đồng, 101 tờ tiền Polymer mệnh giá 100.000 đồng, 39 tờ tiền Polymer mệnh giá 50.000 đồng, 15 tờ tiền Polymer mệnh giá 20.000 đồng, 25 tờ tiền Polymer mệnh giá 10.000 đồng và 01 tờ tiền catton mệnh giá 2.000 đồng (Mã số hiệu được thống kê theo kết luận giám định số: 310/KL-KTHS, ngày 18/3/2024 của Phòng K - Công an tỉnh L). Trong đó có 10.000.000 đồng của Nguyễn Văn T3 do không liên quan đến việc đánh bạc nên cần trả lại cho bị cáo. Đối với số tiền 35.602.000 đồng cần tịch thu sung quỹ Nhà nước.

Các bị cáo Vũ Ngọc H, Vũ Văn S, Nguyễn Thị T1 và Nguyễn Văn T3 nhất trí với bản cáo trạng, bản luận tội của Viện kiểm sát, không bổ sung gì. Lời nói sau cùng các bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa và có đơn không đề nghị gì nên không đề cập giải quyết.

Căn cứ vào các chứng cứ tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, các bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và những người tham gia tố tụng khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện M, tỉnh Lai Châu- Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu- Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều phù hợp.

[2] Xét tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên Tòa và trong quá trình điều tra bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Lời nhận tội phù hợp với lời khai nhận tội tại cơ quan điều tra, biên bản thu giữ, niêm phong vật chứng, kết luận giám định, các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa. Tòa án đã có đủ căn cứ kết luận: Hồi 18 giờ 00 ngày 11/3/2024, tại quán C1 "T” do ông Phạm Bình Đ2 quản lý và sử dụng thuộc khu phố A, thị trấn M, huyện M, tỉnh Lai Châu, Vũ Ngọc H, Vũ Văn S, Nguyễn Văn T3 và Nguyễn Thị T1 đang cùng nhau đánh bạc trái phép dưới hình thức xóc đĩa với tổng số tiền là 35.602.000 đồng thì bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện M phát hiện, bắt quả tang. Hành vi phạm tội của các bị cáo đã phạm vào tội "Đánh bạc" theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu truy tố các bị cáo là đúng người đúng tội, đúng quy định pháp luật.

Hành vi nêu trên của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự công cộng, nếp sống văn minh xã hội chủ nghĩa, gây mất trật tự trị an trên địa bàn, các bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Vì vậy cần có một mức án tương xứng với hành vi phạm tội của các bị cáo để cải tạo, giáo dục và răn đe phòng ngừa tội phạm chung.

[3] Về tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự thấy:

Đối với các bị cáo Vũ Ngọc H, Vũ Văn S, Nguyễn Thị T1 và Nguyễn Văn T3: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, các bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Nên cần cho các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm i, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Với hành vi phạm tội của các bị cáo đáng lẽ cần phải áp dụng hình phạt tù có điều kiện và chịu sự quản lý, giám sát của chính quyền địa phương nơi cư trú, nhưng xét các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự và có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự các bị cáo Vũ Văn S, Nguyễn Văn T3 có ông, bà, bố mẹ là người có công với Nhà nước nên cần áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Các bị cáo đều có nhân thân tốt, có địa chỉ cư trú rõ ràng nên căn cứ đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, ý kiến của các bị cáo. Hội đồng xét xử cần áp dụng điểm b khoản 1 Điều 32; Điều 35 Bộ luật hình sự để quyết định hình phạt cho các bị cáo Vũ Ngọc H, Vũ Văn S, Nguyễn Thị T1 và Nguyễn Văn T3, như vậy cũng đủ để giáo dục bị cáo, thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.

Trên cơ sở tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội và nhân thân của bị cáo về hành vi phạm tội của mình, Hội đồng xét xử xét thấy không nhất thiết phải xử phạt tù đối với các bị cáo Vũ Ngọc H, Vũ Văn S, Nguyễn Thị T1 và Nguyễn Văn T3 mà áp chỉ cần áp dụng hình phạt chính là phạt tiền cũng đủ răn đe cải tạo, giáo dục các bị cáo thành người có ích cho xã hội. Do đó mức đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là hoàn toàn phù hợp đối với từng bị cáo, Hội đồng xét xử cần chấp nhận.

[4] Xét vai trò của các bị cáo trong vụ án này:

Đây là vụ án đồng phạm giản đơn. Các bị cáo đều là những người trực tiếp thực hiện tội phạm. Việc đánh bạc là do các bị cáo chủ động, không bị ai rủ rê, lôi kéo hay xúi giục. Các bị cáo đánh bạc là ngẫu nhiên, không thường xuyên. Nên khi lượng hình cần xem xét vào mức tiền của các bị cáo để quyết định hình phạt cho từng bị cáo.

[5] Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo Vũ Ngọc H, Vũ Văn S, Nguyễn Thị T1 và Nguyễn Văn T3, được áp dụng hình phạt chính là phạt tiền nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

[6] Về xử lý vật chứng. Đối với số tiền 45.602.000 đồng (bốn mươi năm triệu sáu trăm linh hai nghìn đồng) tiền Việt Nam gồm: 48 tờ tiền Polymer mệnh giá 500.000 đồng, 45 tờ tiền Polymer mệnh giá: 200.000 đồng, 101 tờ tiền Polymer mệnh giá 100.000 đồng, 39 tờ tiền Polymer mệnh giá 50.000 đồng, 15 tờ tiền Polymer mệnh giá 20.000 đồng, 25 tờ tiền Polymer mệnh giá 10.000 đồng và 01 tờ tiền catton mệnh giá 2.000 đồng (Mã số hiệu được thống kê theo kết luận giám định số: 310/KL-KTHS, ngày 18/3/2024 của Phòng K - Công an tỉnh L). Trong đó có 35.602.000 đồng là tiền các bị cáo dùng để đánh bạc cần tịch thu sung quỹ Nhà nước. Đối với số tiền 10.000.000 đồng thu giữ của Nguyễn Văn T3, quá trình điều tra xác định T3 không dùng để đánh bạc nên cần trả lại cho bị cáo khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Đối với 1 (một) tấm bạt màu trắng, viền màu đen (tờ bảng quân vị) kích thước 42cm x 44cm, trên một mặt của tấm bạt có in sẵn 04 hình vuông kích thước tương tự nhau 19cm x 19cm gồm: 01 ô có 04 hình tròn màu đen bên dưới có chữ 1 = 10 màu đỏ; 01 ô có 04 hình tròn màu trắng, viền đen bên dưới có chữ 1 = 10 màu đỏ; 01 ô có 03 hình tròn màu đen, bên dưới có chữ 2 = 7 màu đỏ; 01 ô có 03 hình tròn màu trắng, viền đen bên dưới có chữ 2 = 7 màu đỏ và mặt còn lại không in gì. Mặc dù các vật chứng này không phải của các bị cáo nhưng đây là phương tiện dùng vào việc phạm tội, không còn giá trị sử dụng. Cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 chiếc chiếu nhựa, 01 tấm thảm; 01 bộ máy tính để bàn (gồm màn hình, chuột và bàn phím); 01 bộ phát Wifi tp-link màu đen; 01 ổ điện màu trắng đục, dây điện màu vàng, phích cắm màu trắng và 01 bộ loa Genius màu đen. Đây đều là tài sản thuộc quyền sở hữu hợp pháp của ông Phạm Bình Đ1, việc các bị cáo sử dụng vào việc phạm tội thì ông Phạm Bình Đ1 không biết. Do đó, cơ quan điều tra đã ra quyết định xử lý vật chứng bằng hình thức trả lại những tài sản này cho ông Đ1. Đối với 01 chiếc điện thoại Nokia 105 (có gắn kèm thẻ sim), 01 chiếc điện thoại Iphone 11 Promax (có gắn kèm thẻ sim), 01 chiếc điện thoại Iphone 13 Promax (có gắn kèm thẻ sim) và 01 chiếc điện thoại Iphone 14 Promax (có gắn kèm thẻ sim). Do những tài sản này không phải là vật chứng của vụ án và chủ sở hữu hợp pháp đã có đơn xin lại tài sản nên cơ quan điều tra đã ra quyết định xử lý vật chứng bằng hình thức trả lại tài sản cho chủ sở hữu hợp pháp. Hội đồng xét xử chấp nhận và không đề cập giải quyết.

Việc các bị cáo cùng nhau đánh bạc tại địa điểm do ông Phạm Bình Đ2 quản lý, sử dụng: Tại thời điểm các bị cáo đánh bạc, ông Đ2 không ở nhà và không biết các bị cáo đánh bạc nên không phạm tội tổ chức đánh bạc. Ông Đ1 và các bị cáo có mối quan hệ quen biết và ông Đ1 không có ý kiến hay yêu cầu gì nên không xem xét xử lý các bị cáo về hành vi xâm phạm chỗ ở của người khác. Hội đồng xét xử chấp nhận và không đề cập giải quyết.

Đối với việc các bị cáo đánh bạc với số tiền 35.602.000 đồng: Việc đánh bạc là do các bị cáo chủ động, không bị ai rủ rê, lôi kéo hay xúi giục. Các bị cáo đánh bạc là ngẫu nhiên, không thường xuyên và số tiền đánh bạc đã làm căn cứ để truy cứu trách nhiệm hình sự về tội đánh bạc nên không xem xét xử lý đối với các bị cáo về tội tổ chức đánh bạc theo quy định tại Điều 322 BLHS. Hội đồng xét xử chấp nhận và không đề cập giải quyết.

[7] Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt và không đề nghị gì nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.

[8] Án phí: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

[9] Quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại các Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 35; điểm b khoản 1 Điều 32; Điều 50; Điểm a, điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự. Khoản 2 Điều 106; Khoản 2 Điều 135; Khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Đối với các bị cáo Vũ Ngọc HNguyễn Thị T1.

Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 35; điểm b khoản 1 Điều 32; Điều 50; Điểm a, điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự. Khoản 2 Điều 106; Khoản 2 Điều 135; Khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Đối với các bị cáo Vũ Văn SNguyễn Văn T3.

1. Tuyên bố các bị cáo Vũ Ngọc H, Vũ Văn S, Nguyễn Thị T1Nguyễn Văn T3 phạm tội “Đánh bạc”.

Xử phạt các bị cáo Vũ Ngọc H 40.000.000 đồng (Bốn mươi triệu đồng).

Xử phạt các bị cáo Vũ Văn S, Nguyễn Thị T1, Nguyễn Văn T3. Mỗi bị cáo 25.000.000 đồng (hai mươi năm triệu đồng).

2. Xử lý vật chứng:

Tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 35.602.000 đồng (ba mươi năm triệu sáu trăm linh hai nghìn đồng). Trong tổng 45.602.000 đồng (bốn mươi năm triệu sáu trăm linh hai nghìn đồng) tiền Việt Nam gồm: 48 tờ tiền Polymer mệnh giá 500.000 đồng, 45 tờ tiền Polymer mệnh giá: 200.000 đồng, 101 tờ tiền Polymer mệnh giá 100.000 đồng, 39 tờ tiền Polymer mệnh giá 50.000 đồng, 15 tờ tiền Polymer mệnh giá 20.000 đồng, 25 tờ tiền Polymer mệnh giá 10.000 đồng và 01 tờ tiền catton mệnh giá 2.000 đồng (Mã số hiệu được thống kê theo kết luận giám định số: 310/KL-KTHS, ngày 18/3/2024 của Phòng K - Công an tỉnh L).

Trả lại cho bị cáo Nguyễn Văn T3 số tiền 10.000.000 đồng, trong tổng 45.602.000 đồng (bốn mươi năm triệu sáu trăm linh hai nghìn đồng) tiền Việt Nam gồm: 48 tờ tiền Polymer mệnh giá 500.000 đồng, 45 tờ tiền Polymer mệnh giá: 200.000 đồng, 101 tờ tiền Polymer mệnh giá 100.000 đồng, 39 tờ tiền Polymer mệnh giá 50.000 đồng, 15 tờ tiền Polymer mệnh giá 20.000 đồng, 25 tờ tiền Polymer mệnh giá 10.000 đồng và 01 tờ tiền catton mệnh giá 2.000 đồng (Mã số hiệu được thống kê theo kết luận giám định số: 310/KL-KTHS, ngày 18/3/2024 của Phòng K - Công an tỉnh L).

Tịch thu tiêu hủy: 1 (một) tấm bạt màu trắng, viền màu đen (tờ bảng quân vị) kích thước 42cm x 44cm, trên một mặt của tấm bạt có in sẵn 04 hình vuông kích thước tương tự nhau 19cm x 19cm gồm: 01 ô có 04 hình tròn màu đen bên dưới có chữ 1 = 10 màu đỏ; 01 ô có 04 hình tròn màu trắng, viền đen bên dưới có chữ 1 = 10 màu đỏ; 01 ô có 03 hình tròn màu đen, bên dưới có chữ 2 = 7 màu đỏ; 01 ô có 03 hình tròn màu trắng, viền đen bên dưới có chữ 2 = 7 màu đỏ và mặt còn lại không in gì.

(Vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện M và Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Mường Tè ngày 13/6/2024).

3. Án phí HSST: Các bị cáo Vũ Ngọc H, Vũ Văn S, Nguyễn Thị T1Nguyễn Văn T3 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai theo quy định pháp luật./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Lai Châu (01);
  • - VKS ND tỉnh Lai Châu (01);
  • - VKSND huyện Mường Tè (01);
  • - Công an huyện + THAHS (02);
  • - THADS huyện (01);
  • - Các bị cáo; NCQLNVLQ (05);
  • - Lưu HSVA (01);
  • - Lưu TA

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Vũ Văn Bình

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 80/2024/HSST ngày 25/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG TÈ, TỈNH LAI CHÂU về hình sự sơ thẩm (tội đánh bạc)

  • Số bản án: 80/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Tội Đánh bạc)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG TÈ, TỈNH LAI CHÂU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: ...
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger