Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ DUY TIÊN

TỈNH HÀ NAM

Bản án số:80/2024/HSST

Ngày 25-6-2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DUY TIÊN - HÀ NAM

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Ngọc Thuận

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Đức Liên; bà Đỗ Thị Liên

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Khánh Vy – Thư ký Tòa án

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Duy Tiên tham gia phiên tòa: Bà Ngô Thị Thanh Quý – Kiểm sát viên

Ngày 25 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Duy Tiên, tỉnh Hà Nam xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 73/2024/TLST – HS ngày 04/6/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 77/2024/QĐXXST – HS ngày 14 tháng 6 năm 2024 đối với:

Bị cáo: Trần Văn H sinh năm 1986; nơi cư trú: Thôn P, xã P, huyện L, tỉnh Hà Nam; giới tính: Nam; trình độ học vấn: 09/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông Trần Văn Đ và bà Trần Thị M; vợ: Phạm Thị Kiều T; con: 03 con, con lớn nhất sinh năm 2018, con nhỏ nhất sinh năm 2023; tiền án, tiền sự: Không. Tạm giữ, tạm giam: không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” từ ngày 19/3/2024 đến nay. Hiện bị cáo đang tại ngoại tại địa phương. Có mặt.

* Bị hại:

- Anh Hoàng Công L, sinh năm 2002; anh Đỗ Văn H1, sinh năm 1993; anh Nguyễn Đức M1, sinh năm 1986; cùng nơi cư trú: Tổ dân phố N, phường B, thị xã D, tỉnh Hà Nam. Đều vắng mặt.

- Anh Nguyễn Văn V, sinh năm 1986; nơi cư trú: Tổ dân phố G, phường B, thị xã D, tỉnh Hà Nam. Vắng mặt.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Chị Phạm Thị Kiều T, sinh năm 1983, nơi cư trú: Xóm A, thôn P, xã P, huyện L, tỉnh Hà Nam. Vắng mặt.

- Anh Nguyễn Phương C, sinh năm 1994, nơi cư trú: Phường M, quận N, thành phố Hà Nội. Vắng mặt.

- Người làm chứng: Anh Trần Mậu T1. Vắng mặt.

- Người chứng kiến: Ông Nguyễn Văn Á. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do có ý định lấy trộm các mắt C1 đem về nhà mình sử dụng nên khoảng 01 giờ 40 phút ngày 03/3/2024, Trần Văn H, một mình điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha - Sirius màu xanh đen, BKS 29E2-059.17 đi đến cửa hàng điện thoại “Lai Store” của anh Hoàng Công Ltổ dân phố N, phường B, thị xã D. Quan sát thấy cửa hàng đóng cửa, phía trước cửa hàng có gắn 01 chiếc Camera, nhãn hiệu EZVIZ, phần mắt làm bằng nhựa màu trắng, dạng cầu dẹt, bán kính 03cm gắn với phần đế hình tròn màu trắng, làm bằng nhựa, bán kính 3,2cm, không chứa thẻ nhớ), xung quanh không có người qua lại nên H cho xe mô tô BKS 29E2-059.17 dừng lại và dựng xe trước cửa quán, dùng tay phải lấy điện thoại di động nhãn hiệu Vsmart Live 4, màu xanh đen để ở trong túi quần ra, bật đèn flash soi để lấy trộm chiếc Camera này. Do chiếc Camera được gắn ở trên cao nên H không với tay lấy được. Huân tìm nhặt được một đoạn gậy kim loại dài khoảng 30cm và một đoạn dây nilon ở ven đường, ngay trước cửa quán cầm đi đến vị trí xe mô tô BKS 29E2-059.17, lấy một đoạn gậy bằng kim loại (kiểu gậy rút để chụp ảnh) ở trong cốp xe ra, dùng đoạn dây nilon vừa nhặt được buộc nối hai đoạn gậy kim loại vào với nhau, bẻ cong phần đầu đoạn gậy kim loại. Sau đó, H dùng tay phải cầm đoạn gậy kim loại vừa buộc nối được đi đến vị trí treo chiếc Camera, kéo dài chiếc gậy này ra, đưa phần đầu gậy được bẻ cong lên vị trí gắn chiếc Camera và giật chiếc Camera rơi xuống. Khi chiếc Camera bật khỏi giá treo và rơi xuống tầm với của H thì H dùng tay phải lấy chiếc Camera này và cầm ra vị trí mô tô BKS 29E2-059.17 để điều khiển xe đi về thì bị anh L phát hiện, giữ lại, và trình báo Công an phường B, thị xã D đến đưa H cùng tang vật thu giữ về trụ sở làm việc.

Quá trình điều tra còn xác định được trước đó Trần Văn H còn 03 lần lấy trộm Camera của các bị hại khác trên địa bàn phường D và phường B, thị xã D, cụ thể như sau:

+ Lần thứ nhất: Khoảng 01 giờ 00 phút ngày 03/3/2024, Trần Văn H điều khiển xe mô tô BKS 29E2-059.17 từ nhà mình đến đường H thuộc tổ dân phố N, phường D, thị xã D. Quan sát thấy ở bên trái đường có một quán bán nước của anh Nguyễn Đức M1, sinh năm 1986, cư trú tại tổ dân phố N, phường B có gắn 01 chiếc Camera (nhãn hiệu EZVIZ loại CS-C6N, số Sê-ri: L46123533; mắt Camera dạng hình cầu màu đen, được đặt trong vỏ nhựa màu trắng hình cầu có bán kính 04cm; được gắn với chân đế dạng hình trụ, làm bặng nhựa màu trắng có bán kính 04cm, cao 05cm, bên trong có lắp thẻ nhớ Micro SD loại 32 Gb có số: 3093DPDES17Q) ở trên cột bên ngoài cửa quán bán nước, bên trong quán tắt điện, xung quanh không có người qua lại nên H cho xe xe mô tô BKS 29E2-059.17 dừng lại. Sau đó, H dựng xe mô tô BKS 29E2-059.17 trên đường, đi bộ đến vị trí chiếc Camera, dùng tay phải cầm vào chiếc Camera rồi giật mạnh xuống thì lấy được chiếc Camera này. Huân cất giấu chiếc Camera vào bên trong áo khoác đang mặc, đi ra chỗ dựng xe mô tô BKS 29E2-059.17 và ngồi lên điều khiển xe đi tiếp.

+ Lần thứ hai: Sau khi lấy trộm được chiếc Camera của anh Nguyễn Đức M1, H tiếp tục điều khiển xe mô tô BKS 29E2 – 059.17 đi về hướng tổ dân phố N, phường B. Khi đi đến trước cửa quán của anh Nguyễn Văn V, sinh năm 1986, cư trú tại tổ dân phố G, phường B, thị xã D, lúc này khoảng 01 giờ 15 phút ngày 03/3/2024, H phát hiện thấy có 01 chiếc Camera (nhãn hiệu EZVIZ loại CS-C6N, số Sê-ri: D98769065; mắt Camera dạng hình cầu màu đen, được đặt trong vỏ nhựa màu trắng hình cầu có bán kính 04cm; được gắn với chân đế dạng hình trụ, làm bặng nhựa màu trắng có bán kính 04cm, cao 05cm; bên trong có lắp thẻ nhớ Micro SD loại 32 Gb có số: 032GA2Y8-Y23100308470) được gắn trên chiếc cột bên phải ở bên ngoài quán. H dừng xe mô tô BKS 29E2 – 059.17 ngay phía dưới chiếc Camera. Quan sát xung quanh và trong quán không có ai nên H đã dựng chân chống giữa của xe mô tô BKS 29E2 – 059.17, rồi trèo lên đứng trên yên xe và dùng tay phải cầm chiếc Camera được gắn ở trên cột giật xuống thì lấy được chiếc Camera này. Sau đó, H cho chiếc Camera vừa lấy được vào bên trong áo khoác mà H đang mặc rồi lên xe mô tô BKS 29E2 – 059.17 điều khiển đi tiếp.

+ Lần thứ ba: Đến khoảng 01 giờ 25 phút 03/3/2024, H điều khiển xe mô tô BKS 29E2 – 059.17 đến trước cửa quán tạp hóa của anh Đỗ Văn H1, sinh năm 1993, cư trú tại tổ dân phố N, phường B thấy 01 chiếc Camera (nhãn hiệu IMOU IPC-GS7EP-5M0WE có số Sê-ri: 9D00D71PAZDC113; mắt Camera dạng hình cầu màu đen, được đặt trong vỏ nhựa màu trắng hình cầu có bán kính 4,5cm; được gắn với chân đế dạng hình hộp chữ nhật bằng nhựa màu trắng kích thước (11x5x2,5)cm; phần đế có gắn đoạn dây điện màu tắng dài 15cm. Bên trong có lắp thẻ nhớ Micro SD loại 32 Gb YS5CY32GU1HA00-2118) lắp trước cửa quán. H dừng xe mô tô và quan sát thấy không có ai nên H trèo lên tường rào bằng bê tông sát đó, dùng tay phải giật chiếc Camera nhưng không lấy được do chiếc Camera này được bắt vít vào tường. H đi ra mở cốp xe mô tô BKS 29E2 – 059.17, lấy 01 chiếc tua vít loại 4 cạnh rồi tiếp tục trèo lên tường rào, dùng tô vít tháo chiếc Camera ra. Sau đó, H cất chiếc tua vít vào trong túi quần phía trước bên phải đang mặc, tay phải cầm chiếc Camera kéo căng dây điện rồi dùng răng của mình cắn đứt dây nối với C1. Khi lấy được chiếc Camera, H cất giấu vào bên trong áo khoác đang mặc rồi điều khiển xe mô tô BKS 29E2 – 059.17 đi tiếp đến nhà anh Hoàng Công L.

Vật chứng, đồ vật thu giữ, tạm giữ gồm:

  • 01 chiếc Camera nhãn hiệu EZVIZ loại CS-C6N, số S-ri: D98769065. Mắt Camera dạng hình cầu màu đen, được đặt trong vỏ nhựa màu trắng dạng hình cầu có bán kính 04cm; được gắn với chân đế dạng hình trụ, làm bằng nhựa, màu trắng có bán kính 04cm, cao 05cm. Bên trong có lắp thẻ nhớ Micro SD loại 32 Gb có số: 032GA2Y8-Y23100308470;
  • 01 chiếc Camera nhãn hiệu EZVIZ loại CS-C6N, số S-ri: L46123533. Mắt Camera dạng hình cầu màu đen, được đặt trong vỏ nhựa màu trắng dạng hình cầu có bán kính 04cm; được gắn với chân đế dạng hình trụ, làm bằng nhựa, màu trắng có bán kính 04cm, cao 05cm. Bên trong có lắp thẻ nhớ Micro SD loại 32 Gb có số: 3093DPDES17Q;
  • 01 chiếc Camera nhãn hiệu EZVIZ loại CS-C1C, số S-ri: D23464920, phần mắt làm bằng nhựa màu trắng, dạng cầu dẹt, bán kính 03cm gắn với phần đế hình tròn màu trắng, làm bằng nhựa, bán kính 3,2cm. Không chứa thẻ nhớ;
  • 01 chiếc Camera nhãn hiệu IMOU IPC-GS7EP-5M0WE có số Sê-ri: 9D00D71PAZDC113. Mắt Camera dạng hình cầu màu đen, được đặt trong vỏ nhựa màu trắng, dạnh hình cầu, bán kính 4,5cm; được gắn với chân đế hình hộp chữ nhật bằng nhựa, màu trắng kích thước (11 x 5 x 2,5)cm; phần đế có gắn đoạn dây điện màu trắng dài 15cm bị làm đứt. Bên trong có lắp thẻ nhớ Micro SD loại 32 Gb có số: YS5CY32GU1HA00-2118.
  • 01 Tua-vít loại 4 cạnh, phần đầu làm bằng kim loại màu trắng dài 10cm, phần chuôi làm bằng nhựa dài 13,5cm, thon dần về phía đầu.
  • 01 đoạn gậy bằng kim loại gồm 06 khúc, có thể kéo, rút dài 100cm. Phần tay cầm bằng nhựa màu đen. Phần đầu buộc đoạn dây kim loại cứng dài 25cm được bẻ cong ở phía đầu.
  • 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại Sirius, màu xanh đen, đeo biển kiểm soát số 29E2-059.17, số khung: 1710GY048299, số máy: E3T6E070974, không có gương chiếu hậu, đã qua sử dụng, không kiểm tra cốp xe và chất lượng máy.
  • 01 giấy chứng nhận đăng ký xe số 022691, biển kiểm soát 29E2-059.17 mang tên Nguyễn Phương C cấp ngày 09/03/2016.
  • 01 điện thoại nhãn hiệu Vsmart loại Live 4, màu sơn xanh đen, số IMEI 1: 354581111868270, IMEI 2: 354581111868288, đã qua sử dụng, bên trong lắp sim điện thoại: 0961.231.xxx.
  • 01 điện thoại nhãn hiệu Realme C12 màu sơn xanh, có địa chỉ IMEI H, IMEI 869532056036660, đã qua sử dụng, bên trong lắp sim điện thoại: 0326.760.xxx

Kết luận định giá tài sản số 11/KL-HĐ ngày 13/3/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã D, tỉnh Hà Nam kết luận:

  • 01 chiếc Camera nhãn hiệu EZVIZ loại CS-C6N, số S-ri: D98769065. Mắt Camera dạng hình cầu màu đen, được đặt trong vỏ nhựa màu trắng hình cầu có bán kính 04cm; được gắn với chân đế dạng hình trụ, làm bặng nhựa màu trắng có bán kính 04cm, cao 05cm. Bên trong có lắp thẻ nhớ Micro SD loại 32 Gb có số: 032GA2Y8-Y23100308470 trị giá là 500.000 đồng.
  • 01 chiếc Camera nhãn hiệu EZVIZ loại CS-C6N, số S-ri: L46123533. Mắt Camera dạng hình cầu màu đen, được đặt trong vỏ nhựa màu trắng hình cầu có bán kính 04cm; được gắn với chân đế dạng hình trụ, làm bặng nhựa màu trắng có bán kính 04cm, cao 05cm. Bên trong có lắp thẻ nhớ Micro SD loại 32 Gb có số: 3093DPDES17Q trị giá là 600.000 đồng.
  • 01 chiếc Camera nhãn hiệu IMOU IPC-GS7EP-5M0WE có số Sê-ri: 9D00D71PAZDC113. Mắt Camera dạng hình cầu màu đen, được đặt trong vỏ nhựa màu trắng hình cầu có bán kính 4,5cm; được gắn với chân đế dạng hình hộp chữ nhật bằng nhựa màu trắng kích thước (11x5x2,5)cm; phần đế có gắn đoạn dây điện màu tắng dài 15cm. Bên trong có lắp thẻ nhớ Micro SD loại 32 Gb YS5CY32GU1HA00-2118 trị giá là 900.000 đồng.
  • 01 chiếc Camera nhãn hiệu EZVIZ loại CS-C1C, số S-ri: D23464920, phần mắt làm bằng nhựa màu trắng, dạng cầu dẹt, bán kính 03cm gắn với phần đế hình tròn màu trắng, làm bặng nhựa, bán kính 3,2cm. Không chứa thẻ nhớ trị giá là 200.000 đồng.

Về xử lý vật chứng: Ngày 02/5/2024, Cơ quan CSĐT Công an thị xã D, tỉnh Hà Nam đã trả lại 01 chiếc Camera nhãn hiệu EZVIZ loại CS-C1C, số S-ri: D23464920, không chứa thẻ nhớ cho chủ sở hữu là anh Hoàng Công L; 01 chiếc Camera nhãn hiệu EZVIZ loại CS-C6N, số S-ri: L46123533, bên trong lắp thẻ nhớ Micro SD loại 32Gb có số 3093DPDES17Q chủ sở hữu là anh Nguyễn Đức M1; Ngày 03/5/2024, Cơ quan CSĐT Công an thị xã D, tỉnh Hà Nam đã trả lại 01 chiếc Camera nhãn hiệu EZVIZ loại CS-C6N, số S-ri: D98769065 bên trong có lắp thẻ nhớ Micro SD loại 32 Gb có số: 032GA2Y8-Y23100308470 chủ sở hữu là anh Nguyễn Văn V, trả lại 01 chiếc Camera nhãn hiệu IMOU IPC-GS7EP-5M0WE có số Sê-ri: 9D00D71PAZDC113 bên trong có lắp thẻ nhớ Micro SD loại 32 Gb có số: YS5CY32GU1HA00-2118 chủ sở hữu là anh Đỗ Văn H1.

- Ngày 03/5/2024, Cơ quan CSĐT Công an thị xã D, tỉnh Hà Nam đã trả lại 01 điện thoại nhãn hiệu Realme C12 màu sơn xanh, có địa chỉ IMEI H, IMEI 869532056036660, đã qua sử dụng, bên trong lắp sim điện thoại số thuê bao 0326.760.xxx cho bị cáo Trần Văn H.

Về trách nhiệm dân sự: Các bị hại đã nhận lại đầy đủ tài sản nên không yêu cầu bị cáo H phải bồi thường.

Cáo trạng số 75/CT – VKS – DT ngày 04 tháng 6 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Duy Tiên, tỉnh Hà Nam truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo từ 09 đến 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách; miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo; về trách nhiệm dân sự không đặt ra giải quyết; về vật chứng: Tịch thu sung ngân sách nhà nước: ½ trị giá xe mô tô 29E2-059.17; 01 điện thoại Vsmart loại Live 4. Trả lại cho chị Phạm Thị Kiều T: ½ trị giá xe mô tô 29E2-059.17. Tịch thu cho tiêu hủy: 01 Tua-vít; 01 đoạn gậy kim loại và tuyên án phí đối với bị cáo.

Bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt, ngoài ra không tranh luận gì.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng trong vụ án không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, HĐXX xác định các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án là hợp pháp.

[2] Về tội danh: Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của những người tham gia tố tụng khác và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Do đó, HĐXX có đủ cơ sở để kết luận:

Do có ý định lấy trộm các Camera mục đích đem về sử dụng nên trong khoảng thời gian từ 01 giờ 00 phút đến 01 giờ 40 phút ngày 03/3/2024, tại phường B, thị xã D, Trần Văn H đã lén lút lấy trộm 01 chiếc Camera nhãn hiệu EZVIZ loại CS-C6N, trị giá 500.000₫ của anh Nguyễn Văn V; 01 chiếc Camera nhãn hiệu EZVIZ loại CS-C6N, trị giá 600.000đ của anh Nguyễn Đức M1; 01 chiếc Camera nhãn hiệu IMOU, trị giá 900.000đ của anh Đỗ Văn H1 và 01 chiếc Camera nhãn hiệu EZVIZ loại CS-C1C, trị giá 200.000đ của anh Hoàng Công L rồi cất giấu vào bên trong áo khoác đang mặc thì bị anh L phát hiện bắt giữ và trình báo Công an phường B, thị xã D. Tổng trị giá tài sản mà Trần Văn H trộm cắp là 2.200.000đ.

Hành vi nêu trên của bị cáo gây nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm tài sản của người khác được pháp luật bảo hộ, đồng thời ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo là đúng.

[3] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo là người có nhân thân tốt; không phải chịu tình tiết tăng nặng; về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội, bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[4] Về hình phạt: Từ nhận định trên, xét bị cáo là người có nhân thân tốt, được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng vì thế không cần phải cách ly khỏi xã hội mà cho bị cáo cải tạo tại địa phương dưới sự giám sát của gia đình, xã hội tạo điều kiện cho bị cáo cải sửa mình. Xét bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định nên miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

[5] Về trách nhiệm dân sự: Các bị hại đã nhận lại tài sản của mình, nay không ai có yêu cầu gì nên không đặt ra giải quyết.

[6] Về xử lý vật chứng vụ án: Đối với 04 chiếc Camera cơ quan điều tra đã trả lại cho 04 người bị hại là đúng. Đối với 01 điện thoại Realme C12 không liên quan đến hành vi phạm tội, nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho bị cáo là đúng. Đối với 01 Tua-vít; 01 đoạn gậy bằng kim loại bị cáo dùng để thực hiện hành vi phạm tội, không còn giá trị sử dụng cần tịch thu cho tiêu hủy. Đối với 01 xe mô tô Sirius 29E2-059.17, số khung: 1710GY048299, số máy: E3T6E070974 và 01 đăng ký của xe là tài sản của vợ chồng bị cáo, bị cáo dùng để thực hiện hành vi phạm tội cần tịch thu sung ngân sách nhà nước. Đối với 01 điện thoại Vsmart loại Live 4 bị cáo dùng để thực hiện hành vi phạm tội cần tịch thu sung ngân sách nhà nước.

[7] Về án phí hình sự: Bị cáo phải nộp theo quy định.

[8] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan thực hiện quyền kháng cáo theo quy định.

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH

  1. Về hình sự: Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự.

    Tuyên bố: Bị cáo Trần Văn H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

    Xử phạt: Bị cáo Trần Văn H 09 (Chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 18 (Mười tám) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 25/6/2024).

    Giao bị cáo Trần Văn H cho Ủy ban nhân dân xã P, huyện L, tỉnh Hà Nam giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự.

    Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó chấp hành hình phạt của bản án trước tổng hợp với hình phạt của bản án mới.

  2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
    • Tịch thu sung ngân sách nhà nước: 01 xe mô tô Sirius biển kiểm soát 29E2-059.17 và 01 đăng ký của xe; 01 điện thoại Vsmart loại Live 4.
    • Tịch thu cho tiêu hủy: 01 Tua-vít loại 4 cạnh; 01 đoạn gậy bằng kim loại gồm 06 khúc.
  3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Quốc hội: Buộc bị cáo Trần Văn H phải nộp: 200.000 đồng.

Án xử công khai sơ thẩm: Bị cáo có mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - TAND tối cao;
  • - TAND tỉnh Hà Nam;
  • - VKSND tỉnh Hà Nam;
  • - Cơ quan CSĐT Công an thị xã Duy Tiên;
  • - VKSND thị xã Duy Tiên;
  • - Chi cục THADS thị xã Duy Tiên;
  • - Cơ quan THAHS Công an tx Duy Tiên;
  • - Trại tạm giam Công an tỉnh Hà Nam;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Hà Nam;
  • - Bị cáo; bị hại, người có QLNVLQ;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà

Trần Ngọc Thuận

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 80/2024/HSST ngày 25/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DUY TIÊN, TỈNH HÀ NAM về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 80/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DUY TIÊN, TỈNH HÀ NAM
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trần Văn H phạm tội "Trộm cắp tài sản"
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger