Hệ thống pháp luật

1

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CẦN GIUỘC

TỈNH LONG AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 80/2024/HSST

Ngày: 22-10-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN GIUỘC – TỈNH LONG AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Bảo.
Các hội thẩm nhân dân: Ông Trần Văn Đoàn.
Ông Nguyễn Thanh An.
- Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Thanh Xuân – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cần Giuộc.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cần Giuộc: Bà Trần Thị Thu Uyên – Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 10 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cần Giuộc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 73/2024/TLST - HS ngày 10 tháng 9 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 78/2024/QĐXXST-HS, ngày 03 tháng 10 năm 2024 và Thông báo thay đổi thời gian xét xử số 03/TB-TA, ngày 09 tháng 10 năm 2024, đối với bị cáo:

Họ và tên: Lê Công Đ, sinh ngày: 30/8/1996.

Nơi thường trú: 329/54 Bis T, phường C, Quận A, Tp .; Nơi ở hiện tại: Số A Đường G, Phường A, Quận F, Tp .; Nghề nghiệp: buôn bán; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn T (chết) và bà Lê Thị Kim M; Bản thân chưa có vợ, con, chung sống như vợ chồng với Dương Ngọc Lệ H; Tiền án – tiền sự: không. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 30/4/2024 đến nay, có mặt tại phiên tòa.

Họ và tên: Dương Ngọc Lệ H, sinh ngày: 26/4/1990.

Tên gọi khác: N.

Nơi thường trú cũ: Khu vực 5, phường T, thị xã L, tỉnh Hậu Giang; Nơi ở hiện tại: không có nơi cư trú ổn định; Nghề nghiệp: buôn bán; Trình độ học vấn: 08/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: nữ; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Dương Ngọc K (chết) và bà Lê Thị Thu S; Bản thân không có chồng, chung sống như vợ chồng với Lê Công Đ và có 05 con, lớn nhất sinh năm 2006, nhỏ nhất sinh năm 2024; Tiền án – tiền sự: không. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 30/4/2024 đến ngày 09/5/2024 được tại ngoại cho đến này có mặt tại phiên tòa.

2

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Mai Bình Đ1, sinh năm: 1981 (vắng mặt).

Cư trú: A M, Phường A, Quận H, Tp ..

Người chứng kiến:

  1. Nguyễn Tấn P, sinh năm: 2002 (vắng mặt).
  2. Cư trú: ấp L, xã L, huyện C, tỉnh Long An.

  3. Nguyễn Văn T1, sinh năm: 1996 (vắng mặt).
  4. Cư trú: ấp T, xã L, huyện C, tỉnh Long An.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và qua quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bị cáo Lê Công Đ và Dương Ngọc Lệ H chung sống như vợ chồng, không đăng ký kết hôn, vào khoảng 19 giờ 00 phút ngày 29/4/2024, Đ điều khiển xe mô tô biển số: 59L1-315.44 (xe do anh Mai Bình Đ1 là chủ sở hữu, cho Đ mượn) chở H từ phòng trọ ở Phường A, Quận F, Tp . đi đến khu vực đường N, thuộc Quận A, Tp . để tìm mua điện thoại cũ, hư về sửa lại bán kiếm lời. Đến khoảng 20 giờ 00 cùng ngày, Đ và H chia nhau đi vòng trên trên tuyến đường Nhựt Tảo tìm những người bán điện thoại cũ để mua và nhặt phế liệu để bán, Đ chạy xe mô tô còn H đi bộ. Khoảng 20 phút sau, H quay lại gặp Đ và Đ nói với H là có mua một gói ma túy đá với giá 400.000 đồng của một thanh niên (không rõ họ tên, địa chỉ) để mang về phòng trọ cùng nhau sử dụng. Sau đó, cả hai tiếp tục đi nhặt phế liệu trên đoạn đường dưới chân cầu vượt cao tốc thuộc xã L, huyện C. Khi đến chân cầu đường cao tốc, Đ đưa gói nylon có rãnh khép, viền đỏ chứa ma túy đá cho H cất giữ vì Đ sợ khi đi nhặt và lựa phế liệu làm rớt mất, H lấy gói ma túy bỏ vào trong áo ngực bên phải đang mặc trên người cất giấu.

Đến khoảng 03 giờ 20 phút ngày 30/4/2024, Đ và H đến đoạn đường thuộc ấp L, xã L thì bị lực lượng Công an xã L kiểm tra. Lúc đang kiểm tra Đ thì H tự nguyện lấy 01 gói ma túy cất giấu trong áo ngực ra giao nộp cho Công an và khai nhận là gói ma túy đá do Đ mua và đưa cho H cất giữ. Công an xã L đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy đối với H và Đ, niêm phong chất nghi là ma túy và gửi đi giám định. Ngoài ra, Đ còn khai nhận vào

3

ngày 27/4/2024 đã mua 01 (một) gói ma túy đá 300.000 đồng của người thanh niên trên đem về cùng H sử dụng hết.

Tại Bản kết luận giám định số 300/KL-KTHS ngày 07/5/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh L kết luận: 01 (một) túi nylon có rãnh khép viền đỏ được niêm phong gửi giám định là ma túy, có khối lượng 1,1955 gam, loại Methamphetamine.

H1 lại đối tượng giám định: Mẫu còn lại sau giám định có khối lượng: 0,9201 gam và vỏ bao đựng mẫu được đóng gói niêm phong số 300.

Tại Bản cáo trạng số 76/CT-VKSCG ngày 09/9/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cần Giuộc truy tố hai bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Kiểm sát viên giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo như Bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 50; Điều 58 Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Lê Công Đ từ 01 (một) năm 09 (chín) tháng đến 02 (hai) năm tù.

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm n, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 50; Điều 58 Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Dương Ngọc Lệ H từ 01 (một) năm 06 (sáu) đến 01 (một) năm 09 (chín) tháng tù.

Đề nghị áp dụng Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự bắt, tạm giam bị cáo H tại phiên tòa để đảm bảo việc thi hành án, do bị cáo H không có nơi cư trú ổn định.

Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với hai bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Vật chứng: đề nghị áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 47 Bộ luật hình sự: Tịch thu tiêu hủy: ma túy còn lại sau giám định có khối lượng 0,9201 gam và vỏ bao đựng mẫu được đóng gói niêm phong số 300.

Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Suzuki, loại Hayate, biển số: 59L1-315.44 của anh M Bình Đẳng cho bị cáo Đ mượn, việc bị cáo Đ tự ý sử dụng đi mua ma túy anh Đ1 không biết nên Cơ quan cảnh sát điều tra đã trao trả lại cho anh Đ1.

Hai bị cáo không có ý kiến tranh luận.

Hai bị cáo nói lời sau cùng xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

4

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Cần Giuộc, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục, quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Lê Công Đ và Dương Ngọc Lệ H khai nhận: cả hai bị cáo chung sống với nhau như vợ chồng và cùng nghiện ma túy, nên vào ngày 29/4/2024, trên đường đi thu mua điện thoại cũ và nhặt phế liệu bị cáo Đ đã mua một gói ma túy với giá 400.000đ (bốn trăm ngàn đồng) của một nam thanh niên không rõ nhân thân tại đường N thuộc Quận A, Tp .. Sau đó, Đ đưa gói ma túy cho H cất giữ trong áo ngực đang mặc bên phải, mục đích để cả hai cùng nhau sử dụng. Đến khoảng 03 giờ 20 phút ngày 30/4/2024, khi cả hai đang nhặt phế liệu trên tuyến đường nông thôn thuộc ấp L, xã L, huyện C thì bị lực lượng Công an tuần tra tiến hành kiểm tra, bị cáo H đã tự nguyện giao nộp gói ma túy. Theo Kết luận giám định số: 300/KL-KTHS ngày 07/5/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh L kết luận: Tinh thể màu trắng đựng trong 01 (một) túi nylon được niêm phong gửi giám định là ma túy, có khối lượng 1,1955 gam loại Methamphetamine. Ma túy bị cáo Đ và H cùng tàng trữ là loại Methamphetamine có khối lượng trên 0,1 gam đến dưới 05 gam, nên hành vi của hai bị cáo đã cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

[3] Hành vi trái pháp luật của hai bị cáo là nguy hiểm, hai bị cáo thừa biết ma tuý là chất độc hại, gây nghiện làm tổn hại nghiêm trọng đến sức khỏe, tinh thần và thể chất con người nên Nhà nước thống nhất quản lý và nghiêm cấm các hành vi như sản xuất, mua bán, tàng trữ, tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý ... nhưng hai bị cáo vẫn bất chấp thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi của hai bị cáo được thực hiện do lỗi cố ý trực tiếp, đã xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các chất ma tuý, ngoài ra việc sử dụng ma túy là một trong các tác nhân gây ra các tệ nạn xã hội, gây mất trật tự an toàn xã hội. Do đó, cần thiết xử lý hai bị cáo bằng một hình phạt thỏa đáng mới có thể giáo dục và phòng ngừa chung.

[4] Trong vụ án cũng cần xem xét đến tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, tính chất, mức độ của hành vi phạm tội và nhân thân của từng bị cáo khi lượng hình:

5

[4.1] Xét về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với hai bị cáo theo quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự: hai bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng.

[4.2] Xét về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với hai bị cáo: cả hai bị cáo phạm tội nhưng thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo H khi thực hiện hành vi phạm tội là phụ nữ có thai, nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm n khoản 1 Đều 51 Bộ luật hình sự. Ngoài ra xét thấy bị cáo H có hoàn cảnh khó khăn, có 03 con còn nhỏ sinh năm 2012, năm 2020 và 2024, nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 2 Đều 51 Bộ luật hình sự.

[4.3] Xét tính chất, mức độ của hành vi phạm tội và nhân thân của hai bị cáo: bị cáo Đ là người trực tiếp liên hệ mua ma túy, bị cáo H đồng phạm trong việc cất giấu ma túy trong áo ngực đang mặc và cả hai bị cáo, cùng thống nhất ý chí là mua ma túy sử dụng chung. Cả hai bị cáo đều có nhân thân tốt.

[5] Với những phân tích trên thì hình phạt dành cho bị cáo Đ phải cao hơn bị cáo H. Xét thấy cần cách ly hai bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có thể giáo dục, cải tạo hai bị cáo trở thành người có ích cho xã hội. Xét thấy áp dụng hình phạt tù cũng đủ răn đe, nên không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với hai bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự. Bị cáo H hiện đang nuôi con nhỏ dưới 36 tháng tuổi, tuy nhiên tại phiên tòa bị cáo H khai nhận không có nơi cư trú rõ ràng (ở nhà thuê không khai báo tạm trú), do đó cần thiết phải áp dụng điểm b khoản 2 Điều 119 và Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự để bắt, tạm giam tại phiên tòa để đảm bảo việc thi hành án.

[6] Đối với người thanh niên không rõ nhân thân, theo bị cáo Đ khai là người đã bán ma túy cho Đ, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện C đã có Công văn số: 135/CV-CSKT, ngày 14/5/2024 thông báo cho Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Q, Tp . biết để phối hợp xác minh, xử lý theo quy định của pháp luật.

[7] Về tang vật thu giữ: Đối với ma túy còn lại sau giám định có khối lượng: 0,9201 gam và vỏ bao đựng mẫu, được đóng gói niêm phong số 300, là chất cấm, nên tịch thu tiêu hủy là phù hợp với quy định tại Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 47 Bộ luật hình sự. Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Suzuki, loại Hayate, biển số: 59L1-315.44, đã qua sử dụng là tài sản của anh Mai Bình Đ1 cho bị cáo Đ mượn sử dụng làm phương tiện đi lại, việc bị cáo Đ tự ý sử dụng đi mua ma túy anh Đ1 không biết nên Cơ quan cảnh sát điều tra đã trao trả lại cho anh Đ1, là phù hợp.

[8] Về án phí: mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường

6

vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố bị cáo Lê Công Đ và Dương Ngọc Lệ H cùng phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 50; Điều 58 Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Lê Công Đ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 30/4/2024.

Căn cứ Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự. Tiếp tục tạm giam bị cáo Đ 45 ngày kể từ ngày tuyên án (22/10/2024) để đảm bảo việc kháng cáo, kháng nghị và thi hành án.

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm n, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 50; Điều 58 Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Dương Ngọc Lệ H 01 (một) năm tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 22/10/2024 và được khấu trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 30/4/2024 đến ngày 09/5/2024.

Căn cứ Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự. Bắt, tạm giam bị cáo H 45 ngày kể từ ngày tuyên án (22/10/2024) để đảm bảo việc kháng cáo, kháng nghị và thi hành án.

Căn cứ Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 47 Bộ luật hình sự.

Về tang vật: Tịch thu tiêu hủy ma túy còn lại sau giám định có khối lượng 0,9201 gam và vỏ bao đựng mẫu được đóng gói niêm phong số 300.

Hiện vật chứng Chi cục thi hành án dân sự huyện Cần Giuộc đang tạm giữ theo Quyết định chuyển vật chứng số 51/QĐ-VKSCG, ngày 09 tháng 9 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cần Giuộc.

Về án phí: mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử sơ thẩm công khai báo cho bị cáo có mặt biết được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

7

Nơi nhận:

-TAND tỉnh Long An;

-VKSND huyện Cần Giuộc;

-CA huyện Cần Giuộc;

-THADS huyện Cần Giuộc;

-Bị cáo; đương sự;

-Lưu hồ sơ;

-Lưu án văn.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

NGUYỄN ĐỨC BẢO

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 80/2024/HSST ngày 22/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN GIUỘC – TỈNH LONG AN về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 80/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 22/10/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN GIUỘC – TỈNH LONG AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lê Công Đ phạm tội "tàng trữ trái phép chất ma túy"
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger