|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NAM TỈNH BẮC GIANG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 80/2024/HS-ST Ngày 29 - 7 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NAM, TỈNH BẮC GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Văn Thái
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Yến
Ông Chu Hồng Văn
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Quốc Tuân - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang;
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Nam tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Lệ Thuỷ - Kiểm sát viên;
Ngày 29 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 77/2024/TLST-HS ngày 09 tháng 7 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 79/2024/QĐXXST-HS ngày 13/7/2024 đối với các bị cáo:
1. Nguyễn Duy T, sinh năm 1990 tại huyện L, tỉnh Bắc Giang. Nơi đăng ký thường trú: Tổ dân phố V, thị trấn Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Nơi ở: Tổ dân phố G, thị trấn Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang; nghề nghiệp: Tự do; trình độ văn hóa: Lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T1 và bà Nguyễn Thị H; có vợ là Lò Thị L và có 02 con; tiền án, tiền sự: Không có; bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 22/4/2024 đến nay; hiện tại bị cáo đang bị tạm giam, có mặt.
2. Nguyễn Văn H1, sinh năm 1996 tại huyện L, tỉnh Bắc Giang. Nơi cư trú: Thôn C, xã B, huyện L, tỉnh Bắc Giang; nghề nghiệp: Tự do; trình độ văn hóa: Lớp 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn H2 và bà Nguyễn Thị L1; chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không có; bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 22/4/2024 đến nay; hiện tại bị cáo đang bị tạm giam, có mặt.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bùi Văn H3, sinh năm 1996; nơi cư trú: Thôn H, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Vắng mặt
- Nguyễn Văn H4, sinh năm 1995; nơi cư trú: Thôn Đ, xã C, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 12 giờ 20 phút ngày 22/4/2024, tại nơi ở của Nguyễn Duy T thuộc tổ dân phố G, thị trấn Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang; tổ công tác của Công an huyện L bắt quả tang Nguyễn Duy T và Nguyễn Văn H1 về hành vi bán trái phép chất ma túy cho đối tượng Bùi Văn H3 và Nguyễn Văn H4. Vật chứng thu giữ gồm:
- Thu giữ của Nguyễn Văn H4 tại túi quần bên phải phía trước 01 túi nilon màu trắng có rãnh khóa bằng nhựa viền màu trắng, bên trong đựng chất tinh thể màu trắng nghi là ma tuý, được niêm phong trong 01 phong bì thư ký hiệu “QT1”; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7, vỏ máy màu đen, số Imeil 355827082165371.
- Thu giữ của Nguyễn Duy T 01 túi nilon màu trắng có rãnh khoá nhựa, viền màu xanh đựng chất tinh thể màu trắng nghi là ma tuý, được niêm phong trong 01 phong bì thư ký hiệu “QT2”; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, vỏ máy màu đen, số Imei1: 869604030845134, số I: 869604030845126.
- Thu giữ của Nguyễn Văn H1 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6S, vỏ máy màu ghi xám, số Imei1: 356142090509134, số I: 35614209050943.
Tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Nguyễn Duy T nhưng không phát hiện thu giữ đồ vật, tài liệu gì liên quan đến vụ án. Thu giữ mẫu nước tiểu của Nguyễn Duy T, Nguyễn Văn H1, Nguyễn Văn H4 và Bùi Văn H3 để kiểm tra chất ma túy; kết quả kiểm tra xác định Nguyễn Duy T và Nguyễn Văn H1 dương tính với chất ma túy Methamphetamine, còn Nguyễn Văn H4 và Bùi Văn H3 âm tính với ma túy.
Căn cứ vào lời khai của Nguyễn Duy T và Nguyễn Văn H1, Cơ quan điều tra tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Phạm Văn T2, sinh năm 1966 ở thôn L, xã C, huyện L, tỉnh Bắc Giang; kết quả khám xét không phát hiện thu giữ đồ vật, tài liệu gì liên quan đến vụ án.
Tiến hành kiểm tra các điện thoại đã thu giữ, kết quả:
- Kiểm tra điện thoại nhãn hiệu Iphone 7, vỏ màu đen, số Imeil 355827082165371 của Nguyễn Văn H4 lắp sim số 0825468995; tại mục lưu trữ cuộc gọi ghi nhận cuộc gọi âm thanh trong ứng dụng Zalo tới tài khoản “Duy Thực” ngày 22/4/2024: Lúc 10 giờ 14 phút cuộc gọi đi thời lượng 31 giây; lúc 10 giờ 20 cuộc gọi hủy (Nguyễn Văn H4 trình bày đây là nội dụng cuộc gọi do Bùi Văn H3 đã mượn máy đăng nhập tài khoản gọi còn lưu lại).
- Kiểm tra điện thoại nhãn hiệu OPPO, vỏ màu đen, số Imeil: 869604030845134, số Imei2: 869604030845126 của Nguyễn Duy T lắp sim số 0355471656; tại mục lưu trữ cuộc gọi điện thoại ghi nhận ngày 22/4/2024 có các cuộc gọi: Cuộc gọi đến số máy 0523458362 lúc 11 giờ 25 phút, thời gian gọi 09 giây (T trình bày đây là số điện thoại của H1); cuộc gọi đến số điện thoại 0983.479.xxx lưu trong máy “Thủ Cly” lúc 11 giờ 24 phút, thời gian gọi 18 giây (T khai đây là số điện thoại của Phạm Văn T2 mà T đã gọi để mua ma túy); tại ứng dụng Zalo ngày 22/4/2024 có tài khoản “Bùi Hùng B” nhắn tin cho T với nội dung mua bán ma túy.
- Kiểm tra điện thoại nhãn hiệu Iphon 6S, vỏ màu ghi xám, số Imeil: 356142090509134, số Imei2: 35614209050943 của Nguyễn Văn H1 lắp sim số 0523458362; tại mục lưu trữ cuộc gọi ngày 22/4/2024 có cuộc gọi đi tới số máy 0355471656 lưu tên “Thực”.
Cơ quan điều tra đã tiến hành trưng cầu giám định đối với vật chứng nghi là ma tuý.
Tại bản Kết luận giám định số 925/KL-KTHS ngày 26/4/2024, Phòng K Công an tỉnh B kết luận:
- Trong 01 phong bì thư ký hiệu “QT1” được niêm phong gửi giám định: Chất tinh thể màu trắng đựng trong 01 túi nilon màu trắng một đầu có rãnh khóa bằng nhựa là ma túy, có khối lượng 0,045 gam, loại Methamphetamine.
- Trong 01 phong bì thư ký hiệu “QT2” được niêm phong gửi giám định: Chất tinh thể màu trắng đựng trong 01 túi nilon màu trắng một đầu có rãnh khóa bằng nhựa, viền màu xanh là ma túy, có khối lượng 0,516 gam, loại Methamphetamine.
Quá trình điều tra xác định được như sau: Sáng ngày 22/4/2024, Nguyễn Văn H4 điều khiển xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, BKS 98B2-195.86 đi chơi, H4 gặp bạn là Bùi Văn H3 tại quán nước. Trong lúc ngồi uống nước, H3 mượn máy điện thoại của H4 rồi đăng nhập vào tài khoản Zalo của mình, H3 nhắn tin cho Nguyễn Duy T hỏi mua ma túy Methamphetamine; sau khi nhắn tin xong thì H3 thoát khỏi ứng dụng Zalo và trả điện thoại cho H4. Đến khoảng hơn 11 giờ cùng ngày H3 nhờ H4 đưa đến nơi ở của Nguyễn Duy T tại tổ dân phố G, thị trấn Đ, huyện L. Lúc này Nguyễn Văn H1 cũng đang chơi ở nhà T. H3 đưa cho T số tiền 500.000 đồng để mua ma túy, T cầm tiền rồi đưa cho H1 bảo “đi xuống Thủ lấy” (Huấn hiểu là đi xuống nhà T2 mua ma túy), H1 cầm tiền T đưa rồi đi ra mượn xe mô tô của H4 nhưng H1 không nói đi mua ma tuý. Do không quen biết nên H4 bảo H3 đi cùng H1, sau đó H1 chở H3 đi thẳng xuống nhà Phạm Văn T2 để mua ma túy. Theo T khai sau khi H1 đi thì T nhắn tin và gọi điện cho T2 hỏi mua 500.000 đồng tiền ma túy Methamphetamine, T2 đồng ý. Sau đó T điện thoại cho H1 bảo ở ngoài chờ. Theo H1 khai thì một lúc sau có người ở phía bên nhà T, H1 bảo H3 đứng chờ còn H1 một mình đi bộ đến đưa số tiền 500.000 đồng qua cánh cửa sổ thì được một người ở trong nhà nhận tiền và đưa cho H1 01 túi nilon đựng ma túy Methamphetamine; mua được ma tuý H1 đi ra bảo H3 điều khiển xe mô tô chở H1 đi về nhà T. Khi về đến nhà T thì H3 đưa trả chìa khoá xe mô tô cho H4, cùng thời điểm này chị Đào Thị T3 cư trú tại tổ dân phố K, thị trấn Đ, huyện L gọi điện thoại cho H4 đòi xe mô tô nên H4 điều khiển xe đi trả chị T3 rồi quay lại nhà T. Lúc này H1 và T đang chia ma tuý ra túi nhỏ ở trong phòng ngủ của T, khi H1 cầm túi ma túy đem ra để đưa cho H3 nhưng H3 đang đi vệ sinh nên H1 đưa cho H4 và H4 đút vào túi quần; đúng lúc này lực lượng Công an đã phát hiện bắt quả tang.
Bùi Văn H3 có hành vi mua ma túy để sử dụng, quá trình điều tra xác định khối lượng ma túy H3 mua để sử dụng chưa đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, H3 cũng chưa có tiền án, tiền sự nên Công an huyện L đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với H3.
Nguyễn Văn H4 được Bùi Văn H3 nhờ đưa đến nhà Nguyễn Duy T nhưng H3 không nói với H4 là đi mua ma tuý. Khi Nguyễn Văn H1 cầm gói ma tuý từ trong phòng ngủ ra đưa cho H3 nhưng không thấy H3 nên H1 đưa cho H4 nhưng H1 không nói đó là ma tuý. Do không có căn cứ xác định H4 có biết việc H3 mua ma tuý của T và H1 nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý đối với H4.
Đối với Phạm Văn T2 thừa nhận ngày 22/4/2024 Nguyễn Duy T có gọi điện cho T2 bảo chuyển khoản trả nợ T2 số tiền 500.000 đồng mà T vay từ trước, không có việc chuyển tiền để mua ma túy. Nguyễn Văn H1 khai không biết người bán ma tuý cho H1 là ai. Kết quả khám xét khẩn cấp nơi ở của T2 cũng không thu giữ được đồ vật, tài liệu gì liên quan đến ma túy. Vì vậy, Cơ quan điều tra đã kết luận không có căn cứ xử lý đối với T2.
Chị Đào Thị T3 cho Nguyễn Văn H4 mượn chiếc xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA BKS 98B2-195.86 để đi chơi, khi H4 cho H1 mượn xe thì H4 cũng không biết H1 đi mua ma tuý nên Cơ quan điều tra không thu giữ xe mô tô trên để xử lý.
Tại bản Cáo trạng số 81/CT-VKS ngày 08 tháng 7 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang truy tố các bị cáo Nguyễn Duy T, Nguyễn Văn H1 về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
- Các bị cáo Nguyễn Duy T, Nguyễn Văn H1 đều nhất trí với nội dung bản Cáo trạng; các bị cáo bị khởi tố, truy tố, xét xử về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” là đúng người, đúng tội.
- Kiểm sát viên phát biểu luận tội, giữ nguyên quan điểm truy tố đối với các bị cáo và đề nghị:
+ Áp dụng khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 38 của Bộ luật Hình sự:
* Xử phạt bị cáo Nguyễn Duy T từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; miễn phạt bổ sung.
* Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H1 từ 02 năm 03 tháng đến 02 năm 09 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; miễn phạt bổ sung.
+ Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu 02 phong bì thư được niêm phong ký hiệu “QT1” và “QT2”, bên trong đều đựng chất ma tuý còn lại sau giám định để tiêu hủy. Tịch thu của Nguyễn Duy T 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO vỏ máy màu đen; tịch thu của Nguyễn Văn H1 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6s vỏ máy màu ghi – xám để sung vào công quỹ Nhà nước.
+ Các bị cáo Nguyễn Duy T, Nguyễn Văn H1 phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
- Các bị cáo Nguyễn Duy T, Nguyễn Văn H1 nhất trí với lời luận tội và ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên, các bị cáo không tự bào chữa và không có ý kiến tranh luận. Nói lời sau cùng các bị cáo đều nhận thức hành vi mua bán chất ma túy là sai, vi phạm pháp luật; đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho các bị cáo được hưởng mức án thấp nhất để các bị cáo được sớm trở về với gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên: Trong quá trình tiến hành tố tụng Điều tra viên, Kiểm sát viên thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn và các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự; bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ai tố cáo, khiếu nại gì. Hội đồng xét xử kết luận hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên đều đúng quy định và hợp pháp.
[2] Căn cứ lời khai nhận tội của các bị cáo Nguyễn Duy T, Nguyễn Văn H1 và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đã có đủ cơ sở kết luận: Ngày 22/4/2024, Bùi Văn H3 đi đến nơi ở của bị cáo T mua ma tuý với mục đích để sử dụng; H3 đưa cho T số tiền 500.000 đồng, T đưa số tiền này cho bị cáo H1 để đi mua ma tuý của người khác nhưng không chứng minh được là mua của ai. Sau khi H1 mua được ma tuý đem về nhà T thì H1 và T đã chia ra, cho ma tuý vào 01 túi ni lon nhỏ để H1 đưa cho H3 (do Nguyễn Văn H4 cầm hộ) thì bị phát hiện bắt quả tang; khối lượng ma túy các bị cáo bán cho H3 là 0,045 gam, loại Methamphetamine. Ngoài ra còn thu giữ của bị cáo T 01 túi ni lon bên trong đựng ma túy có khối lượng 0,516 gam, loại Methamphetamine. Tổng khối lượng chất ma tuý các bị cáo mua bán xác định được là 0,561 gam, loại Methamphetamine.
[3] Hành vi trên của các bị cáo Nguyễn Duy T, Nguyễn Văn H1 là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước về các loại chất gây nghiện, làm mất an ninh trật tự tại địa phương; các bị cáo đều là người có năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi với lỗi cố ý trực tiếp. Hành vi trên của các bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Căn cứ vào khối lượng chất ma túy thu giữ được, Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Nam truy tố các bị cáo Nguyễn Duy T, Nguyễn Văn H1 về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự là hoàn toàn đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[4] Xét thấy ma túy là chất gây nghiện rất nguy hiểm, người nghiện ma túy sẽ bị tổn hại nghiêm trọng về sức khỏe; khi lên cơn nghiện, người nghiện ma túy không làm chủ được hành vi, có thể gây nguy hiểm cho người khác và xã hội; người sử dụng ma túy còn nguy hiểm đến tính mạng của bản thân, có nguy cơ lây lan căn bệnh HIV-AIDS; tệ nạn ma túy còn là mầm mống phát sinh ra nhiều loại tội phạm khác. Nhà nước ta và cả cộng đồng thế giới đều tuyên truyền rộng rãi về tác hại của chất ma túy, thế nhưng các bị cáo không tiếp thu mà dấn thân vào con đường nghiện ngập dẫn đến phạm tội. Chứng tỏ các bị cáo rất coi thường kỷ cương pháp luật, coi thường tính mạng, sức khỏe của chính bản thân mình và của người khác. Căn cứ vào tính chất của tội phạm, cần thiết phải xử phạt nghiêm khắc, cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội để cải tạo, giáo dục các bị cáo là đúng với chính sách xử lý của pháp luật hình sự Nhà nước ta.
[5] Xem xét các tình tiết để quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử thấy:
Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra, truy tố, xét xử các bị cáo Nguyễn Duy T, Nguyễn Văn H1 luôn thành khẩn khai báo nên các bị cáo đều được hưởng tình tiết giảm nhẹ trên quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Tình tiết tăng nặng: Các bị cáo đều không có tình tiết tăng nặng.
Các bị cáo cùng cố ý thực hiện một tội phạm, nhưng các bị cáo không có sự phân công nhiệm vụ hay bàn bạc tỉ mỉ, câu kết chặt chẽ với nhau nên không thuộc trường hợp phạm tội có tổ chức, trường hợp này chỉ là đồng phạm có tính chất giản đơn. Xét thấy Nguyễn Duy T đã đưa tiền cho Nguyễn Văn H1 để H1 đi mua ma tuý tại nơi mà T đã giao hẹn trước, T trực tiếp giao dịch để bán ma tuý cho Bùi Văn H3 nên T là người giữ vai trò chính, còn H1 là người thực hành tích cực.
Căn cứ vào khối lượng chất ma túy thu giữ được, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà các bị cáo được hưởng, hình phạt giành cho các bị cáo ở mức trung bình thấp của khung hình phạt, nhưng hình phạt giành cho T phải cao hơn so với H1 là phù hợp với tính chất, mức độ và hậu quả của hành vi phạm tội mà các bị cáo đã gây ra.
[6] Theo quy định tại khoản 5 Điều 251 của Bộ luật Hình sự, ngoài hình phạt chính, các bị cáo còn có thể bị phạt tiền từ 5 triệu đồng đến 500 triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. Xét thấy các bị cáo đều là người nghiện ma tuý, không có việc làm thu nhập ổn định, không có tài sản riêng nên Hội đồng xét xử miễn phạt bổ sung đối với các bị cáo.
[7] Về vật chứng:
Chất ma túy là loại chất gây nghiện bị pháp luật cấm tàng trữ, sử dụng, lưu hành nên cần phải tịch thu toàn bộ khối lượng chất ma túy thu giữ được còn lại sau giám định và các vỏ bao gói mẫu được niêm phong trong phong bì thư ký hiệu “QT1” và “QT2” để tiêu hủy.
Đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, vỏ máy màu đen, số Imeil: 869604030845134, số Imei2: 869604030845126 thu giữ của Nguyễn Duy T; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6S, vỏ máy màu ghi - xám, số Imeil: 356142090509134, số I: 35614209050943 thu giữ của Nguyễn Văn H1. Xét thấy T và H1 đã dùng điện thoại trên để liên lạc trong việc mua bán trái phép chất ma tuý nên cần phải tịch thu sung vào công quỹ Nhà nước.
Đối với chiếc chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7, vỏ máy màu đen thu giữ của Nguyễn Văn H4. Quá trình điều tra xác định khi H3 mượn của H4 để liên lạc mua ma túy nhưng H4 không biết; Cơ quan điều tra đã xử lý trả lại cho cho H4 chiếc điện thoại trên là đúng quy định, Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết.
[8] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 6, điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
-
Áp dụng khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 38 của Bộ luật Hình sự:
Xử phạt bị cáo Nguyễn Duy T 02 (hai) năm 09 (chín) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam (ngày 22/4/2024).
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H1 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam (ngày 22/4/2024).
-
Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu toàn bộ khối lượng chất ma tuý còn lại sau giám định và các vỏ bao gói mẫu sau giám định, được niêm phong trong 02 phong bì thư ký hiệu “QT1” và “QT2” có đóng dấu của cơ quan giám định để tiêu huỷ.
- Tịch thu của Nguyễn Duy T 01 điện thoại di động nhãn OPPO vỏ máy màu đen, số Imeil: 869604030845134, số I: 869604030845126 để sung vào công quỹ Nhà nước.
- Tịch thu của Nguyễn Văn H1 01 điện thoại Iphone 6s, vỏ máy màu ghi - xám, số Imeil: 356142090509134, số I: 35614209050943 để sung vào công quỹ Nhà nước.
Những vật chứng, tài sản trên có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan điều tra và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lục Nam.
-
Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 6, điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội:
Các bị cáo Nguyễn Duy T, Nguyễn Văn H1, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có mặt có mặt có 15 ngày kháng cáo kể từ ngày tuyên án; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có 15 ngày kháng cáo kể từ ngày nhận được (hoặc ngày niêm yết) bản án xét xử vắng mặt./.
|
Nơi nhân:
|
T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Hoàng Văn Thái |
Bản án số 80/2024/HS-ST ngày 29/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NAM, TỈNH BẮC GIANG về mua bán trái phép chất ma túy
- Số bản án: 80/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NAM, TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: T và H mua ma tuý của người khác mục đích để sử dụng và bán, khối lượng ma tuý thu giữ được 0,561 gam, loại Mthamphetamine
