Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ YÊN BÁI, TỈNH YÊN BÁI

Bản án số: 80/2024/HS-ST

Ngày 28-11-2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ YÊN BÁI, TỈNH YÊN BÁI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Tạ Thị Kim Anh

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Đình Thị Thanh Hải, bà Bùi Thị Phượng.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Tiến Giang - Thư ký Tòa án nhân thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Yên Bái tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Quang Tân - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 69/2024/TLST-HS ngày 02-10-2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 85/2024/QĐXXST-HS ngày 11-11-2024, đối với bị cáo:

Lê Trung K;

Tên gọi khác: Không; sinh ngày 17-9-1999, tại Yên Bái; nơi cư trú: Tổ D, phường Y, thành phố Y, tỉnh Yên Bái; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 01/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Thiên chúa giáo; quốc tịch: Việt Nam; bố: không xác định; con bà: Lê Thị D, sinh năm 1965; Vợ, con: chưa có; tiền án: Có 03 tiền án: Năm 2017, bị Tòa án nhân dân thành phố Yên Bái xử phạt 08 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại Bản án số 74/2017/HSST ngày 30-11-2017. Năm 2019, bị Tòa án nhân dân thành phố Yên Bái xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “ Trộm cắp tài sản” tại Bản án số 22/2019/HS-ST ngày 29-5-2019. Năm 2021, bị Tòa án nhân dân thành phố Yên Bái xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại Bản án số 49/2021/HS-ST ngày 17-9-2021; tiền sự: 01. Năm 2021, bị Công an thành phố Y xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” tại Quyết định số 108/QĐ-XPHC ngày 09-7-2021; nhân thân: Ngày 25-10-2024, bị Tòa án nhân dân huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái xử phạt 02 năm 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại bản án số 28/2024/HS-ST. Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 05-7-2024, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Y. Có mặt.

* Bị hại: Ủy ban nhân dân phường Y, thành phố Y, tỉnh Yên Bái.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Lương Xuân Q - Chức vụ: Chủ tịch UBND phường Y.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Vương V, sinh năm 1975; địa chỉ: Tổ A, phường Y, thành phố Y, tỉnh Yên Bái. Vắng mặt.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Bà Phan Thị Thanh C; sinh năm 1977; ĐKTT: Thôn H, xã B, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc; tạm trú và nơi ở hiện nay: Tổ B, thị trấn Y, huyện Y, tỉnh Yên Bái. Vắng mặt, đã có đơn xin xét xử vắng mặt.

* Người làm chứng:

- Bà Hoàng Thị L; sinh năm 1965; địa chỉ: Tổ A, phường N, thành phố Y, tỉnh Yên Bái. Vắng mặt.

- Anh Lê Văn C1; sinh năm 1986; địa chỉ: Tổ D, phường Y, thành phố Y, tỉnh Yên Bái. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 22 giờ ngày 16-6-2024, Lê Trung K mượn xe đạp của Lê Văn C1 (là anh họ của K) đi đến khu vực tổ A phường Y, thành phố Y. Đến khoảng 01 giờ ngày 17-6-2024, Lê Trung K đi vào khu vực chùa L1, quan sát không có người trông coi, quản lý nên đã đi đến khu vực gian phòng thờ. Tại đây, K dùng bật lửa soi qua khe hở của hòm công đức thì thấy bên trong hòm có tiền. K liền vác chiếc hòm công đức ra bãi cỏ gần bờ sông H, rồi tiếp tục quay lại bê 01 chiếc chuông bằng đồng loại cỡ lớn tại khu vực gian thờ phía trước nhà chùa quay trở lại chỗ giấu chiếc hòm công đức. Do không mở được chiếc hòm công đức nên K đạp xe đến khu vực ga Y thì nhặt được 01 chiếc xà cầy. K mang chiếc xà cầy quay lại để cậy phá hòm công đức, lấy được số tiền 230.000 đồng rồi cất vào túi quần. Sau đó, K nhặt một chiếc bao tải mầu trắng cất chiếc chuông đồng vào bên trong rồi buộc ở giá để hàng sau xe đạp chở đến khu vực tổ B, thị trấn Y, huyện Y, tỉnh Yên Bái và bán chiếc chuông cho bà Phan Thị Thanh C được 400.000 đồng. Số tiền 630.000 đồng do bán chiếc chuông đồng và tiền trong hòm công đức K đã mua ma túy và tiêu sài cá nhân hết.

Khoảng 04 giờ 30 phút ngày 17-6-2024, trong lúc quét dọn khuôn viên chùa L1, bà Hoàng Thị L phát hiện chùa L1 bị mất 01 hòm công đức và 01 chiếc chuông gia trì bằng đồng nên đã báo lại cho Ban L1 biết. Ông Nguyễn Vương V là người được phân công nhiệm vụ trụ trì quản lý chùa L1 đã trình báo sự việc đến Công an phường Y, thành phố Y. Quá trình điều tra, xác định Lê Trung K là người đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản. Do lo sợ hành vi trộm cắp tài sản bị phát hiện nên ngày 04-7-2024, K đã bỏ trốn đến xã T, huyện L, tỉnh Yên Bái và tiếp tục trộm cắp tài sản là một chiếc xe mô tô và một chiếc bình ắc quy của anh Ngô Minh T, sinh năm 1971, trú tại thôn S, xã T, huyện L, tỉnh Yên Bái thì bị phát hiện, bắt giữ. Ngày 12-7-2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L, tỉnh Yên Bái đã khởi tố vụ án, khởi tố bị can và đến ngày 25-10-2024, K bị Tòa án nhân dân huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái xử phạt 02 năm 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại Bản án số 28/2024/HS-ST.

Quá trình điều tra đã thu giữ: 01 chiếc chuông bằng đồng (loại chuông gia trì) có trọng lượng 13kg, trên bề mặt có dán chữ Trung Quốc màu đỏ do bà Phan Thị Thanh C giao nộp ngày 17-6-2024 và 01 chiếc hòm công đức bằng kim loại, sơn màu nâu, kích thước (0,45 x 0,75 x 0,36m), có trọng lượng 37kg và 01 chiếc xà cầy bằng kim loại, trọng lượng 2,5kg, đường kính 2,0cm, dài 0,85m, một đầu nhọn, một đầu bẹt, đều đã qua sử dụng, thu giữ trong quá trình khám nghiệm hiện trường ngày 17-6-2024.

Tại Kết luận định giá tài sản số 25/KL-HĐĐGTS ngày 01-7-2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Y kết luận: 01 chiếc chuông gia trì bằng đồng, nặng 13 kg đã qua sử dụng. Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố xác định có giá trị tại thời điểm chiếm đoạt ngày 17-6-2024 là: 12.500.000 đồng.

Tại Kết luận định giá tài sản số 29/KL-HĐĐGTS ngày 15-7-2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Y kết luận: 01 chiếc hòm công đức bằng kim loại, sơn màu nâu, kích thước (0,45 x 0,75 x 0,36 m), có trọng lượng nặng 37 kg. Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố xác định có giá trị tại thời điểm chiếm đoạt ngày 17-6-2024 có giá trị: 1.295.000 đồng.

Tổng giá trị tài sản mà Lê Trung K đã chiếm đoạt vào ngày 17-6-2024 là: 14.025.000 đồng.

Ngày 03-7-2024, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Y đã ra Quyết định xử lý vật chứng số 630/QĐ-ĐCSHS trả cho bị hại chiếc chuông. Bị hại đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu, đề nghị gì thêm.

Ngày 16-7-2024, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Y đã Quyết định xử lý vật chứng số 673/QĐ-ĐCSHS trả cho bị hại chiếc hòm công đức. Đối với việc chiếc hòm công đức bị cạy phá một phần, tuy nhiên thiệt hại không lớn và số tiền 230.000 đồng Lê Trung K đã trộm cắp trong hòm công đức K đã tiêu sài hết, bị hại không có yêu cầu, đề nghị K phải bồi thường số tiền trên.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là bà Phan Thị Thanh C không yêu cầu bị cáo phải trả lại số tiền 400.000 đồng mà bà C đã trả cho K để mua chiếc chuông bằng đồng.

Cáo trạng số 73/CT-VKSTP ngày 01-10-2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái truy tố Lê Trung K về tội: “Trộm cắp tài sản” theo điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa:

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Yên Bái giữ nguyên quan điểm truy tố như cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lê Trung K phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

- Về hình phạt:

Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 luật hình sự; Xử phạt bị cáo Lê Trung K: từ 02 năm 06 tháng tù đến 03 năm tù và tổng hợp với hình phạt với Bản án số 28/2024/HS-ST ngày 25-10-2024 của Tòa án nhân dân huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

- Về trách nhiệm dân sự: Do bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu nên không đặt ra vấn đề giải quyết.

- Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu, tiêu hủy 01 chiếc xà cầy bằng kim loại; 01 chiếc hộp giấy bìa cattong.

- Về án phí và quyền kháng cáo: Đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.

Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình và không có tranh luận gì.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Y, tỉnh Yên Bái, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Yên Bái, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tố tụng: Tại phiên tòa, đại diện theo ủy quyền của bị hại; người làm chứng và người chứng kiến đã được triệu tập nhưng vắng mặt. Tuy nhiên, sự vắng mặt của những người tham gia tố tụng trên không gây trở ngại cho việc xét xử. Vì vậy, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt họ theo quy định tại Điều 292 và Điều 293 Bộ luật tố tụng hình sự và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái.

[3] Lời nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của người đại diện theo ủy quyền của bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; người làm chứng, vật chứng bị thu giữ và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Do đó, đã đủ cơ sở kết luận: Khoảng 01 giờ ngày 17-6-2024, lợi dụng sơ hở của chủ sở hữu trong việc trông coi, quản lý tài sản, Lê Trung K đã có hành vi lén lút chiếm đoạt 01 chiếc chuông gia trì bằng đồng trị giá 12.500.000 đồng, 01 chiếc hòm công đức trị giá 1.295.000 đồng, bên trong có số tiền 230.000 đồng tại chùa L1 thuộc quyền quản lý của Ủy ban nhân dân phường Y, thành phố Y, tỉnh Yên Bái. Tổng số trị giá tài sản Lê Trung K đã chiếm đoạt là 14.025.000 đồng. Tại Bản án số 49/2021/HS-ST ngày 17-9-2021 của Tòa án nhân dân thành phố Yên Bái xử phạt bị cáo Lê Trung K 02 năm 6 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự với tình tiết tăng nặng định khung “Tái phạm nguy hiểm”. Tính đến thời điểm phạm tội ngày 17-6-2024, Lê Trung K có 03 tiền án về tội “Trộm cắp tài sản” chưa được xóa án tích. Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Yên Bái truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” với tình tiết định khung hình phạt “Tái phạm nguy hiểm” quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

[4] Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp, xâm phạm quyền sở hữu tài sản của cơ quan, tổ chức được pháp luật bảo vệ. Hành vi tội phạm bị cáo thực hiện tại nơi tâm linh, tín ngưỡng đã gây mất trật tự, an toàn và trị an cho xã hội, gây tâm lý hoang mang trong quần chúng nhân dân tại địa phương. Do đó cần phải đưa các bị cáo ra xử lý trước pháp luật.

[5] Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo Lê Trung K là người có đủ năng lực nhận thức điều chỉnh mọi hành vi, hoạt động của bản thân, bị cáo biết hành vi trộm cắp tài sản là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Bị cáo có 03 tiền án chưa được xóa án tích đều về tội “Trộm cắp tài sản” vào các năm 2017; 2019 và 2021. Sau khi chấp hành xong các bản án trở về địa phương, bị cáo không lấy đó làm bài học cảnh tỉnh, sửa đổi bản thân mà vẫn tiếp tục phạm tội, thể hiện ý thức tu dưỡng, rèn luyện bản thân của bị cáo là rất kém.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo do đó xem xét cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo có nhiều tiền án. Hành vi phạm tội lần này của bị cáo thuộc trường hợp “tái phạm nguy hiểm” đã được áp dụng là tình tiết định khung hình phạt theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 nên bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

[7] Về hình phạt chính: Từ những phân tích trên, căn cứ vào tính chất, mức độ, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy:

Cần phải có một hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để giáo dục, cải tạo bị cáo và phòng ngừa tội phạm nói chung.

Ngày 25-10-2024, bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái xử phạt 02 năm 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại Bản án số 28/2024/HS-ST. Do đó, cần buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của Bản án số 28/2024/HS-ST ngày 25-10-2024 và tổng hợp với hình phạt của bản án này theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Bộ luật hình sự để quyết định hình phạt chung đối với bị cáo.

[8] Về hình phạt bổ sung: Căn cứ vào kết quả xác minh của Cơ quan cảnh sát điều tra, bị cáo không có thu nhập, không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[9] Về hành vi và những người liên quan khác:

- Đối với bà Phan Thị Thanh C là người mua chiếc chuông gia trì bằng đồng Lê Trung K mang đến bán ngày 17-6-2024, bà C không biết đây là tài sản do K phạm tội mà có nên hành vi của bà Phan Thị Thanh C không cấu thành tội "Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có" theo quy định tại Điều 323 Bộ luật hình sự.

- Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho Lê Trung K ngày 03-7-2024, do K không biết tên, địa chỉ, nhân thân người đàn ông này, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Y không có căn cứ xác minh để xử lý.

- Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Lê Trung K: Ngày 08-8-2024, Công an thành phố Y ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 132/QĐ-XPHC đối với Lê Trung K là phù hợp.

[10] Về vật chứng:

- Đối với 01 chiếc chuông bằng đồng (loại chuông gia trì) có trọng lượng 13kg, trên bề mặt có dán chữ Trung Quốc màu đỏ do bà Phan Thị Thanh C giao nộp ngày 17-6-2024 và 01 chiếc hòm công đức bằng kim loại, sơn màu nâu, kích thước (0,45 x 0,75 x 0,36m) có trọng lượng 37kg, đã qua sử dụng thu giữ trong quá trình khám nghiệm hiện trường ngày 17-6-2024: Quá trình điều tra, cơ quan điều tra đã trả lại cho người được giao quản lý tài sản trên là ông Nguyễn Vương V nên Hội đồng xét xử không xem xét.

- Đối với 01 chiếc xà cầy bằng kim loại, trọng lượng 2,5kg, đường kính 2,0cm, dài 0,85m, một đầu nhọn, một đầu bẹt, đã qua sử dụng, thu giữ trong quá trình khám nghiệm hiện trường ngày 17-6-2024 và 01 chiếc hộp giấy bìa cattong, các mép hở có dán giấy màu trắng, mặt trước có ghi dòng chữ “Vật chứng của vụ trộm cắp tài sản xảy ra tại tổ A, phường Y, TP Y ngày 17/6/2024” là vỏ hộp niêm phong chiếc chuông gia trì bằng đồng do bà Phan Thị Thanh C giao nộp ngày 17-6-2024: Xét là những đồ vật có liên quan đến tội phạm, không còn giá trị sử dụng, cần tịch thu, tiêu hủy.

[11] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ, liên quan đều không có yêu cầu bị cáo phải bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[12] Về án phí: Bị cáo phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[13] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

[14] Đề nghị của Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái tại phiên tòa là có căn cứ nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

  1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lê Trung K phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  2. Về hình phạt: Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Lê Trung K 03 năm 06 tháng tù. Tổng hợp với hình phạt 02 năm 09 tháng tù tại Bản án số 28/2024/HS-ST ngày 25-10-2024 của Tòa án nhân dân huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của cả hai bản án là 06 (sáu) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam bị cáo: 05-7-2024.
  3. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu, tiêu hủy:
    • - 01 chiếc xà cầy bằng kim loại, đường kính 2,0cm dài 0,85m, có trọng lượng 2,5kg, một đầu nhọn, một đầu bẹp, đã qua sử dụng.
    • - 01 chiếc hộp giấy bìa cattong, các mép hở có dán giấy mầu trắng có chữ ký và tên của Lã Quý H, Ngô Tuấn M, Nguyễn Tiến D1 và Phan Thị Thanh C và ghi dòng chữ “vật chứng của vụ trộm cắp tài sản xảy ra tại tổ A, phường Y, TP Y ngày 17/6/2024".

    (Đặc điểm vật chứng theo biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 01-10-2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Y và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Yên Bái).

  4. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án:

    Bị cáo Lê Trung K phải nộp 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

  5. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự:

    Bị cáo Lê Trung K được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

    Bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

    Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7,7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Yên Bái;
  • - VKSND tỉnh Yên Bái,
  • - Sở Tư pháp tỉnh Yên Bái;
  • - VKSND TP. Yên Bái;
  • - THADS TP. Yên Bái;
  • - HSNV; CATP. Yên Bái;
  • - Bị cáo; Bị hại;
  • - Người đại diện theo ủy quyền của bị hại;
  • - Người có QL,NVLQ;
  • - Lưu HS, TA.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Tạ Thị Kim Anh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 80/2024/HS-ST ngày 28/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ YÊN BÁI, TỈNH YÊN BÁI về hình sự sơ thẩm (trộm cắp tài sản)

  • Số bản án: 80/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự Sơ thẩm (Trộm cắp tài sản)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ YÊN BÁI, TỈNH YÊN BÁI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: 1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lê Trung K phạm tội “Trộm cắp tài sản”. 2. Về hình phạt: Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Lê Trung K 03 năm 06 tháng tù. Tổng hợp với hình phạt 02 năm 09 tháng tù tại Bản án số 28/2024/HS-ST ngày 25-10-2024 của Tòa án nhân dân huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của cả hai bản án là 06 (sáu) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam bị cáo: 05-7-2024
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger