Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN VĨNH BẢO

THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 80/2024/HS-ST

Ngày 06-11-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH BẢO, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Hoàng Đức Vịnh

Các Hội thẩm nhân dân.

Bà Phạm Thị Khanh

Bà Nguyễn Thị Tâm.

- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Công Khanh - Thư ký Toà án nhân dân

huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Bảo tham gia phiên toà: Bà

Nguyễn Thị Phương - Kiểm sát viên.

- Người tiến hành tố tụng khác tại điểm cầu thành phần: Bà Vũ Thị T -

Thư ký Toà án nhân dân huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng.

Ngày 06 tháng 11 năm 2024, tại điểm cầu trung tâm (Trụ sở Toà án nhân dân huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng) và điểm cầu thành phần (Nhà tạm giữ, tạm giam Công an huyện V), Toà án nhân dân huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng, xét xử sơ thẩm trực tuyến công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 70/2024/TLHS-ST ngày 01 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 78/2024/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 10 năm 2024, đối với bị cáo:

Phạm Văn D, sinh ngày 26/8/1989 tại Hải Phòng; nơi cư trú: Thôn B, xã T, huyện V, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn T1 và bà Nguyễn Thị N; có vợ là Trịnh Thị Quỳnh N1 và có 01 con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Tại Bản án số 13/2914/HS-ST ngày 05/3/2014, Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng xử phạt 66 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản”, quy định tại điểm d khoản 2 Điều 136 của Bộ luật hình sự năm 1999 và phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm. Dầu chấp hành xong hình phạt tù vào ngày 10/8/2018 và nộp tiền án phí vào ngày 05/3/2014 (Đã được xoá); ngày 17/11/2010 Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện V có quyết định số 3137/QĐ-UBND về việc đưa người nghiện vào cai nghiện tại cơ sở chữa bệnh đối với Phạm Văn D thời hạn 24 tháng. Dầu chấp hành xong quyết định vào ngày 16/11/2012 (Đã được xoá); bị bắt tạm giữ từ ngày 12/4/2024 đến ngày 19/4/2023 chuyển tạm giam đến nay, có mặt.

- Người làm chứng: Chị Trịnh Thị Quỳnh N1, chị Vũ Thị H, vắng mặt.

- Người chứng kiến: Anh Vũ Văn T2 và bà Nguyễn Thị L, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trưa ngày 12/4/2024, tổ công tác Công an huyện V phối hợp cùng Công an xã V, huyện V tiến hành tuần tra trên tuyến đường Q, thuộc địa phận Cụm D, xã V, huyện V. Đến khoảng 12 giờ 40 phút cùng ngày, tổ công tác phát hiện 01 xe ô tô bán tải nhãn hiệu Ford Ranger màu xám, dừng xe trên tuyến đường quốc lộ 10 gần khu vực chợ thuộc cụm D, xã V (đầu xe hướng về thị trấn V) có 02 nam giới từ trên ô tô đi xuống, 01 người nam giới mặc quần bò màu xanh, áo đen, tóc nhuộm màu nâu xuống xe từ vị trí ghế lái (điều tra xác định là Phạm Văn D) và 01 người nam giới xuống xe từ cửa sau bên phải (theo D khai là người tên P, chưa xác định được họ tên, tuổi, địa chỉ cụ thể) đi xuống phía cuối xe ô tô nói chuyện với nhau. Tổ công tác nghi vấn hai đối tượng có dấu hiệu phạm tội nên áp sát để kiểm tra. Khi cách chỗ D và P đứng khoảng 3m thì D bỏ chạy về hướng cầu Q, còn đối tượng tên P chạy lên xe ô tô phóng xe chạy về hướng đi thị trấn V. Tổ công tác đuổi theo D được khoảng 10m thì D móc từ trong túi quần bên phải phía trước đang mặc 01 túi nilon màu trắng và ném túi nilon đó qua dải phân cách cứng của quốc lộ A sang làn đường đối diện. Sau đó D tiếp tục bỏ chạy vào khu vực chợ C, xã V được khoảng 10m thì bị tổ công tác khống chế bắt giữ và áp giải D đến vị trí vứt túi nilon trên đường. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang và thu giữ trên mặt đường Quốc lộ 10 cách vỉa hè trước cửa hàng vật liệu Thìn Liên 2,9m một túi nilon màu trắng viền màu đỏ kích thước 4x9cm, bên trong chứa tinh thể màu trắng (nghi là ma túy) được xác định là do D lấy từ túi quần bên phải đang mặc ném ra trong quá trình bị đuổi. Tiến hành kiểm tra trên người Dầu không phát hiện thu giữ đồ vật nào.

Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V đã tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Phạm Văn D thôn B, xã T, huyện V, thành phố Hải Phòng. Kết quả khám xét phát hiện, thu giữ đồ vật tại phòng ngủ của Phạm Văn D 02 (hai) vỏ túi nilon màu trắng mép viền màu xanh kích thước 1,5x2cm (không bám dính chất gì); 01 túi nilon màu trắng kích thước 2x2,5cm có bám dính chất tinh thể màu trắng được niêm phong trong 01 phong bì thư (Ký hiệu niêm phong là mẫu số 1); 01 thẻ nhựa màu cam có in chữ HERMES PARIS (không phát hiện có bám dính chất gì); 01 ống hút bằng kim loại dài 5cm; 01 đĩa sứ màu trắng hình tròn trên đĩa có bám dính tạp chất màu nâu (chất dẻo màu nâu) được niêm phong trong 01 túi nilon màu xanh (Ký hiệu niêm phong là mẫu số 2). Thu giữ trên nền phòng ngủ 02 vỏ túi nilon màu trắng mép viền màu xanh kích thước 2,5 x 2,5 cm (không bám dính chất gì); thu giữ trong giỏ nhựa màu xanh trên bàn gỗ cạnh giường ngủ 01 túi nilon màu trắng mép viền đỏ kích thước 2,5x2,5cm có bám dính chất tinh thể màu trắng được niêm phong trong 01 phong bì thư (Ký hiệu niêm phong là mẫu số 3).

Tại bản Kết luận giám định số 457/KL-KTHS ngày 16/4/2024 của Phòng K, Công an thành phố H kết luận đối với tinh thể trong túi nilon màu trắng viền màu đỏ, kích thước 4x9cm thu khi bắt quả tang Phạm Văn D: “Tinh thể màu trắng gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,40gam, loại Methamphetamine”.

Tại bản Kết luận giám định số 458/KL-KTHS ngày 17/4/2024 của Phòng K, Công an thành phố H kết luận đối với các mẫu vật thu khi khám xét nơi ở của Phạm Văn D như sau:

+ “Tinh thể màu trắng bám dính trong túi nilon của mẫu số 1 gửi giám định là ma túy, loại Ketamine, không đủ điều kiện cân xác định khối lượng chất ma túy bám dính trên.

+ Chất dẻo màu nâu bám dính trên bề mặt đĩa sứ của mẫu số 2 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,31 gam, loại Methamphetamine và Ketamine.

+ Tinh thể màu trắng bám dính trong túi nilon của mẫu số 3 gửi giám định là ma túy, loại:Ketamine, không đủ điều kiện cân xác định khối lượng chất ma túy bám dính trên".

Tại bản Kết luận giám định số 3810/KL-KTHS ngày 03/6/2024 của V Bộ C1 kết luận: “Hàm lượng các chất ma túy Methamphetamine, Ketamine có trong mẫu.

Tại Công văn số 1994/C09-TT2 ngày 08/7/2024 của V Bộ C1 có nêu: “Căn cứ vào Kết luận giám định số 458/KL-KTHS ngày 17/4/2024 của Phòng K - Công an thành phố H; Căn cứ vào Kết luận giám định số 3810/KL-KTHS ngày 03/6/2024 của V - Bộ C1 xác định: Khối lượng chất ma túy Methamphetamine và Ketamine có trong 0,31gam là mẫu vật thu giữ ban đầu là 0,050gam và 0,176gam".

Tại Thông báo kết quả giám biệt nguồn hơi số 560/TB-PK02 ngày 13/04/2024 của Phòng Cảnh sát cơ động Công an thành phố H thể hiện: “Nguồn hơi từ 01 (một) túi nilon có đặc điểm màu trắng, viền mép túi màu đỏ, kích thước 4x9cm đồng nhất với nguồn hơi thu từ 01(một) chiếc áo phông ngắn tay màu đen thu giữ của Phạm Văn D, sinh năm 1989, thường trú tại thôn B, xã T, huyện V, thành phố Hải Phòng”.

Với các tài liệu, chứng cứ đã thu thập được, ngày 19/4/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V đã ra quyết định khởi tố vụ án hình sự, quyết định khởi tố bị can và lệnh tạm giam đối với Phạm Văn D về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý theo Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V, Phạm Văn D khai nhận: Sáng ngày 10/4/2024, do bản thân nghiện ma túy nên một mình bắt tắc xi ra khu vực đường T, quận L, thành phố Hải Phòng gặp 01 người nam giới không quen biết hỏi mua 3.000.000 đồng ma túy là loại Ketamine (K) và 1.000.000 đồng ma túy đá. Người đàn ông này đưa lại cho D 02 túi nilon là ma túy Ke và 01 túi nilon là ma túy đá. Sau đó D đi tắc xi về nhà. Tối ngày 10/4/2024 và ngày 11/4/2024 D một mình sử dụng hết 01 túi ma túy Ke tại phòng ngủ của Dầu ở thôn B, xã T, huyện V, còn lại 01 túi ma túy Ke thì sáng ngày 12/4/2024 D đổ ra đĩa hơ nóng để hít thì chất ma túy đó chảy ra có màu nâu nên D không sử dụng nữa và để trên ghế sofa trong phòng ngủ của D, còn 01 túi ma túy đá Dầu cho vào túi quần bên phải phía trước đang mặc mang đi để khi nào cần thì sử dụng. Khoảng 10 giờ ngày 12/4/2024, D chuẩn bị dụng cụ để ra huyện C mua cây nên có thuê tắc xi dù của người tên P và người đánh cây thuê tên T3, ở xã T, huyện V. Khi đi D là người lái xe của P (D không nhớ biển kiểm soát) chở bà H ngồi ghế phụ phía trước cạnh D, còn T3 và P ngồi phía sau. D điều khiển xe ô tô đi từ nhà Dầu ở T đi qua xã V đến xã V đi ra Quốc lộ A, Dầu rẽ về bên phải hướng đi thị trấn V thì dừng lại vào chợ C gần đó mua hoa quả và hương đi thắp hương trước khi đánh cây. Khi D xuống xe, thì P cũng xuống xe và bảo để P lái cho vì ra ngoài này P biết đường. Dầu thấy lực lượng Công an tiến lại gần mình, do bản thân đang mang theo ma túy nên D hoảng sợ và bỏ chạy, trên đường bỏ chạy, D có móc từ trong túi quần bên phải phía trước đang mặc 01 túi nilon màu trắng viền màu đỏ chứa ma túy đá vứt ra phần đường đối diện qua dải phân cách cứng và tiếp tục bỏ chạy vào trong chợ C thì bị lực lượng Công an huyện V khống chế bắt giữ. Toàn bộ số ma túy Dầu cất giấu trên người và tại nơi ở của D đều là của Dầu nhằm mục đích để sử dụng, việc cất giấu và sử dụng ma túy vợ D và những người trên xe ô tô đi cùng Dầu vào sáng ngày 12/4/2024 đều không biết. Các vỏ túi nion không chứa ma túy là D mua về để đựng thuốc tây, còn thẻ và ống kim loại là dụng cụ để D sử dụng ma túy.

Tại Phiếu xét nghiệm ngày 12/4/2024 của Cơ sở điều trị Methadone V, xác định D dương tính với MDMA và MET.

Tại bản Cáo trạng số 72/CT-VKS ngày 30/9/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng đã truy tố bị cáo Phạm Văn D về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm i khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa bị cáo Phạm Văn D đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.

Kết thúc phần tranh tụng Kiểm sát viên trình bày lời luận tội khẳng định: Việc truy tố bị cáo Phạm Văn D về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo điểm i khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử, áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Phạm Văn D từ 21 Đến 27 tháng tù; không áp dụng hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo; về vật chứng: Đề nghị tịch thu tiêu hủy 0,24 gam Methamphetamine của mẫu vật được niêm phong lại trong một bì giấy, dấu niêm phong số 457MT/PC09; 01 túi nilon viền mép túi màu đỏ, kích thước 09cm x 4cm được niêm phong trong 01 bì giấy; 01 túi nilon của mẫu số 1; 01 đĩa sứ của mẫu số 2 và 01 túi nilon của mẫu số 3 được niêm phong lại trong một hộp giấy, dấu niêm phong số 458MT-A/PC09; vỏ bao gói được đựng trong một niêm phong dán kín số 3810/KL-KTHS; 02 vỏ túi nilon màu trắng mép viền màu xanh kích thước 1,5 x 2 cm; 02 vỏ túi nilon màu trắng mép viền màu xanh kích thước 2,5x 2,5 cm; 01 thẻ nhựa màu cam có in chữ HERMES PARIS đã cũ, đã qua sử dụng; 01 ống hút bằng kim loại dài 5cm đã cũ, đã qua sử dụng. Đây là các công cụ phạm tội không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu huỷ

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V, thành phố Hải Phòng, của Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến và khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tội danh và khung hình phạt: Tại phiên tòa, bị cáo Phạm Văn D đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại giai đoạn điều tra, biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang, lời khai của người chứng kiến, kết luận giám định cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ căn cứ kết luận: Khoảng 12 giờ 40 phút ngày 12/4/2024, tại quốc lộ A thuộc địa phận Cụm dân cư số G, xã V, huyện V, thành phố Hải Phòng, Phạm Văn D đã có hành vi cất giấu trên người và trong phòng ngủ của D tại thôn B, xã T, huyện V, thành phố Hải Phòng 0,45gam ma túy là loại Methamphetamine và 0,176gam ma túy là loại Ketamine với mục đích để sử dụng. Do đó, hành vi của Phạm Văn D đã phạm vào tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" quy định tại Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

[3] Về tình tiết định khung hình phạt: Bị cáo Phạm Văn D vừa tàng trữ 0,45gam ma túy loại Methamphetamine và tàng trữ 0,176gam ma túy loại Ketamine. Theo Điều 5 Nghị định số 19/2018/NĐ-CP ngày 02/02/2018 của Chính phủ quy định về việc tính tổng khối lượng hoặc thể tích chất ma túy tại một số điều của Bộ luật Hình sự, tỷ lệ phần trăm về khối lượng về chất ma túy loại Methamphetamine do Dầu tàng trữ so với mức tối thiểu khối lượng chất ma túy loại Methamphetamine quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự là 9%; tỷ lệ phần trăm về khối lượng về chất ma túy loại Ketamine do Dầu tàng trữ so với mức tối thiểu khối lượng chất ma túy loại Ketamie quy định tại điểm 1 khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự là 0,2%. Với tổng tỷ lệ phần trăm về khối lượng các chất ma túy do D tàng trữ là 9,2% là dưới 100%. Do đó, bị cáo Phạm Văn D phải chịu tình tiết định khung hình phạt quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

[4] Tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm chính sách quản lý độc quyền của Nhà nước đối với các chất ma túy mà còn xâm phạm trật tự trị an xã hội, đồng thời là nguyên nhân phát sinh các loại tệ nạn xã hội khác. Vì vậy, cần phải có hình phạt nghiêm khắc tương xứng với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội và đặc điểm nhân thân của bị cáo.

[5] Về tình tiết tăng nặng trách hiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều 52 của Bộ luật Hình sự.

[6] Về nhân thân và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trước lần phạm tội này bị cáo có 01 tiền án và 01 tiền sự, cụ thể: Tại Bản án số 13/2914/HS-ST ngày 05/3/2014, Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng xử phạt 66 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản”, quy định tại điểm d khoản 2 Điều 136 của Bộ luật hình sự năm 1999 (Đã được xoá) và ngày 17/11/2010 Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện V có quyết định số 3137/QĐ-UBND về việc đưa người nghiện vào cai nghiện tại cơ sở chữa bệnh đối với Phạm Văn D thời hạn 24 tháng (Đã được xoá). Mặc dù tiền án và tiền sự này đã được xoá xong Hội đồng xét xử đánh giá bị cáo là người có nhân thân xấu. Tuy nhiên, quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

[7] Cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử thấy rằng bị cáo là đối tượng nghiện ma tuý, phạm tội nghiêm trọng nên cần cách ly có thời hạn đối với bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định như đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên toà mới đảm bảo tác dụng giáo dục bị cáo ý thức tuân theo pháp luật, ngăn ngừa bị cáo phạm tội mới, giáo dục người khác tôn trọng pháp luật, phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm.

[8] Ngoài hình phạt chính bị cáo có thể phải chịu hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Tuy nhiên, Hội đồng xét xử thấy, bản thân bị cáo làm nghề lao động tự do, không có thu nhập ổn định, không có tài sản gì có giá trị nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo như đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên toà là phù hợp.

[9] Về vật chứng: Đối với 0,24 gam Methamphetamine của mẫu vật được niêm phong lại trong một bì giấy, dấu niêm phong số 457MT/PC09; 01 túi nilon viền mép túi màu đỏ, kích thước 09cm x 4cm được niêm phong trong 01 bì giấy; 01 túi nilon của mẫu số 1; 01 đĩa sứ của mẫu số 2 và 01 túi nilon của mẫu số 3 được niêm phong lại trong một hộp giấy, dấu niêm phong số 458MT-A/PC09; vỏ bao gói được đựng trong một niêm phong dán kín số 3810/KL-KTHS; 02 vỏ túi nilon màu trắng mép viền màu xanh kích thước 1,5 x 2 cm; 02 vỏ túi nilon màu trắng mép viền màu xanh kích thước 2,5x 2,5 cm; 01 thẻ nhựa màu cam có in chữ HERMES PARIS đã cũ, đã qua sử dụng; 01 ống hút bằng kim loại dài 5cm đã cũ, đã qua sử dụng. Đây là các công cụ phạm tội không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu huỷ

[10] Trong vụ án này còn có người nam giới bán ma túy cho Phạm Văn D tại khu vực đường T, L, thành phố Hải Phòng, hiện chưa xác định được căn cước, lai lịch nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V tiếp tục làm rõ, xử lý sau là đúng quy định của pháp luật.

[11] Đối với P và T3 là người đi cùng xe với Dầu vào ngày 12/4/2024, hiện chưa xác định được tên tuổi, địa chỉ cụ thể, quá trình điều tra D khai nhận T3 và P không liên quan đến hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của D vào ngày 12/4/2024, nên Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh thông tin về T3 và P để làm rõ xem xét xử lý sau là đúng quy định của pháp luật.

[12] Đối với Vũ Thị H, Trịnh Thị Quỳnh N1 do không biết việc D cất giấu ma túy trên người và nơi ở; không liên quan đến hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của Dầu nên Cơ quan điều tra không xử lý là đúng quy định của pháp luật.

[13] Về án phí và quyền kháng cáo bản án: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố bị cáo Phạm Văn D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Phạm Văn D 21 (Hai mốt) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 12/4/2024.

2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 của Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 0,24 gam Methamphetamine của mẫu vật được niêm phong lại trong một bì giấy, dấu niêm phong số 457MT/PC09; 01 túi nilon viền mép túi màu đỏ, kích thước 09cm x 4cm được niêm phong trong 01 bì giấy; 01 túi nilon của mẫu số 1; 01 đĩa sứ của mẫu số 2 và 01 túi nilon của mẫu số 3 được niêm phong lại trong một hộp giấy, dấu niêm phong số 458MT-A/PC09; vỏ bao gói được đựng trong một niêm phong dán kín số 3810/KL-KTHS; 02 vỏ túi nilon màu trắng mép viền màu xanh kích thước 1,5 x 2 cm; 02 vỏ túi nilon màu trắng mép viền màu xanh kích thước 2,5 x 2,5cm; 01 thẻ nhựa màu cam có in chữ HERMES PARIS đã qua sử dụng; 01 ống hút bằng kim loại dài 5cm đã qua sử dụng. Toàn bộ vật chứng có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng ngày 01/10/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vĩnh Bảo.

3. Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và khoản 1 Điều 6; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Phạm Văn D phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo đối với bản án sơ thẩm: Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

5. Về quyền yêu cầu thi hành án: Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - TAND thành phố Hải Phòng;
  • - VKSND thành phố Hải Phòng;
  • - CAThành phố Hải Phòng(PV 06, PC 10);
  • - Sở tư pháp thành phố Hải Phòng;
  • - VKSND huyện Vĩnh Bảo;
  • - Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Vĩnh Bảo;
  • - Cơ quan THA hình sự Công an huyện Vĩnh Bảo;
  • - Chi cục THA dân sự huyện Vĩnh Bảo;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu: Hành chính tư pháp, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Hoàng Đức Vịnh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 80/2024/HS-ST ngày 06/11/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH BẢO, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về tàng trữ trái phép chất ma túy (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 80/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 06/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH BẢO, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: HSST
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger