|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PLEIKU TỈNH GIA LAI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 80/2024/HS-ST
Ngày: 17/5/2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PLEIKU – TỈNH GIALAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Tố Uyên.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Bắc, bà Nguyễn Phi Khanh.
Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Lệ Quyên – Thư ký Tòa án nhân dan thành phố Pleiku, tỉnh Gia lai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai tham gia phiên tòa: Ông Đào Anh Tuấn - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 5 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia lai, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 70/2024/TLST-HS ngày 03 tháng 4 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 79/2024/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 4 năm 2024 đối với các bị cáo:
-
Họ và tên: Trương Thị X. Tên gọi khác: Thảo N; Giới tính: Nữ. Sinh năm 1973, tại Bình Định; Nơi đăng ký HKTT: Số B đường N, phường A, quận T, TP . Hồ Chí Minh; Chỗ ở: Số D đường số A, phường A, quận G, TP . Hồ Chí Minh.Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Thợ may.
Cha: Trương Thành M (đã chết); Mẹ: Đỗ Thị N1 (đã chết).
Gia đình bị cáo có 08 anh, chị, em ruột; lớn nhất sinh năm 1954, nhỏ nhất sinh năm 1978. Bị cáo là con thứ sáu trong gia đình.
Chồng: Dương Công Ầ, sinh năm 1969 (đã ly hôn); Bị cáo có 02 con lớn nhất sinh năm 1992, nhỏ nhất sinh năm 1996.
Tiền án: Không. Tiền sự: Không.
Bị cáo Trương Thị X bị áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 05/01/2024 cho đến nay.
Hiện bị cáo đang tại ngoại có mặt tại phiên tòa.
-
Họ và tên: Trần Minh L. Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam. Sinh năm 1970, tại Hải Dương; Nơi đăng ký HKTT: Tổ B, phường T, TP ., tỉnh Gia Lai; Chỗ ở: Tổ G, phường H, TP ., tỉnh Gia Lai.
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Kinh doanh.
Cha: Trần Minh C (đã chết); Mẹ: Trần Thị L1, sinh năm 1942, hiện trú tại phường T, TP ., tỉnh Gia Lai.
Gia đình bị cáo có 04 anh, em ruột; lớn nhất sinh năm 1964, nhỏ nhất sinh năm 1976. Bị cáo là con thứ hai trong gia đình.
Vợ: Phan Thị Kim O, sinh năm 1973; Bị cáo có 02 người con, sinh năm 1992 và 1998.
Ngày 30/5/2023, bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh G khởi tố, bắt tạm giam về tội: “Nhận hối lộ”; ngày 12/01/2024, được áp dụng biện pháp Bảo lĩnh.
Tiền án: Không. Tiền sự: Không.
Bị cáo Trần Minh L đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Bảo lĩnh trong vụ án khác.
Hiện bị cáo đang tại ngoại có mặt tại phiên tòa.
-
Họ và tên: Phan Thị Kim O. Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nữ. Sinh năm 1973, tại Thanh Hóa; Nơi đăng ký HKTT: Tổ B, phường T, TP ., tỉnh Gia Lai; Chỗ ở: Tổ G, phường H, TP ., tỉnh Gia Lai.
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Kinh doanh.
Cha: Phan Thanh N2 (đã chết); Mẹ: Lê Thị L2, sinh năm 1942, hiện trú tại phường T, TP ., tỉnh Gia Lai.
Gia đình bị cáo có 04 anh, em ruột; lớn nhất sinh năm 1969, nhỏ nhất sinh năm 1973 (sinh đôi với bị cáo). Bị cáo là con út trong gia đình.
Chồng: Trần Minh L, sinh năm 1970; Bị cáo có 02 người con, sinh năm 1992 và 1998.
Tiền án: Không. Tiền sự: Không.
Bị cáo Phan Thị Kim O bị áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 26/01/2024 cho đến nay.
Hiện bị can đang tại ngoại có mặt tại phiên tòa.
Những người tham gia tố tụng khác:
Người làm chứng:
Bà Trần Thị T, sinh năm 1970; địa chỉ: Tổ E, phường H, TP . Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trương Thị X có tài sản là quyền sử dụng (QSD) đất đối với thửa đất số 91, tờ bản đồ số 14, địa chỉ ở số A đường T, thuộc Tổ F, phường H, TP ., tỉnh Gia Lai, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng (GCNQSD) đất số CD606730 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh G cấp ngày 17/6/2016. Đầu năm 2019, X thoả thuận chuyển nhượng QSD thửa đất trên cho cho vợ chồng Trần Minh L và Phan Thị Kim O, với giá trị chuyển nhượng do hai bên thống nhất là 6.850.000.000 đồng (sáu tỷ, tám trăm năm mươi triệu đồng). Ngày 10/01/2019, tại Phòng C1, Sở Tư pháp tỉnh Gia Lai, X làm Giấy bán nhà và tài sản trên đất cho vợ chồng L, O, thể hiện giá bán (chuyển nhượng) là 6.850.000.000 đồng (sáu tỷ tám trăm năm mươi triệu đồng). Giấy bán nhà và tài sản trên đất do L viết, có chữ ký của L, X; O là người trực tiếp giao tiền cho X và cất giữ Giấy bán nhà, tài sản trên đất nêu trên. Sau đó, X và L, O ký Hợp đồng chuyển nhượng QSD đất tại Phòng C1. Quá trình thoả thuận, ký hợp đồng chuyển nhượng QSD đất, X đề nghị ghi thông tin giá chuyển nhượng là 500.000.000 đồng (năm trăm triệu đồng), mục đích để giảm bớt số thuế thu nhập cá nhân mà X phải nộp vào Ngân sách Nhà nước; Lượng, O cũng được giảm bớt lệ phí trước bạ nhà, đất. Đề nghị trên của X được L và O đồng ý. Hợp đồng chuyển nhượng QSD đất giữa X và L, O được Phòng C1 công chứng ngày 10/01/2019, số công chứng 24, quyển số 01TP/CC-SCC/HĐGD. Sau khi tiếp nhận hồ sơ chuyển nhượng QSD đất giữa X và L, O, Chi cục Thuế TP.Pleiku căn cứ bảng giá đất do Ủy ban nhân dân tỉnh G quy định, tính tổng giá trị của thửa đất số 91, tờ bản đồ số 14 nêu trên là 1.384.271.452 đồng (một tỷ, ba trăm tám mươi tư triệu, hai trăm bảy mươi mốt nghìn, bốn trăm năm mươi hai đồng). Trên cơ sở tính toán giá trị thửa đất như trên, ngày 29/01/2019 Chi cục Thuế thành phố P, tỉnh Gia Lai ra thông báo nộp thuế thu nhập cá nhân đối với giao dịch chuyển nhượng QSD đất là 27.685.430 đồng (hai mươi bảy triệu, sáu trăm tám mươi lăm nghìn, bốn trăm ba mươi đồng) và lệ phí trước bạ nhà, đất là 6.907.703 đồng (sáu triệu, chín trăm lẻ bảy nghìn, bảy trăm lẻ ba đồng). Ngày 31/01/2019, X đã nộp số tiền thực thu nhập cá nhân, L đã nộp số tiền lệ phí trước bạ nhà, đất như trên vào Ngân sách Nhà nước. Sau đó, các cơ quan chức năng căn cứ Hợp đồng chuyển nhượng QSD đất đã được công chứng, biên lai nộp thuế - lệ phí trước bạ để làm thủ tục chỉnh lý sang tên QSD thửa đất số 91, tờ bản đồ số 14, địa chỉ ở số A đường T, thuộc Tổ F, phường H, thành phố P, tỉnh Gia Lai cho L và O. Việc kê khai không đúng giá trị chuyển nhượng QSD đất để giảm số tiền thuế phải nộp do X và L, O thực hiện như trên bị bà Trần Thị T (sinh năm 1970, trú Tổ E, phường H, TP .) phát hiện. Ngày 19/9/2022, bà T tố giác hành vi của X, L và O đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố P.
Quá trình thụ lý, xác minh nội dung tố giác của bà Trần Thị T, ngày 17/4/2023 Cơ quan điều tra làm việc và thu giữ Hợp đồng chuyển nhượng QSD đất giữa Trương Thị X và Trần Minh L, Phan Thị Kim O tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố P. Ngày 16/5/2023, Cơ quan điều tra làm việc với O, thì O giao nộp bản gốc Giấy bán nhà và tài sản trên đất lập ngày 10/01/2019 giữa X và L.
Qua trưng cầu giám định đối với Giấy bán nhà và tài sản trên đất, Hợp đồng chuyển nhượng QSD đất giữa Trương Thị X và Trần Minh L, Phan Thị Kim O, tại Bản Kết luận giám định số 1007/KL-KTHS ngày 30/11/2023 của Phòng K, Công an tỉnh G, kết luận:
- Chữ ký, chữ viết họ tên “Trương Thị X” trên các tài liệu giám định là do Trương Thị X ký và viết ra.
- Chữ ký, chữ viết họ tên “Trần Minh L” trên các tài liệu giám định là do Trần Minh L ký và viết ra.
- Chữ ký, chữ viết họ tên “Phan Thị Kim O” trên các tài liệu giám định là do Phan Thị Kim O ký và viết ra.
Qua trưng cầu giám định, tại Bản kết luận giám định thiệt hại về thuế ngày 12/12/2023 của Chi cục Thuế thành phố P, tỉnh Gia Lai đối với Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa Trương Thị X và Trần Minh L, Phan Thị Kim O, kết luận:
- Hành vi của Trương Thị X là hành vi trốn thuế thu nhập cá nhân theo quy định tại Khoản 5, Điều 108 Luật Quản lý thuế số 78/2006/QH11 ngày 29/11/2006. Số tiền Xiêm trốn thuế gây thiệt hại cho Ngân sách Nhà nước là 109.314.570 đồng (một trăm lẻ chín triệu, ba trăm mươi bốn nghìn, năm trăm bảy mươi đồng);
- Số tiền Trần Minh L trốn lệ phí trước bạ nhà, đất gây thiệt hại cho Ngân sách Nhà nước là 27.342.297 đồng (hai mươi bảy triệu, ba trăm bốn mơi hai nghìn, hai trăm chín mươi bảy đồng).
Tại bản cáo trạng số 87/CT-VKS ngày 01/4/2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Pleiku đã truy tố bị cáo Trương Thị X, Trần Minh L, Phan Thị Kim O về tội: “Trốn thuế” theo điểm đ khoản 1 Điều 200 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố như nội dung cáo trạng, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo Trương Thị X, Trần Minh L, Phan Thị Kim O phạm tội: “Trốn thuế”.
Đề nghị HĐXX: Áp dụng: Điểm đ Khoản 1 Điều 200; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 35; Điều 58 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi bổ sung 2017.
Tuyên phạt: bị cáo Trương Thị X từ 150.000.000 đồng (Một trăm năm mươi triệu đồng) đến 180.000.000 đồng (Một trăm tám mươi triệu đồng).
Áp dụng: Điểm đ Khoản 1 Điều 200; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 35; Điều 58 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi bổ sung 2017.
Xử phạt: bị cáo Trần Minh L 120.000.000 đồng (Một trăm hai mươi triệu đồng) đến 140.000.000 đồng (Một trăm bốn mươi triệu đồng).
Xử phạt: bị cáo Phan Thị Kim O 120.000.000 đồng (Một trăm hai mươi triệu đồng) đến 140.000.000 đồng (Một trăm bốn mươi triệu đồng).
Sau khi bản án có hiệu lực pháp luật nếu các bị cáo Trương Thị X, Trần Minh L, Phan Thị Kim O không thi hành án đối với số tiền phạt nêu trên, thì hàng tháng các bị cáo còn phải chịu tiền lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 điều 357 và khoản 2 điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015 tương ứng với số tiền và thời gian chưa thi hành án.
Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 về án phí, lệ phí Tòa án buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự theo luật định.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác có trong hồ sơ;
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
1. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố P, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Pleiku, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
2. Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa các bị cáo Trương Thị X, Trần Minh L, Phan Thị Kim O đều khai nhận: Ngày 10/01/2019, trong quá trình làm thủ tục chuyển nhượng thửa đất số 91, tờ bản đồ số 14, theo GCNQSD đất số CD606730 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh G cấp ngày 17/6/2016, địa chỉ tại số A đường T, Tổ F, phường H, thành phố P, tỉnh Gia Lai, các bị cáo Trương Thị X, Trần Minh L và Phan Thị Kim O đã thống nhất ghi giảm giá trị chuyển nhượng thực tế vào Hợp đồng chuyển nhượng, nhằm giảm bớt tiền thuế thu nhập cá nhân mà X phải nộp vào Ngân sách Nhà nước và giảm bớt tiền lệ phí trước bạ nhà, đất mà L, O phải nộp vào Ngân sách Nhà nước. Qua giám định về thuế, xác định: X đã trốn thuế thu nhập cá nhân, gây thiệt hại cho Ngân sách Nhà nước số tiền 109.314.570 đồng (một trăm lẻ chín triệu, ba trăm mươi bốn nghìn, năm trăm bảy mươi đồng); L và O đã trốn lệ phí trước bạ nhà, đất, gây thiệt hại cho Ngân sách Nhà nước số tiền 27.342.297 đồng (hai mươi bảy triệu, ba trăm bốn mơi hai nghìn, hai trăm chín mươi bảy đồng).
Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai người làm chứng, tang vật thu giữ cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án và phù hợp Kết luận giám định số 1007/KL-KTHS ngày 30/11/2023, của phòng K Công an tỉnh G, kết luận:
- - Chữ ký, chữ viết họ tên “Trương Thị X” trên các tài liệu giám định là do Trương Thị X ký và viết ra.
- - Chữ ký, chữ viết họ tên “Trần Minh L” trên các tài liệu giám định là do Trần Minh L ký và viết ra.
- - Chữ ký, chữ viết họ tên “Phan Thị Kim O” trên các tài liệu giám định là do Phan Thị Kim O ký và viết ra.
Bản kết luận giám định thiệt hại về thuế ngày 12/12/2023 của Chi cục Thuế thành phố P, tỉnh Gia Lai đối với Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa Trương Thị X và Trần Minh L, Phan Thị Kim O, kết luận:
- - Hành vi của Trương Thị X là hành vi trốn thuế thu nhập cá nhân theo quy định tại Khoản 5, Điều 108 Luật Quản lý thuế số 78/2006/QH11 ngày 29/11/2006. Số tiền Xiêm trốn thuế gây thiệt hại cho Ngân sách Nhà nước là 109.314.570 đồng (một trăm lẻ chín triệu, ba trăm mươi bốn nghìn, năm trăm bảy mươi đồng);
- - Số tiền Trần Minh L trốn lệ phí trước bạ nhà, đất gây thiệt hại cho Ngân sách Nhà nước là 27.342.297 đồng (hai mươi bảy triệu, ba trăm bốn mơi hai nghìn, hai trăm chín mươi bảy đồng).
Xét hành vi của các bị cáo tuy đơn giản nhưng đã xâm phạm trực tiếp đến trật quản lý về thuế do nhà nước thống nhất quản lý, đã có hành vi tự kê khai sử dụng chứng từ, tài liệu không hợp pháp để xác định sai số tiền thuế phải nộp, nhằm trốn tránh nghĩa vụ tài chính đối với nhà nước, làm suy giảm nguồn thu ngân sách nhà nước. Các bị cáo là người có đầy đủ năng lực hành vi dân sự, biết rõ hành vi trốn thuế là nguy hiểm cho xã hội, nhưng các bị cáo bất chấp hậu quả để thực hiện tội phạm với lỗi cố ý trực tiếp. Thực hiện tội phạm với mục đích hưởng lợi tiền chênh lệch từ việc khai báo thuế không trung thực.
Xét về tính chất mức độ của vụ án thì đây là vụ án có tính chất đồng phạm giản đơn, không có sự phân công, không có tổ chức chặt chẽ cho từng thành viên. Tuy nhiên, để cá thể hóa hình phạt cho từ bị cáo thì phải xem xét vai trò cụ thể của mỗi bị cáo khi thực hiện tội phạm:
Đối với bị cáo Trương Thị X: Bị cáo có vai trò chính trong vụ án này, bị cáo là người thống nhất ghi giảm giá trị chuyển nhượng thực tế chuyển nhượng từ số tiền 6.850.000.000 đồng (tiền thuế thu nhập phải nộp là: 137.000.000 đồng) xuống còn 500.000.000 đồng, nhưng chi cục thuế thành phố P xác định xác định xác định tổng giá trị của thửa đất số 91, tờ bản đồ số 14 là 1.384.271.452 đồng để xác định làm căn cứ xác định (tiền thuế thu thập cá nhân phải nộp là 27.685.430 đồng) để bị cáo X hưởng số tiền thuế chênh lệch là: 109.314.570 đồng (một trăm lẻ chín triệu, ba trăm mươi bốn nghìn, năm trăm bảy mươi đồng). Bị cáo phạm tội với vai trò thực hành và là người hưởng lợi trực tiếp từ số tiền trốn thuế nên phải chịu trách nhiệm chính trong vụ án này.
Đối với bị cáo Phan Thị Kim O và Trần Minh L tuy hai bị cáo không hưởng lợi từ số tiền trốn thuế nhưng đồng phạm giúp sức, người trực tiếp thực hiện tội phạm thống nhất với hai bị cáo để ghi giảm giá trị thực tế chuyển nhượng nhằm tạo điều kiện cho bị cáo X được hưởng số tiền chênh lệch là 109.314.570 đồng. Hai bị cáo phạm tội với vai trò thực hành và là giúp sức tích cực cho bị cáo khác hưởng lợi từ số tiền trốn thuế nên bị cáo cũng phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật.
Để đảm bảo công tác đấu tranh phòng chống tội phạm mà đặc biệt là tội phạm vi phạm trật tự quản lý thuế, tài chính mà cụ thể là sử dụng chứng từ, tài liệu không hợp pháp để xác định sai số tiền thuế phải nộp nên cần xử lý nghiêm để các bị cáo có điều kiện được giáo dục và cải tạo thành người công dân tốt sau này cũng như răn đe và phòng ngừa chung cho tòan xã hội.
Khi quyết định hình phạt HĐXX có xem xét đến các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo như: các bị cáo tự nguyện nộp lại toàn bộ số tiền chiếm đoạt khắc phục hậu quả, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, quá điều tra cũng như tại phiên tòa thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Nên cần áp dụng điểm b, i, s khoản 1, Điều 51 Bộ luật hình sự. Riêng bị cáo X còn được áp dụng tình tiết: Gia đình có công với cách mạng, quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Các bị cáo đã áp dụng hình phạt chính là hình phạt tiền, nên HĐXX đã căn nhắc đến các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ cũng như mức độ hành vi phạm tội mà các bị cáo đã thực hiện nên không cần áp dụng hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 4 Điều 200 Bộ luật hình sự đối với các bị cáo.
Đối với hành vi trốn nộp tiền lệ phí trước bạ nhà, đất với số tiền 27.342.297 đồng do các bị cáo Trần Minh L và Phan Thị Kim O thực hiện, qua điều tra xác định chưa đủ định lượng để truy cứu trách nhiệm hình sự. Cơ quan điều tra đã có Công văn đề nghị Chi cục Thuế thành phố P xử lý theo thẩm quyền. Do đã hết thời hiệu xử lý hành chính, đồng thời quá trình điều tra vụ án thì L và O đã nộp đủ số tiền trên vào Ngân sách Nhà nước, nên Chi cục Thuế thành phố P không xử phạt hành chính đối với L và O về hành vi trốn thuế là phù hợp.
Về dân sự: Quá trình điều tra vụ án, Trương Thị X và Trần Minh L, Phan Thị Kim O đã khắc phục toàn bộ hậu quả do hành vi trốn thuế gây ra. Cụ thể: Bị cáo X đã tự nguyện nộp vào Ngân sách Nhà nước số tiền 168.114.877 đồng (gồm 109.314.570 đồng tiền thuế thu nhập cá nhân và 58.800.307 đồng tiền chậm nộp thuế thu nhập cá nhân); Bị cáo L và bị cáo O đã nộp vào Ngân sách Nhà nước số tiền 42.049.719 đồng (gồm 27.342.297 đồng tiền lệ phí trước bạ nhà, đất và 14.707.422 đồng tiền chậm nộp lệ phí trước bạ).
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Vì những lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
-
Tuyên bố các bị cáo Trương Thị X, Trần Minh L, Phan Thị Kim O phạm tội "Trốn thuế”.
Áp dụng: Điểm đ Khoản 1 Điều 200; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 35; Điều 58 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi bổ sung 2017.
Xử phạt: bị cáo Trương Thị X 150.000.000 đồng (Một trăm năm mươi triệu đồng).
Áp dụng: Điểm đ Khoản 1 Điều 200; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 35; Điều 58 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi bổ sung 2017.
Xử phạt: bị cáo Trần Minh L 120.000.000 đồng (Một trăm hai mươi triệu đồng).
Xử phạt: bị cáo Phan Thị Kim O 120.000.000 đồng (Một trăm hai mươi triệu đồng).
Sau khi bản án có hiệu lực pháp luật nếu các bị cáo Trương Thị X, Trần Minh L, Phan Thị Kim O không thi hành án đối với số tiền phạt nêu trên, thì hàng tháng các bị cáo còn phải chịu tiền lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 điều 357 và khoản 2 điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015 tương ứng với số tiền và thời gian chưa thi hành án.
-
Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 về án phí, lệ phí Tòa án.
Các bị cáo Trương Thị X, Trần Minh L, Phan Thị Kim O mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
-
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án hôm nay (17/5/2024) các bị cáo được quyền kháng cáo để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử phúc thẩm.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Trần Thị Tố Uyên |
Bản án số 80/2024/HS-ST ngày 17/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PLEIKU – TỈNH GIALAI về hình sự (sơ thẩm) - tội trốn thuế
- Số bản án: 80/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Sơ thẩm) - Tội Trốn thuế
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PLEIKU – TỈNH GIALAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trương Thị Xiêm cùng đồng bọn pjamj tội Trốn thuế
