|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 80/2024/HS-ST Ngày: 09 - 5 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Anh Sơn.
Thẩm phán: Ông Nguyễn Quang Trung
Hội thẩm nhân dân: Ông Mai Xuân Thường
Ông Mai Huy Viện
Bà Bùi Thị Hoa
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy Nga – Thư ký, Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Ông Lê Hữu Lâm - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 03, 04 và ngày 09 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 24/2024/TLST-HS ngày 02 tháng 02 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 67/2024/QĐXXST-HS ngày 12/3/2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 175/2024/QÐST-HS ngày 29/3/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 202/2024/QÐST-HS ngày 09/4/2024, đối với bị cáo:
Họ và tên: Đào Thị Mộng T, tên gọi khác: Đào Ngọc M; giới tính: Nữ; sinh ngày 25/9/1978 tại huyện L, tỉnh Đồng Tháp; nơi cư trú: Số nhà F, ấp H, xã V, huyện L, tỉnh Đồng Tháp; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Phật giáo; trình độ văn hóa: 9/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông Đào Duy N (đã chết) và con bà Nguyễn Thị Kim P (đã chết); anh, chị, em ruột có 07 người, bị cáo là con thứ 5; chồng: Nguyễn Gia N1, sinh năm 1955, con chưa có; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 27/9/2012 bị Tòa án nhân dân quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ xử phạt 8 tháng 15 ngày về tội “Đánh bạc” đã chấp hành xong và trả tự do tại phiên tòa. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh N từ ngày 30/8/2023 đến nay, có mặt.
Người bào chữa cho bị cáo: Các Luật sư Phan Văn C, có mặt; luật sư Bùi Hoàng Linh C1, vắng mặt; luật sư Đặng Thị Phương A, có mặt – Công ty L3 - Đoàn Luật sư tỉnh H; địa chỉ: Số H đường P, xã N, thành phố V, tỉnh Nghệ An. 0962.845.806.
Luật sư Phạm Thị T1 – Công ty L4, Đoàn Luật sư tỉnh N, có mặt;
Người bị hại:
- Anh Nguyễn Việt H, sinh năm 1977, có đơn đề nghị xử vắng mặt.
Nơi cư trú: K, phường B, thành phố V, Nghệ An,
Người có quyền lợi liên quan:
- Anh Đào Duy H1, sinh năm 1970, có mặt ngày 03/5/2024 và khi tuyên án;
Nơi cư trú: Tổ H, khu phố D, phường V, thành phố R, tỉnh Kiên Giang.
- Chị Đào Thị Mộng T2, sinh năm 1976, có mặt;
Nơi cư trú: Ấp H, xã V, huyện L, tỉnh Đồng Tháp.
- Chị Đào Thị Ngọc N2, sinh năm 2003, vắng mặt;
Nơi cư trú: Số F, ấp H, xã V, huyện L, tỉnh Đồng Tháp.
- Chị Phạm Ngọc N3, sinh năm 1995, vắng mặt;
Nơi cư trú: B, N, phường A, quận D, Thành phố Hồ Chí Minh
- Anh Đào Duy P1, sinh năm 1980, vắng mặt;
Nơi cư trú: Ấp H, xã V, huyện L, tỉnh Đồng Tháp.
- Anh Nguyễn Quốc K, sinh năm 1981, vắng mặt;
Nơi cư trú: Ấp T, xã T, huyện L, tỉnh Đồng Tháp
Người làm chứng:
- Anh Trần Văn L, sinh năm 1977, vắng mặt;
Nơi cư trú: Thôn T, xã P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế.
- Anh Tôn Thất T3, sinh năm 1986, vắng mặt;
Nơi cư trú: Tổ A, khu vực 5B, phường V, tỉnh Thừa Thiên Huế.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào năm 2016 Đào Thị Mộng T tạo tài khoản facebook tên “Đào Ngọc M” để đăng các ảnh thời Mộng Thường khi đang còn trẻ, chỉnh sửa trẻ đẹp hơn. Năm 2018 Đào Thị Mộng T sử dụng facebook “Đào Ngọc M" tham gia một nhóm về phật pháp trên mạng xã hội để tiếp xúc với những người theo đạo Phật và quen biết anh Nguyễn Việt H, sinh năm 1977, trú tại khối C, phường B, thành phố V, tỉnh Nghệ An. Quá trình nói chuyện, trao đổi về phật giáo, Mộng T thấy anh H là phật tử, làm kiến trúc sư tại tỉnh Thừa Thiên Huế, kiếm được nhiều tiền và hiện đang ly thân vợ nên T nảy sinh ý định lừa đảo để chiếm đoạt tài sản của anh H.
Đào Thị Mộng T sử dụng số điện thoại 0938.695.xxx để đăng ký ních Zalo, viber có tên “Ngọc Tịnh”, sử dụng số điện thoại 0769.645.xxx, và đăng ký ních Zalo, viber có tên “ Mộng Thường”. Thông qua việc tham gia nhóm group về Phật pháp đã quen biết với anh H. Mộng Thường giới thiệu với anh H về mình tên là Đào Ngọc M, sinh ngày 24/9/1994, quốc tịch Canada, sống ở Việt Nam có địa chỉ ở 1 ấp T, xã T, huyện L, tỉnh Đồng Tháp, thường gọi Út T4 hoặc Ngọc T5. Bố của Đào Ngọc Minh T6 là Nguyễn Gia N1, Việt kiều Canada có ních Facebook là “Nam Nguyen” (Nguyễn Gia N1 là tên của chồng T), có mẹ tên Nguyễn Thị Kim P, người gốc Hồng K1 (đây là tên mẹ T quê ở Đồng Tháp), Ngọc M thường xuyên đi lại giữa Việt Nam và Canada. Bố mẹ Đào Ngọc M đang sống, làm doanh nghiệp về vận tải tàu biển, địa chỉ ở tầng 13, tòa nhà B, Quận A thành phố Hồ Chí Minh, Ngọc M có cổ phần trong công ty và cùng chị là Đào Thị Mộng T phụ trách tài chính công ty, gia đình Ngọc M có 3 chung cư cho thuê ở thành phố M, Canada. Bản thân Đào Ngọc M và anh, chị ở trên đều mang quốc tịch Canada, nhưng hiện tại đang sống ở Việt Nam để làm việc.
Về anh chị em: Đào Thị Mộng T trong vai “Đào Ngọc M” giới thiệu với anh H nhà có 03 anh chị em nuôi là chị Đào Thị Mộng T, sinh năm 1987 quốc tịch Việt Nam, là người phụ trách tài chính công ty của bố mẹ Ngọc M và có 15% cổ phần trong Công ty; anh nuôi tên B và chị nuôi tên T7 (thực tế Bi, T7 là con rể, con gái của chồng T với vợ đầu). Để thêm tin tưởng, T dùng một Facebook khác đổi tên thành tên “BiBi Đ” và vào facebook của chồng, T lưu một bức ảnh chụp người đàn ông và người phụ nữ là con đẻ và con rể của chồng T để đăng lên làm ảnh đại diện rồi T đóng vai “Ngọc M” giới thiệu với anh H về anh chị nuôi tên B và tên T7.
Sau đó, Đào Thị Mộng T sử dùng facebook nick “BiBi Đ” để nói chuyện với anh H về nhân vật “Đào Ngọc M” để anh H tin tưởng nhân vật này là có thật. Khi gặp trực tiếp anh H, T vào vai (chị Mộng T của Ngọc M) nói với anh H đúng như những thông tin khi T đóng vai “Ngọc M” đã nói với anh H, khiến anh H thêm tin tưởng về người có tên “Đào Ngọc M” và có hoàn cảnh gia đình như trên là có thật. Quá trình nói chuyện với anh H, Mộng T thấy anh H có tình cảm yêu đương với nhân vật “Ngọc M” mà mình đã xây dựng, nên đã lừa anh H để chiếm đoạt tiền của anh H. Để che đậy việc mình lừa đảo khi anh H chuyển tiền, T nói với anh H phải ghi là “Cho, tặng vợ yêu, tặng quà...”, đề phòng anh H phát hiện và sau này tố cáo Thường. Đồng thời, T nói dối với anh H rằng gia đình không cho Ngọc M sử dụng tài khoản ngân hàng vì sợ có tiền trong ngân hàng sẽ bị bắt cóc, tống tiền nên gia đình Ngọc M giao cho chị Mộng T giữ tiền, lo ăn uống, chi phí sinh hoạt mua sắm cho Ngọc M. (Bút lục số: 56-243; 459-469; 1125-1155)
Từ ngày 19/9/2019 đến ngày 27/4/2022, Đào Thị Mộng T đóng vai “Đào Ngọc M”, đã đưa ra nhiều lý do như vay tiền để mua đồ, vay tiền trả nợ, vay tiền làm giấy tờ cá nhân, vay tiền để làm thủ tục thừa kế và nói anh H tặng quà cho người thân của Ngọc M. Anh H tin tưởng việc Mộng T nói nên đã sử dụng tài khoản ngân hàng V số 1013089033, tài khoản ngân hàng A1 số [...] của mình chuyển tiền đến các tài khoản ngân hàng số [...] V1, số I, 070112969231 S1 mang tên Đào Thị Mộng T và một số tài khoản ngân hàng của những người khác theo sự hướng dẫn của T tổng số là 175 lần và 02 lần anh H trực tiếp đưa tiền mặt cho Đào Thị Mộng T với tổng số tiền là 12.256.700.000 đồng (mười hai tỷ, hai trăm năm mươi sáu, bảy trăm nghìn đồng) để T đưa cho nhân vật “Đào Ngọc M”. Cụ thể như sau:
+ Từ ngày 19/9/2019 đến ngày 09/10/2019, Mộng T đóng vai “Ngọc M” để lừa anh H rằng Ngọc M đang ở Ý (I) và bị gia đình cùng anh B khóa thẻ ngân hàng nên cần tiền để tiêu. Ngày 19/9/2019, Anh H đã dùng tài khoản ngân hàng A1 số [...] của mình chuyển tiền vào số tài khoản 109868326305 V1 mang tên Đào Thị Mộng T số tiền 10.000.000 đồng, ngày 24/9/2019 anh H chuyển 02 lần với tổng số tiền 180.000.000 đồng, ngày 07/10/2019 chuyển 100.000.000 đồng; tất cả các lần chuyển tiền Mộng T yêu cầu anh H ghi nội dung “Chuyển cho Ngọc M”. Tổng số tiền anh H đã chuyển 4 lần vào tài khoản của T là 290.000.000 đồng. (Hai trăm chín mươi triệu đồng).
+ Từ ngày 12/11/2019 đến ngày 31/12/2019, Mộng T tiếp tục vào vai “Ngọc M” nói với anh H cần vay tiền để tiêu xài cá nhân, hứa hẹn sẽ trả lại tiền cho anh H nên anh H đã dùng tài khoản ngân hàng A1 số [...] của mình chuyển tiền 10 lần vào số tài khoản 109868326305 V của T để gửi cho nhân vật “Ngọc M” với tổng số tiền 222.000.000 đồng (Hai trăm hai mươi hai triệu đồng).
+ Ngày 03/01/2020, Mộng T vào vai “Ngọc M” lừa anh H rằng xe ôtô của mình bị hỏng, không có tiền để sửa nên đã nói anh H đã dùng tài khoản ngân hàng A1 số [...] của mình chuyển vào số tài khoản 109868326305 V của T số tiền 150.000.000 đồng (Một trăm năm mươi triệu đồng) để sửa xe.
+ Từ ngày 09/01/2020 đến ngày 30/01/2020, Mộng T tiếp tục vào vai “Ngọc M” hỏi vay tiền anh H để tiêu xài cá nhân. Anh H đã 02 lần chuyển khoản đến tài khoản số [...] V1 của T với số tiền 88.000.000 đồng (T8 mươi tám triệu đồng).
+ Từ ngày 29/6/2020 đến ngày 22/7/2020, Mộng T đã lừa anh H về việc bố của “Ngọc M” chết có để lại tài sản thừa kế và di chúc nhờ anh H chăm sóc Ngọc M nhưng anh B và chị T7 không chia tài sản, gây sức ép với Ngọc M, không đưa tiền cho Ngọc M để lo cuộc sống nên Ngọc M đã đi sang Hồ N, Trung Quốc (lừa về quê mẹ ở Hồ N). Ngọc M nói với anh H đang ở Hong Kong, hiện hết tiền và bị anh, em bên mẹ xé hết giấy tờ tùy thân, không có tiền để làm lại giấy tờ và thủ tục để tiếp tục sang Canada, nên nhờ anh H cho Ngọc M vay tiền để lo công việc, sau khi lấy được tiền thừa kế của bố mẹ để lại thì Ngọc M sẽ trả lại tiền cho anh H.
Do tin tưởng nên anh H hỏi vay mượn tiền của anh Trần Văn L, sinh năm 1977, trú tại thôn T, xã P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế nhờ anh L chuyển khoản vào STK 103868326305 mang tên Đào Thị Mộng T ghi với nội dung “Tang chi T9” với số tiền 2.300.000.000 đồng (Hai tỷ ba trăm triệu đồng). Ngày 13/7/2020, Nguyễn Việt H gọi điện nhờ anh Tôn Thất T3 sinh năm 1986, trú tại phường V, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế chuyển khoản vào STK 103868326305 mang tên Đào Thị Mộng T ghi với nội dung “Tang chi T9” với số tiền 300.000.000 đồng (ba trăm triệu đồng). Tổng số tiền anh Nguyễn Việt H nhờ anh L và anh T3 chuyển cho Đào Thị Mộng T là 2.600.000.000 đồng (Hai tỷ sáu trăm triệu đồng).
+ Ngày 01/8/2020, Mộng T tiếp tục lừa anh H đang mắc kẹt ở Hong Kong cần tiền để tiêu xài cá nhân. Anh H tin tưởng nên đã dùng tài khoản ngân hàng ACB số [...] của mình chuyển vào số tài khoản 109868326305 V1 của T với số tiền 50.000.000 đồng (Năm mươi triệu đồng).
+ Từ ngày 20/8/2020 đến 26/8/2020, Mộng T tiếp tục vào vai “Ngọc M” lừa anh H đang ở Hồ N, cần tiền để làm giấy tờ để sang Canada muốn vay số tiền lớn và nhờ anh H chuyển cho “chị nuôi Mộng Thường” để chị T tìm cách gửi sang Hồ N cho Ngọc M. Anh H tin tưởng và liên lạc với “chị nuôi Mộng Thường” thì T nói như “Ngọc M” đã nói với anh H và hứa gia đình sẽ có trách nhiệm với khoản vay của Ngọc M nên đã 02 lần chuyển tiền mặt cho T để gửi cho Ngọc M. Lần thứ nhất, vào ngày 20/8/2020, Mộng T vào vai Ngọc M hẹn anh H gặp tại khách sạn R để đưa tiền mặt, khi đến khách sạn R, Mộng T đã đưa ra nhiều lí do để tránh mặt anh H và nói anh H đưa số tiền 200.000.000 đồng (Hai trăm triệu đồng) gửi lễ tân khách sạn. Đến ngày 26/8/2020, Mộng T tiếp tục lừa anh H cần tiền để làm thủ tục sang Canada thì anh H trực tiếp đưa cho Mộng T số tiền mặt 600.000.000 đồng (Sáu trăm triệu đồng) tại khách sạn R. Tổng số tiền mặt anh H đã đưa cho Đào Thị Mộng T là 800.000.000 đồng (T8 trăm triệu đồng).
+ Từ ngày 28/9/2020 đến ngày 20/10/2020, Mộng T lấy lí do mắc kẹt ở Hong Kong, hết tiền nên cần vay anh H thêm số tiền để tiêu xài cá nhân, lo công việc và tặng quà 03 chị em vào ngày 20/10. Anh H tin tưởng vào những lời Mộng T nói nên đã dùng tài khoản ngân hàng A1 số [...] của mình chuyển 07 lần vào số tài khoản 070112969231 S1 của T với tổng số tiền 1.150.000.000 đồng (Một tỷ một trăm năm mươi triệu đồng).
Tất cả những nội dung trên Mộng Thường lừa anh H đều là không có thật, Mộng T đang ở Việt Nam và không có tài sản thừa kế nào cả, cũng không làm giấy tờ để đi Canada như đã nói với anh H.
+ Ngày 23/10/2020, Mộng T lừa anh H là chị T7 (tức là chị nuôi của Ngọc M) cần số tiền 50.000.000 đồng để xử lý công việc nên cần vay tiền anh H giúp chị T7. Anh H tin tưởng nên đã chuyển vào số tài khoản 070112969231 S của T số tiền 50.000.000 đồng (Năm mươi triệu đồng).
+ Ngày 29/10/2020, Mộng T lừa anh H cần tiền để làm giỗ cho ông nội, muốn vay anh H số tiền 50.000.000 đồng. Anh H tin tưởng nên đã đồng ý chuyển vào số tài khoản 070112969231 S của T số tiền 50.000.000(Năm mươi triệu đồng).
+ Từ ngày 21/11/2020 đến ngày 26/01/2021, đây là giai đoạn dịch C2, Mộng T nói với anh H là cần vay tiền của anh H để lo công việc riêng. Sau đó, anh H tin tưởng nên đã dùng tài khoản VCB của mình chuyển 3 lần vào số tài khoản 070112969231 S1 của T số tiền 150.000.000đồng (Một trăm năm mươi triệu đồng).
+ Ngày 01/02/2021, Mộng T lừa anh H cần số tiền 170.000.000 đồng (Một trăm bảy mươi triệu đồng) để đưa cho anh L1 làm ở Ngân hàng S1 để nhờ anh L1 làm thủ tục thừa kế của ba N1 để lại. Mộng T hứa hẹn với anh H là sau khi lấy được tiền thừa kế sẽ trả lại tiền cho anh H. Anh H tin vào những lời Mộng T nói nên đã dùng tài khoản V của mình chuyển vào số tài khoản 070112969231 S của T số tiền 170.000.000 đồng (Một trăm bảy mươi triệu đồng). Thực tế là không có người nào tên L1 và cũng không có tài sản thừa kế nào.
+ Ngày 14/2/2021, Mộng T đóng vai “Ngọc M” lừa anh H là hôm nay là ngày lễ và nói anh H tặng quà cho 3 chị em nuôi (Anh B, chị T7 và chị T). Anh H tin tưởng nên đã dùng tài khoản ngân hàng V của mình chuyển đến số tài khoản 070112969231 S1 của T số tiền 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng) để mua quà cho 3 chị em nuôi. Thực tế là không có ai tên B và T7 như Mộng T nói với anh H.
+ Ngày 22/02/2021, Mộng Thường vào vai “Ngọc M” nói với anh H điện thoại bị hư, cần tiền để mua điện thoại nên anh H đã dùng tài khoản ngân hàng V của mình chuyển đến số tài khoản 070112969231 S1 của T số tiền 41.000.000 đồng (Bốn mươi mốt triệu đồng).
+ Từ ngày 25/02/2021 đến ngày 21/3/2021, Mộng T đóng vai “Ngọc M” nói với anh H cần tiền để lo công việc. Do tài khoản đang bị lỗi nên Mộng T đã nói anh H chuyển tiền qua tài khoản của anh trai Đào Duy P1 và chị gái Đào Thị Ngọc N2. Anh H đã chuyển khoản 03 lần vào tài khoản số [...] S1 của Đào Duy P1 với tổng số tiền 310.000.000 đồng; chuyển khoản vào tài khoản ngân hàng A2 số 6510254199766 của Đào Thị Ngọc N2 với số tiền 30.000.000 đồng; chuyển khoản cho T 04 lần với tổng số tiền là 145.000.000 đồng. Sau khi anh H chuyển, P1 chuyển khoản lại cho T 200.000.000 đồng, số tiền còn lại P1 và N2 đưa tiền mặt cho T. Số tiền anh H đã chuyển cho T 08 lần với tổng số tiền là 485.000.000 đồng (Bốn trăm tám lăm triệu đồng).
+ Các ngày 01/4, 02/4, 4/4/2021, Mộng T đóng vai “Ngọc M” nói với anh H là cần tiền để đưa cho anh L1 làm ở Ngân hàng S1 để làm thủ tục thừa kế của ba N1 để lại và hứa hẹn với anh H là sau khi nhận được tài sản thừa kế sẽ trả cho anh H toàn bộ số tiền đã vay. Anh H tin tưởng nên đã dùng tài khoản ngân hàng VCB của mình 03 lần chuyển đến số tài khoản 109868326305 V của T với tổng số tiền 330.000.000 đồng (Ba trăm ba mươi triệu đồng). Thực tế là Mộng T không có tài sản thừa kế nào cả, cũng không có người nào tên L1 như Mộng T đã nói với anh H.
+ Từ ngày 04/4/2021 đến ngày 10/10/2021, Mộng T đóng vai “Ngọc M” lừa anh H muốn mua robot hút bụi, mua đồ trang sức, điện thoại và hết tiền tiêu nên cần vay anh H tiền lúc nào có sẽ trả lại. Do anh H có tình cảm với Ngọc M và tin tưởng nên đã dùng tài khoản ngân hàng V của mình chuyển vào 02 số tài khoản 070112969231 S1 và 109868326305 V1 của T 42 lần với tổng số tiền 1.266.000.000 đồng (Một tỷ hai trăm sáu mươi sáu triệu đồng).
+ Ngày 13,14/10/2021, Mộng T vào vai “Ngọc M” lừa anh H là hiện tại đang nợ người bạn tên T10 số tiền 200.000.000 đồng (Hai trăm triệu đồng), Ngọc M vay anh H số tiền này để trả nợ cho T10, đồng thời hứa hẹn là sẽ trả lại cho anh H số tiền này. Thực tế là T không nợ ai tên T10 số tiền này cả, T nói như vậy vì biết anh H có tình cảm với nhân vật “Ngọc M” đã dựng lên nên sẽ chuyển cho Ngọc M vay tiền. Do tài khoản ngân hàng của T gặp trục trặc nên đã nhờ số tài khoản của anh Nguyễn Quốc K sinh năm 1981, trú tại Ấp T, xã T, huyện L, tỉnh Đồng Tháp là bạn của T nhận số tiền của anh H. Ngày 13,14/10/2021, anh H dùng tài khoản ngân hàng V của mình chuyển chuyển 02 lần vào tài khoản số [...] S1 của anh K số tiền 200.000.000 đồng (Hai trăm triệu đồng) với nội dung “Trả nợ tú”. Sau đó, anh K rút tiền mặt đưa cho Mộng Thường toàn bộ số tiền này.
+ Từ ngày 14/10/2021 đến ngày 18/10/2021, Mộng T vào vai “Ngọc M” lừa anh H là Ngọc Minh H2 đang hết tiền muốn vay tiền của anh H để tiêu xài cá nhân nên anh H đã dùng tài khoản ngân hàng V của mình chuyển vào số tài khoản 109868326305 V1 của T 04 lần với tổng số tiền 220.000.000 đồng (Hai trăm hai mươi triệu đồng).
+ Ngày 20/10/2021, Mộng T vào vai “Ngọc M” lừa anh H là muốn anh H tặng quà ngày lễ 20/10 cho chị T và Ngọc T5 (N tức là Ngọc M). Anh H tin tưởng và có tình cảm với nhân vật “Ngọc M” nên đã chuyển tiền cho Ngọc M để tặng quà 20/10. Ngày 20/10/2021, anh H đã dùng tài khoản ngân hàng V của mình chuyển vào số tài khoản 109868326305 V của T số tiền 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng), với nội dung chuyển tiền là “T13 qua 20/10 chi T&NT” tức là “Tặng quà 20/10 chị T và Ngọc T5”.
+ Ngày 20/10/2021, Mộng T lừa anh H là sắp đến ngày giỗ ba N1 để anh H gửi tiền mua đồ cúng. Anh H tin tưởng và có tình cảm với nhân vật Ngọc Minh N4 đã dùng tài khoản ngân hàng V của mình chuyển đến tài khoản 070112969231 S1 của T số tiền 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng) với nội dung “Gửi mua đồ giỗ ba Nam”.
+ Ngày 22/10/2021, Mộng T lừa anh H là hiện nay hết tiền tiêu, cần vay anh H số tiền 50 triệu đồng, T hứa hẹn sẽ trả lại cho anh H số tiền này. Anh H tin tưởng đã dùng tài khoản ngân hàng V của mình chuyển vào số tài khoản 109868326305 V của T số tiền 50.000.000 đồng (Năm mươi triệu đồng).
+ Ngày 27/10/2021, Mộng T lừa anh H là đang nợ người bạn tên T10 số tiền 200 triệu đồng cần vay tiền anh H để trả. Anh H tin tưởng và có tình cảm với nhân vật “Ngọc M” nên đã dùng tài khoản ngân hàng V của mình chuyển vào số tài khoản 109868326305 V của T số tiền 200.000.000 đồng (Hai trăm triệu đồng).
+ Ngày 28/10/2021, Mộng T nói với anh H là vừa tặng cho một chú đi xe lăn số tiền 1.000.000 đồng. Anh H tin tưởng và có tình cảm với Ngọc M nên đã dùng tài khoản ngân hàng V của mình chuyển vào số tài khoản 109868326305 V của T số tiền 1.000.000 đồng (Một triệu đồng). Anh H ghi nội dung chuyển tiền là “Tặng bác đi xe lăn”.
+ Từ ngày 29/10/2021 đến ngày 01/11/2021, Mộng T nói với anh H là hiện đang làm thủ tục nhận tài sản thừa kế ba Nam chết để lại, T cần vay anh H số tiền 400.000.000 đồng để làm thủ tục này và hứa hẹn với anh H là sau khi nhận được tài sản thừa kế sẽ trả lại cho anh H số tiền đã vay. Anh H tin tưởng và có tình cảm với Ngọc M nên đã dùng tài khoản ngân hàng V của mình chuyển 03 lần vào 02 số tài khoản 109868326305 V1 và 070112969231 S1 của T với tổng số tiền 383.000.000 đồng (Ba trăm tám mươi ba triệu đồng).
+ Ngày 02/11/2021, Mộng T nói với anh H là vừa cúng giường cho 2 sư cô ở chùa Đ1. Anh H tin tưởng và chuyển số tiền 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng).
+ Ngày 04/11/2021, Mộng Thường vào vai “Ngọc M” nói với anh H là hiện đang hết tiền, cần vay tiền của anh H để xử lý công việc cá nhân, nên anh H đã dùng tài khoản ngân hàng V của mình chuyển vào số tài khoản 109868326305 V1 của T 50.000.000 đồng (Năm mươi triệu đồng).
+ Từ ngày 06/11/2021 đến ngày 15/11/2021, Mộng T lừa anh H là hiện tại Ngọc M đang cần tiền mua đất ở thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng nên hỏi mượn tiền anh H. Sau đó, anh H tin tưởng vào Ngọc M nên anh H đã dùng tài khoản ngân hàng V của mình 6 lần chuyển vào số tài khoản 109868326305 V của T với tổng số tiền 940.000.000 đồng (Chín trăm bốn mươi triệu đồng).
+ Ngày 16/11/2021, Mộng T lừa anh H hiện tại Ngọc M đang nợ số tiền 35.000.000 đồng của một người bạn tên Phạm Ngọc N3 (Thường quen qua quá trình mua kim cương tại P2 và mượn số tài khoản của N3 để anh H chuyển tiền vào). Anh H dùng tài khoản ngân hàng V của mình chuyển số tiền 35.000.000 đồng (Ba mươi lăm triệu đồng) vào số tài khoản số [...] S1 của Phạm Ngọc N3 với nội dung “NT trả tiền”. Sau khi số tiền vào tài khoản của N3, T nhờ N3 chuyển lại số tiền đó vào tài khoản của mình.
+ Từ ngày 17/11/2021 đến 25/11/2021, Mộng T vào vai “Ngọc M” gọi điện cho anh H hỏi mượn tiền để tiêu xài cá nhân, xử lý công việc và sau đó lại nói là mua đất ở Đ. Anh H đã dùng tài khoản ngân hàng V của mình 6 lần chuyển vào số tài khoản 109868326305 V của T với tổng số tiền 900.000.000 đồng (Chín trăm triệu đồng).
+ Ngày 26/11/2021, Mộng T vào vai “Ngọc M” lừa anh H là muốn anh H chuyển cho số tiền 100.000.000 đồng để góp tiền làm công đức xây dựng một ngôi chùa ở Đồng Tháp. Anh H tin tưởng nên đã dùng tài khoản ngân hàng V của mình chuyển vào tài khoản 070112969231 S1 của T số tiền 100.000.000 đồng (Một trăm triệu đồng), với nội dung ghi chuyển tiền là “HHQK và Ngọc T5 góp tiền công đức xây dựng chùa”.
+ Ngày 28/11/2021, do trước đó T có vay của chị gái là Đào Thị Mộng T2 số tiền 35.000.000 đồng tiền mặt mà chưa có trả nên T vào vai “Ngọc M” nói với anh H là mượn tiền để chuyển cho chị T2 để làm giấy tờ tùy thân. Anh H đồng ý và dùng tài khoản ngân hàng V của mình chuyển vào số tài khoản 107868013021 V2 của chị T2 số tiền 35.000.000 đồng (Ba mươi lăm triệu đồng) với nội dung “Tịnh gửi chị tiền làm giấy tờ”. Đối với số tiền này, trước đó T có vay của chị gái Đào Thị Mộng T2 nên T2 đã rút ra tiêu xài cá nhân hết.
+ Từ ngày 28/11/2021 đến ngày 09/02/2022, Mộng T vào vai “Ngọc M” lừa anh H là đang có công việc cần xử lý nên muốn mượn tiền của anh H và hứa hẹn sẽ trả lại số tiền này. Anh H tin tưởng vào Ngọc M nên đã dùng tài khoản ngân hàng V của minh B1 lần chuyển vào số tài khoản 109868326305 V1 và 01 lần vào tài khoản 9939793979 S1 của T với tổng số tiền 806.600.000 đồng (T8 trăm linh sáu triệu sáu trăm nghìn đồng).
+ Ngày 28/02/2022, Mộng T đóng vai “Ngọc M” lừa anh H là hiện tại đang nợ chị Mộng T số tiền 20.000.000 đồng nên muốn vay anh H số tiền này để trả cho chị Mộng T. Anh H tin tưởng và dùng tài khoản ngân hàng V của mình chuyển vào số tài khoản 109868326305 V của T số tiền 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng), với nội dung ghi chuyển tiền là “Trả nợ cho muội Ngọc T5”.
+ Từ ngày 02/3/2022 đến ngày 16/3/2022, Mộng T vào vai “Ngọc M” lừa anh H là đang có công việc cần xử lý nên muốn mượn tiền của anh H và hứa hẹn sẽ trả lại cho anh H số tiền này. Anh H tin tưởng nên đã 12 lần chuyển vào số tài khoản 109868326305 V của T với tổng số tiền 66.900.000 đồng (Sáu mươi sáu triệu chín trăm nghìn đồng).
+ Ngày 26/3/2022, Mộng Thường vào vai “Ngọc M” nói với anh H là hiện tại đang nợ chị Mộng T số tiền 50.000.000 đồng (Năm mươi triệu đồng) nên muốn vay anh H số tiền này để trả cho chị Mộng T. Anh H tin tưởng nên đã chuyển vào tài khoản 9939793979 S1 của T số tiền 50.000.000 đồng (Năm mươi triệu đồng), có ghi nội dung chuyển tiền là “Trả nợ”.
+ Từ ngày 01/4/2022 đến ngày 23/4/2022, T tiếp tục vào vai “Ngọc M” lừa anh H là hiện tại đang có công việc cá nhân cần phải xử lý, muốn mượn tiền của anh H và hứa hẹn sẽ trả lại cho anh H số tiền này. Anh H tin tưởng vào N nên đã 9 lần chuyển vào tài khoản 9939793979 S1 của T với tổng số tiền 105.200.000 đồng (Một trăm linh năm triệu hai trăm nghìn đồng).
Ngày 29/11/2021, tại khách sạn V3, TP Đà Nẵng, do lo sợ về việc mình đã lừa đảo anh H nên Đào Thị Mộng T tiếp tục vào vai “Ngọc M” lấy lí do anh H nói dối mình về việc sắp ly hôn vợ nhưng vẫn có nhắn tin tình cảm qua lại với vợ và sợ anh H can thiệp vào việc thừa kế của “Ngọc M”, yêu cầu anh H đưa điện thoại, laptop, I cho chị Mộng T để kiểm tra. Thường vào vai “chị gái Ngọc M” qua phòng của anh H lấy 02 chiếc điện thoại di động, 01 Ipad, 01 laptop của anh H rồi đưa về phòng ngủ, tiến hành xóa hết những nội dung cuộc nói chuyện giữa anh H với nhân vật “Ngọc M” trong thời gian qua. Sau đó yêu cầu anh H viết 01 giấy cam kết với nội dung “Xác nhận toàn bộ số tiền tôi chuyển từ các tài khoản ngân hàng của tôi và tài khoản ngân hàng cả anh Trần Văn L là số tiền chuyển tặng không có lấy lại dưới bất cứ hình thức nào. Toàn bộ số tiền tặng quà và mua nhẫn vào số tài khoản của chị Đào Thị Mộng T có nội dung chuyển khoản tặng cho vk yêu..”. (Bút lục số 552)
Trong thời gian quen biết với nhân vật “Đào Ngọc M”, anh H đã nhiều lần đề nghị gặp mặt Ngọc M nhưng Đào Thị Mộng T đều đưa ra nhiều lý do khác nhau để tránh việc gặp mặt, Ngọc M cũng không bao giờ xuất hiện hay gọi điện thoại có hình ảnh video để rõ mặt cho anh H xem nên anh bắt đầu nghi ngờ. Ngày 27/4/2022, anh Nguyễn Việt H hẹn gặp chị nuôi của Đào Ngọc M là Đào Thị Mộng T ở khách sạn V3 - Tp Đà Nẵng, tại đây anh H gọi vào số điện thoại 0938.695.xxx của nhân vật “Đào Ngọc M” thì phát hiện Đào Thị Mộng T đang sử dụng và nghe điện thoại của Đào Ngọc M, Lúc này, anh H phát hiện Đào Thị Mộng T chính là Đào Ngọc M và nhân vật “Đào Ngọc M” là không có thật. Đào Thị Mộng T cũng thừa nhận với anh H “Ngọc M” chính là do T tự tạo ra để lừa đảo chiếm đoạt tiền của anh H. Anh H đã nhiều lần liên hệ với Đào Thị Mộng T để yêu cầu trả lại số tiền từ trước đến nay nhưng T đều trốn tránh và không trả lại tiền cho anh H. Ngày 28/8/2023, anh Nguyễn Việt H đến Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh N tố giác hành vi phạm tội của Đào Thị Mộng T. (Bút lục số:52-469)
Ngày 30/8/2023, Đào Thị Mộng T đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh N xin đầu thú và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Tại Cơ quan điều tra, Đào Thị Mộng T thừa nhận đã vào vai nhân vật “Đào Ngọc M” lừa đảo chiếm đoạt tài sản của anh Nguyễn Việt H với tổng số tiền là 12.256.700.000 đồng (mười hai tỷ, hai trăm năm mươi sáu, bảy trăm nghìn đồng). (Bút lục số:1122-1324)
* Số tiền Đào Thị Mộng T chuyển trả lại khi anh Nguyễn Việt H yêu cầu:
- Ngày 29/10/2019, Mộng T chuyển trả vào tài khoản ngân hàng A1 số [...] của anh H số tiền 200.000.000 đồng (Hai trăm triệu đồng).
- Ngày 27/11/2019, Mộng T chuyển trả vào tài khoản ngân hàng V số 1013089033 của anh H số tiền 200.000.000 đồng (Hai trăm triệu đồng)
- Ngày 23/02/2021, anh H cần tiền để mua xe ô tô cho bố mẹ nên T đã nhờ Đào Duy P1 chuyển khoản vào số tài khoản ngân hàng A1 số [...] của anh H số tiền 1.000.000.000 đồng (Một tỷ đồng).
- Ngày 18/5/2021, 31/5/2021, 06/7/2021 Mộng T đã chuyển trả vào tài khoản ngân hàng V số 1013089033 của anh H số tiền 400.000.000đồng (Bốn trăm triệu đồng).
- Ngày 21/8/2020, tháng 12/2021, 31/12/2021, T đã đưa tiền mặt trả cho anh H số tiền 650.000.000 đồng (Sáu trăm năm mươi triệu đồng).
- Ngày 25/01/2022, 08/02/2022, 23/7/2022, T đã chuyển trả vào tài khoản ngân hàng V số 1013089033 của anh H số tiền 130.000.000 đồng (Một trăm ba mươi triệu đồng).
Tổng số tiền Đào Thị Mộng T đã chuyển trả cho anh Nguyễn Việt H là: 2.580.000 đồng (hai tỷ năm trăm tám mươi triệu đồng).
- Ngoài ra, Đào Thị Mộng T còn sử dụng số tiền để mua các món quà có giá trị để tặng lại cho anh H và bố mẹ của anh H với tổng số tiền là 415.000.000 đồng (Bốn trăm mười lăm triệu đồng).
Tổng số tiền mà T đã chiếm đoạt của anh H là: 12.256.700.000₫ – (2.580.000 đ + 415.000.000 đ) = 9.261.700.000 đồng.
Trong quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã xác minh làm rõ số tiền 9.261.700.000 đồng mà Mộng T đã chiếm đoạt của anh Nguyễn Việt H, T đã sử dụng như sau:
Theo kết quả xác minh tại công văn số 452/2023/CV-CTY ngày 10/11/2023 của Công ty Cổ phần V4 (PNJ), từ ngày 06/8/2019 đến ngày 07/7/2023, khách hàng Đào Ngọc M (Đào Thị Mông T11) đã nhiều lần giao dịch mua các đồ trang sức vàng bạc, đá quý tại Công ty với tổng số tiền 6.380.527.520 đồng, sau một thời gian sử dụng thì bán lại với số tiền 3.857.486.222 đồng. Số tiền chênh lệch giá trong quá trình mua, bán đồ trang sức là 2.523.041.398 đồng. Ngày 23/5/2023, Đào Thị Mộng T cho anh trai của mình là Đào Duy H1 sinh năm 1970, trú tại Tổ H, khu phố D, phường V, thành phố R, tỉnh Kiên Giang vay với số tiền 4.000.000.000 đồng (Bốn tỷ đồng). Ngày 31/8/2023, Đào Duy H1 rút số tiền 4.000.000.000 đồng trả lại cho anh Nguyễn Việt H. (Bút lục số 553-565; 820-830).
Số tiền còn lại là 2.738.658.702 đồng, T khai nhận đã rút số tiền đó ra sử dụng vào mục đích đi du lịch và tiêu xài cá nhân hết.
Tại Cáo trạng số: 40/CT-VKS-P2 ngày 29 tháng 01 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An đã truy tố bị cáo Đào Thị Mộng T về tội "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản" quy định tại điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An giữ nguyên quyết định truy tố như cáo trạng đã truy tố và đề nghị hội đồng xét xử:
Về tố tụng: Bị cáo, các bị hại thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng vắng mặt tại phiên tòa mở lần thứ hai. Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa thực hiện đầy đủ các trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.
Về nội dung:
- Căn cứ điểm a khoản 4 Điều 174; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Xử phạt Đào Thị Mộng T mức án tù chung thân về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
- Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo do không có thu nhập ổn định.
- Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 589 Bộ luật Dân sự.
Buộc bị cáo Đào Thị Mộng T bồi thường cho người bị hại anh Nguyễn Việt H 5.261.700.000đ (năm tỷ hai trăm sáu mốt triệu bảy trăm nghìn đồng), được trừ 35.000.000 đồng truy thu từ chị Đào Thị Mộng T2.
Đề nghị truy thu đối với số tiền 35.000.000 đồng ngày 28/11/2021 Đào Thị Mộng T đã lừa đảo anh H để trả nợ cho chị gái là Đào Thị Mộng T2 mà T đã vay trước đó. Đây là số tiền do phạm tội mà có, cần buộc Đào Thị Mộng T2 phải giao nộp để trả lại cho người bị hại.
- Về vật chứng: Căn cứ Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 của Bộ luật hình sự.
Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 Pro Max, màu xanh, số IMEI 1: 352051693958768, số IMEI 2: 352051694322766, bên trong lắp sim số 0938695252. 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 Pro Max, màu xanh, số IMEI 1: 355908669446424, số IMEI 2: 355908668562197, bên trong lắp sim số 0762926052. Hiện các vật chứng này đang được bảo quản tại kho vật chứng của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Nghệ An.
Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm và án phí dân sự theo quy định của pháp luật.
Luật sư Đặng Thị Phương A bào chữa cho bị cáo Đào Thị Mộng T: Bị cáo lập nick Facebook Ngọc M1 bằng hình ảnh khi còn trẻ của mình thể hiện không gian dối với anh H, hình ảnh gia đình không có căn cứ xác định gia đình bị cáo như kết luận, các đoạn tin nhắn trong tên nick J là T nhắn cho D không liên quan đến anh H, Từ 2019 đến năm 2021 Hồng chuyển khoản cho T nhiều lần nhưng đến năm 2021 T mới nhắn tin cho D; nick name Đào Ngọc M và Ngọc T5 được lập từ năm 2016 đều là hình ảnh của Mộng Thường nên không có hành vi lừa dối anh H; Từ năm 2019 đến năm 2022 H chuyển tiền cho Ngọc M nhưng không có thông tin vay mượn của Ngọc M. Tại phiên tòa Mộng Thường cũng chứng minh không vay mượn mà do được tặng cho, có văn bản xác nhận của H nên không có hành vi lừa đảo. Sau khi phát hiện bị lừa đảo nhưng anh H vẫn chuyển 70.000.000 đồng cho Mộng T, lời khai anh H là có mâu thuẫn nhưng chưa được làm rõ; chưa có căn cứ chứng minh thời điểm anh H không biết hai người là một. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử trả hồ sơ để điều tra bổ sung.
Luật sư Phạm Thị T1 bào chữa cho bị cáo Đào Thị Mộng T: Đây là vụ án khởi tố theo yêu cầu của người bị hại theo Điều 155 nhưng người bị hại không có mặt tại phiên tòa để trình bày, lời khai có mâu thuẫn thì đối chất, nhưng cơ quan điều tra không cho đối chất. Về trách nhiệm Dân sự: anh H1 không biết nguồn gốc tiền của T, anh H1 đã trả lại tài sản mặc dù Thường không yêu cầu. Số tiền này T khai do anh N1 là chồng của T cho không phải tiền của H cho nên cần điều tra bổ sung để làm rõ số tiền 04 tỷ này.
Luật sư Phan Văn C bào chữa cho bị cáo Đào Thị Mộng T: Bị cáo cho rằng có sự đánh đập, ép cung có 10 người cùng bị tạm giam chứng kiến nhưng chưa được làm rõ. Số tiền 4 tỷ thì có 3 tỷ là của anh N1 là chồng của T cho. Đề nghị làm rõ số tiền 4 tỷ này là nguồn tiền do phạm tội mà có. Bị cáo và anh H liên lạc với nhau từ năm 2019 nhưng chỉ trích xuất dữ liệu từ năm 2021 là chưa đầy đủ. Theo cáo trạng đánh giá bị cáo lừa tiền theo tài liệu Ngân hàng là chuyển tặng cho, không có căn cứ chứng minh lý do lừa đảo chuyển khoản. Về giấy xác nhận theo anh H khai thì bị cáo là một người phụ nữ có ép buộc anh H viết được hay không? còn tình yêu đối với một người chưa được gặp mặt thì anh H có đến mức phải viết như vậy. Do đó Đề nghị Hội đồng xét xử trả hồ sơ để điều tra bổ sung, để làm sáng tỏ mối quan hệ giữa bị cáo với anh H để làm rõ khoản tiền tặng cho, khoản tiền lừa đảo.
Bị cáo thống nhất lời bào chữa và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét về việc giữa bị cáo và H có ăn ở với nhau tại nhiều khách sạn với tư cách là Mộng T nhưng chưa được làm rõ, đề nghị Hội đồng xét xử trả hồ sơ để điều tra bổ sung.
Chị Đào Thị Mộng T2 trình bày về việc Hồng Tặng Thu 35 triệu đồng là do H quen biết với Ngọc M, số tiền này chị T2 có trao đổi lại với T và thống nhất trừ vào số tiền T nợ T2.
Đại diện Viện kiểm sát đã tranh luận, đối đáp với người bào chữa, bị cáo và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Về dữ liệu trong điện thoại của anh H cơ quan điều tra chỉ trích xuất được từ năm 2021 vì do bị cáo đã xóa hết không thể khôi phục. Sau khi phát hiện Ngọc M và Mộng T là một người thì anh H vẫn cho tiền vì bị cáo xin và theo lời khai anh H là để đòi lại tiền và thu thập thêm tài liệu, chứng cứ để tố cáo T. Căn cứ vào lời khai của bị cáo, bị hại và các tài liệu chứng cứ thì có căn cứ chứng minh anh H không biết Ngọc M (N, Út T4) và Mộng T là một người, ví dụ như tặng quà 20/10 cho chị T và Ngọc T5 hoặc ngày 29/10/2019, Mộng T chuyển trả tiền cho anh H với nội dung giao dịch là “Đào Thị Mộng T chuyển trả giúp chị Ngọc M” bằng tài khoản của mình. Số tiền 4 tỷ bị cáo không chứng minh được do anh N1 là chồng bị cáo cho thời gian nào. Đối với việc bị cáo khai nại do bị bức cung, ép cung, dùng nhục hình bị cáo không có căn cứ chứng minh, những lần làm việc có luật sư, Kiểm sát viên, kể cả hình ảnh lấy lời khai của cán bộ điều tra đều không có việc cán bộ điều tra đọc cho bị cáo chép, quá trình bị tạm giam bị cáo cũng không có sự phản ánh đến ban giám thị trại tạm giam, bị cáo cũng không đề nghị trình chiếu lại bản ghi hình ảnh buổi lấy lời khai. Các tài liệu chị Đào Thị Mộng T2 cung cấp có tên L2 nhưng trình bày tên H3 có nhắn tin về đánh đập, không có con người cụ thể, không thể hiện ai bị đánh đập ở đâu, vào thời gian nào nên không có căn cứ chấp nhận. Đối với số tiền 4 tỷ anh H1 có vay của Mộng T và tự nguyện giao nộp. Quá trình điều tra xác định đây là số tiền của Đào Thị Mông T11, nên cơ quan điều tra đã phải thu hồi trả lại cho người bị hại để khác phục hậu quả trên tổng số tiền M2 thường đã lừa đảo chiếm đoạt được là đúng quy định. Không cần phải chứng minh nguồn gốc số tiền này do đâu mà có.
Sau khi tranh luận các bên vẫn giữ nguyên quan điểm. Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm như đã truy tố và đề nghị:
- Căn cứ điểm a khoản 4 Điều 174; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
Xử phạt Đào Thị Mộng T tù Chung thân về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 30/8/2023.
- Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 589 Bộ luật Dân sự. Buộc bị cáo Đào Thị Mộng T phải bồi thường cho bị hại anh Nguyễn Việt H số tiền 5.261.700.000 đồng (Năm tỷ hai trăm sáu mươi mốt triệu bảy trăm nghìn đồng)
- Về vật chứng: Căn cứ Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 của Bộ luật hình sự.
Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 Pro Max, màu xanh, số IMEI 1: 352051693958768, số IMEI 2: 352051694322766, bên trong lắp sim số 0938695252. 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 Pro Max, màu xanh, số IMEI 1: 355908669446424, số IMEI 2: 355908668562197, bên trong lắp sim số 0762926052
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định của Cơ quan cảnh sát điều tra công an tỉnh N, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An; hành vi của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Các quyết định tố tụng được ban hành đúng quy định, đúng thẩm quyền. Tại phiên tòa bị cáo khai nại trong quá trình điều tra bị cáo bị đánh đập, bị ép cung nhưng không có căn cứ chứng minh, bị cáo không đề nghị xem lại file ghi âm, ghi hình buổi lấy lời khai.
[2] Tại phiên tòa bị cáo không thừa nhận lời khai trong quá trình điều tra với lý do bị đánh đập, ép cung. Bị cáo cho rằng anh H biết bị cáo Mộng T và người có nick Ngọc M là một người, hai người có quan hệ yêu đương tình cảm nên số tiền anh H chuyển cho bị cáo là tặng cho nên bị cáo không phạm tội.
Theo các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án, lời khai người bị hại thể hiện anh H có tình cảm với người có nick Ngọc M trên Facebook. Anh H biết người có nick Ngọc M với người có nick Ngọc T5 còn gọi là Út T4 là một người, còn anh biết Mộng T là chị nuôi của Ngọc Minh qua Ngọc M3 giới thiệu. Theo một số nội dung tin nhắn và nội dung chuyển tiền qua lại giữa bị cáo Mộng T với anh H thì có căn cứ xác định anh H biết Ngọc M3 với Ngọc T5, Út T4 là một người còn Mộng T là chị của Ngọc M3. Ngoài ra Mộng T còn giới thiệu về gia đình của mình đều có quốc tịch Canada; Ba (bố) của bị cáo đã chết từ lâu nhưng còn giới thiệu chồng của T là anh Nguyễn Gia N1 đang sống tại Canada là ba (bố) của T mới chết lừa anh H trong việc làm thủ tục thừa kế. Theo các phiếu khám sức khỏe của Đào Thị Mộng T trong quá trình điều tra tại Trại tạm giam đều không phát hiện các dấu vết, thương tích khi kiểm tra thân thể và kết luận sức khỏe bị cáo đạt loại I. Do đó Hội đồng xét xử không có cơ sở để chấp nhận lời khai của bị cáo tại phiên tòa.
Xét lời khai nhận tội của bị cáo trong quá trình điều tra phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và các tài liệu chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án, đã có đủ cơ sở để kết luận: Do muốn có tiền để tiêu xài cá nhân nên Đào Thị Mộng T đã nảy sinh ý thức chiếm đoạt tiền của người khác bằng thủ đoạn gian dối. Cụ thể, vào khoảng thời gian tháng 8/2019 Đào Thị Mộng T đã lên mạng xã hội facebook để làm quen với anh Nguyễn Việt H, sinh năm 1977, trú tại khối C phường B, thành phố V, Nghệ An. Thường biết anh H là người có tiền nên T đã xây dựng một nhân vật tên “Đào Ngọc M” trên các tài khoản Zalo, viber, facebook đăng các ảnh thời Thường đang trẻ, đẹp, chỉnh sửa hình ảnh để người khác không nhận ra đó là ảnh của T hiện tại và đưa ra các thông tin về bản thân và gia đình không có thật nhằm mục đích lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Từ ngày 19/9/2019 đến ngày 27/4/2022, Đào Thị Mộng T đã nhiều lần đóng vai nhân vật “Đào Ngọc M” lừa đảo chiếm đoạt tài sản của anh Nguyễn Việt H tổng số tiền 9.261.700.000 đồng (Chín tỷ hai trăm sáu mươi mốt triệu bảy trăm nghìn đồng). Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình sự như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An truy tố là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
[3] Vụ án có tính chất đặc biệt nghiêm trọng, tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội đặc biệt lớn, ảnh hưởng nghiêm trọng đến an ninh trật tự tại địa phương và trật tự an toàn xã hội, làm mất niềm tin của quần chúng nhân dân. Đào Thị Mộng T đã nhiều lần có hành vi lừa đảo chiếm đoạt của anh Nguyễn Việt H với tổng số tiền số tiền 9.261.700.000 đồng (Chín tỷ hai trăm sáu mươi mốt triệu bảy trăm nghìn đồng) là tình tiết tăng nặng quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Vì vậy phải xử phạt bị cáo với mức án nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian dài thể hiện sự nghiêm minh của pháp luật.
Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo không thừa nhận các hành vi của mình và lời khai tại cơ quan điều tra, không chấp nhận trả tiền và không có tác động gì đối với số tiền anh H1 đã chuyển trả cho anh H số tiền 4.000.000.000 đồng (Bốn tỷ đồng) nên không được áp dụng tình tiết giảm nhẹ.
[4] Hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo do không có thu nhập ổn định.
[5] Đối với Đào Thị Mộng T2, Đào Duy P1, Đào Thị Ngọc N2, Nguyễn Quốc K, Đào Thị Mộng T12, Phạm Ngọc N3 là những người mà Đào Thị Mộng T mượn số tài khoản để giao dịch lấy tiền của anh H. Quá trình điều tra xác định những người này không biết và không được hưởng lợi gì liên quan đến hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản của Đào Thị Mộng T. Nên không có cơ sở xử lý trách nhiệm hình sự đối với những người này.
Đối với Đào Duy H1, sinh năm 1970, trú tại tổ H, khu phố D, phường V, thành phố R, tỉnh Kiên Giang: Ngày 23/5/2023 Đào Duy H1 vay của Đào Thị Mộng T số tiền 04 tỷ đồng, số tiền này là số tiền do T lừa đảo chiếm đoạt tài sản của anh H mà có. Tuy nhiên, Đào Duy H1 không biết số tiền mà Đào Thị Mộng T cho vay là do phạm tội mà có. Sau khi biết, Đào Duy H1 đã tự nguyện giao nộp số tiền này cho Cơ quan điều tra, nên Đào Duy H1 không phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi này.
[6] Về trách nhiệm dân sự:
Đối với số tiền 35.000.000 đồng trước đó Đào Thị Mộng T có vay của chị gái là Đào Thị Mộng T2. Sau đó, ngày 28/11/2021, T vào vai “Ngọc M” nói với anh H là mượn tiền chị T2 để làm giấy tờ tùy thân. Nên Anh H đã chuyển vào số tài khoản 107868013021 V của chị T2. Đây là số tiền dó phạm tội mà có, cần buộc Đào Thị Mộng T2 phải giao nộp để trả lại cho người bị hại.
Bị hại anh Nguyễn Việt H vắng mặt tại phiên tòa, trong quá trình điều tra anh Nguyễn Việt H yêu cầu Đào Thị Mộng T phải trả lại số tiền 5.261.700.000 đồng (Năm tỷ hai trăm sáu mươi mốt triệu bảy trăm nghìn đồng). Xét thấy yêu cầu của anh H là có căn cứ và đúng quy định của pháp luật, cần buộc bị cáo phải bồi thường cho anh Nguyễn Việt H. Được trừ 35.000.000 đồng truy thu từ Đào Thị Mộng T2.
[7] Về vật chứng: Trong quá trình lừa đảo chiếm đoạt tài sản Đào Thị Mộng T đã sử dụng 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 Pro Max, màu xanh, số IMEI 1: 352051693958768, số IMEI 2: 352051694322766, bên trong lắp sim số 0938695252. 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 Pro Max, màu xanh, số IMEI 1: 355908669446424, số IMEI 2: 355908668562197, bên trong lắp sim số 0762926052 để thực hiện hành vi phạm tội do đó cần tịch thu hai chiếc điện thoại này để sung vào ngân sách Nhà nước theo quy định tại Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 của Bộ luật hình sự.
[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm a khoản 4 Điều 174; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
Xử phạt Đào Thị Mộng T tù Chung thân về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 30/8/2023.
2. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 589 Bộ luật Dân sự. Buộc bị cáo Đào Thị Mộng T phải bồi thường cho bị hại anh Nguyễn Việt H số tiền 5.226.700.000 đồng (Năm tỷ hai trăm hai mươi sáu triệu bảy trăm nghìn đồng).
Truy thu tại Đào Thị Mộng T2 35.000.000 đồng để trả cho người bị hại anh Nguyễn Việt H.
3. Về vật chứng: Căn cứ Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 của Bộ luật hình sự.
Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 Pro Max, màu xanh, số IMEI 1: 352051693958768, số IMEI 2: 352051694322766, bên trong lắp sim số 0938695252. 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 Pro Max, màu xanh, số IMEI 1: 355908669446424, số IMEI 2: 355908668562197, bên trong lắp sim số 0762926052 (Các vật chứng có đặc điểm và hiện đang tạm giữ tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Nghệ An, theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 31/01/2024 giữa cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh N và Cục Thi hành án dân sự tỉnh Nghệ An).
4. Về án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí tòa án;
Buộc bị cáo Đào Thị Mộng T phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí Hình sự sơ thẩm và 113.226.700đ (Một trăm mười ba triệu hai trăm hai mươi sáu nghìn bảy trăm đồng) án phí Dân sự.
5. Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 và khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 luật THADS thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật THADS.
6. Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt, có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc ngày niêm yết hợp lệ./.
|
Nơi gửi:
|
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TÒA Nguyễn Anh S |
Bản án số 80/2024/HS-ST ngày 09/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN về lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Số bản án: 80/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 09/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: HSST
