Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN BÙ ĐỐP

TỈNH BÌNH PHƯỚC

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh Phúc

Bản án số: 80/2024/HS-ST

Ngày: 06-12-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÙ ĐỐP, TỈNH BÌNH PHƯỚC

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Kiều My

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Ngô Văn Thành và ông Phạm Văn Tiến

Thư ký phiên tòa: Bà Nông Thúy Hằng - Thư ký Tòa án

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Đốp tham gia phiên tòa: Ông Bùi Quang Hoàng – Kiểm sát viên

Ngày 06 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bù Đốp, tỉnh Bình Phước xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 76/2024/HSST ngày 29 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 75/2024/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 11 năm 2024, Thông báo dời lịch xét xử số 30/TB-HS ngày 26/11/2024, Thông báo dời lịch xét xử số 31/TB-HS ngày 29/11/2024, đối với các bị cáo:

  1. Họ và tên: Lâm Văn G, sinh năm 1998 tại Bình Phước; Nơi cư trú: Ấp T, xã T, huyện B, tỉnh Bình Phước; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc; Kinh; Giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 6/12; con ông Lâm Văn H (chết) và bà Huỳnh Thị N; Bị cáo có vợ tên Bùi Thị Hồng H1 và 01 người con sinh năm 2020; Tiền án: Ngày 18/6/2021 bị Tòa án nhân dân tỉnh Bình Phước xử phạt 09 tháng tù về tội Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có, bản án số 32/2021/HSPT. Ngày 12/4/2022 chấp hành án xong hình phạt tù, chưa được xóa án tích; Tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giam từ ngày 08/4/2024 đến nay - Có mặt tại phiên tòa.

  2. Họ và tên: Võ Minh T (tên gọi khác: Võ Văn T1, Tuấn Sáu T2), sinh năm 1987 tại Bình Phước; Nơi đăng ký thường trú: Ấp T, xã T, huyện B, tỉnh Bình Phước; Chỗ ở hiện nay: Ấp T, xã T, huyện B, tỉnh Bình Phước; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc; Kinh; Giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 7/12; con ông Võ Văn T3 và bà Trần Thị P (chết); Bị cáo chưa có vợ con; Tiền án, tiền sự: Không

Về nhân thân:

Ngày 04/4/2012 bị Tòa án nhân dân huyện Bù Đốp, tỉnh Bình Phước xử phạt 24 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 48 tháng về tội Trộm cắp tài sản tại bản án số 09/2012/HSST.

Ngày 06/01/2014 bị Tòa án nhân dân huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước xử phạt 12 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản tại bản án số 01/2014/HSST, tổng hợp với bản án số 09/2012/HSST ngày 04/4/2012 buộc bị cáo chấp hành chung hình phạt 02 bản án là 36 tháng tù. Ngày 03/02/2016 chấp hành xong hình phạt tù, đã được xóa án tích.

Ngày 11/4/2018 bị Tòa án nhân dân huyện Bù Đốp, tỉnh Bình Phước xử phạt 02 năm tù về tội Trộm cắp tài sản tại bản án số 21/2018/HSST. Ngày 24/9/2019 chấp hành xong hình phạt tù, đã được xóa án tích.

Ngày 27/9/2019 bị Tòa án nhân dân huyện Bù Đốp, tỉnh Bình Phước xử phạt 03 năm tù về tội Trộm cắp tài sản tại bản án số 50/2019/HSST. Ngày 27/01/2022 chấp hành xong hình phạt tù, đã được xóa án tích.

Bị cáo bị tạm giam từ ngày 04/8/2024 đến nay - Có mặt tại phiên tòa.

Bị hại:

Bà Nguyễn Thị H2, sinh năm 1975 – Vắng mặt

Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện B, tỉnh Bình Phước.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Bà Huỳnh Thị N, sinh năm 1963 – Có mặt

Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện B, tỉnh Bình Phước

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 03 giờ ngày 06/04/2024 Võ Minh T gọi điện thoại rủ Lâm Văn G đi đến nhà bà Nguyễn Thị H2 thuộc ấp T, xã T, huyện B để lấy trộm tài sản thì G đồng ý. Sau đó G điều khiển xe mô tô màu đen không rõ nhãn hiệu, biển số: 93T5- 0475 chở T đi đến nhà bà H2. Khi cách nhà bà H2 khoảng 500 mét thì G để xe mô tô của mình tại khu vực lô cao su của người dân rồi cùng T đi bộ đến nhà bà H2 để lấy trộm tài sản, phát hiện cửa chính không khoá nên G và T đẩy cửa đi vào phòng bếp thì thấy khu vực nhà bếp có để 01 xe mô tô hiệu Honda Wave màu đen -bạc biển số: 93G1- 222.96 và 01 xe mô tô hiệu Honda Wave màu xanh - đen- bạc biển số: 93G1-248.74 không khóa cổ. Lúc này G và T cùng nhau lén lút đẩy xe mô tô hiệu Honda Wave xanh- đen - bạc biển số: 93G1- 222.96 đi ra khỏi nhà bà H2 đi đến khu vực để xe mô tô của G để cất giấu xe rồi cả 02 tiếp tục quay lại nhà bà H2 để tiếp tục lấy trộm chiếc xe còn lại. Khi vào nhà bà H2 thì T đi đến bàn học sinh bằng gỗ ở khu vực nhà bếp lấy trộm 01 điện thoại di động hiệu Iphone 5s màu trắng và 01 điện thoại di động hiệu OPPO A31 màu đen của bà H2 để trên bàn rồi cùng G đẩy xe mô tô hiệu Honda Wave màu xanh – đen - bạc biển số: 93G1-248.74 đi ra ngoài đường đến chỗ giấu xe ban đầu. Tại đây G đấu nối dây điện cho 02 xe vừa lấy trộm để nổ máy rồi Giàu điều khiển 01 chiếc xe vừa lấy trộm còn T điều khiển xe mô tô biển số 93T5- 0475 của G đi về nhà T để T cất xe mô tô của G ở khu vực chuồng gia cầm của nhà mình.

Sau khi cất xe xong G chở T đến chỗ giấu xe mô tô lấy trộm để lấy xe chiếc xe mô tô còn lại. Tại đây G điều khiển xe mô tô Honda Wave biển số: 93G1- 248.74, T điều khiển xe mô tô Honda Wave biển số: 93G1-222.96 đi ra đường ĐT759B đi vào đường liên doanh xã thuộc xã T, huyện B hướng vào khu vực biên giới giữa Việt Nam và Campuchia để đem bán 02 xe mô tô vừa lấy trộm. Trên đường đi G sử dụng số điện thoại 0969.506.xxx gọi cho người Campuchia tên S không rõ nhân thân, lai lịch có số điện thoại +855888585289 để bán xe. Sau đó T và G điều khiển 02 xe mô vừa lấy trộm trên qua khu vực “Ngầm sáu đáy” cách đường biên giới khoảng 300m thuộc địa phận Campuchia giao cho 02 người đàn ông Campuchia không rõ nhân nhân lai lịch.

Sau khi bán xe xong T và G đi bộ về Việt Nam, trên đường đi T đưa cho G 01 điện thoại di động hiệu Iphone 5S màu trắng, còn T giữ lại 01 điện thoại di động Oppo A31 màu đen. Khi T và G đi đến đường vành đai biên giới thuộc ấp T, xã T, huyện B thì bị lượng Công an xã T kiểm tra hành chính nên T bỏ chạy thoát còn G bị mời về làm việc, ngày 01/8/2025 Võ Minh T ra đầu thú và khai nhận cùng Lâm Văn G lấy trộm tài sản của gia đình bà H2.

Tại bản kết luận giám định số: 514 /2024/KL- HĐĐGTS ngày 08/4/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng Hình sự huyện B xác định:

Giá trị của xe mô tô hiệu Honda Wave màu xanh - đen – bạc, biển số: 93G1- 222.96 tại thời điểm ngày 06/4/2024 là 13.440.000đồng; xe mô tô hiệu Honda Wave màu xanh- đen- bạc biển số: 93G1-248.74 tại thời điểm ngày 06/4/2024 là 11.520.000đồng.

01 Điện thoại di động Iphone 5s màu trắng tại thời điểm ngày 06/4/2024 là 320.000đồng.

01 Điện thoại di động hiệu OPPO A31 màu đen tại thời điểm ngày 06/4/2024 là 240.000đồng.

Tổng trị giá yêu cầu giám định là: 25.520.000 đồng.

Tại phiên tòa:

  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Đốp giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo như nội dung Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Lâm Văn G, Võ Minh T phạm tội “Trộm cắp tài sản”, căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 17, 38, 50, 58 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Lâm Văn G từ 18-24 tháng tù; căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, 38, 50, 58 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Võ Minh T từ 24-30 tháng tù.

  • - Các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình, không có ý kiến tranh luận với bản luận tội của Kiểm sát viên và xin được giảm nhẹ hình phạt.

  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu gì trong vụ án, không tham gia tranh luận.

  • - Người bị hại vắng mặt, không có ý kiến trình bày.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra công an huyện B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện B, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về nội dung: Vì muốn có tiền tiêu xài, khoảng 03 giờ ngày 06/4/2024, bị cáo Lâm Văn G, Võ Minh T đã có hành vi lén lút chiếm đoạt của bà Nguyễn Thị H2 01 xe mô tô hiệu Honda Wave màu xanh - đen – bạc, biển số: 93G1- 222.96; 01 xe mô tô hiệu Honda Wave màu xanh- đen- bạc biển số: 93G1-248.74; 01 điện thoại di động Iphone 5s màu trắng; 01 điện thoại di động hiệu OPPO A31 màu đen, có tổng giá trị là 25.520.000 đồng. Hành vi nêu trên của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự. Do đó Cáo trạng số 72/CTr-VKS ngày 25 tháng 10 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Đốp và bản luận tội của Kiểm sát viên truy tố các bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật.

[3] Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, ảnh hưởng đến trật tự trị an tại địa phương. Các bị cáo nhận thức rõ hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện tội phạm. Xét tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội của các bị cáo gây ra, cần xử phạt các bị cáo mức án nghiêm, tương ứng với hành vi phạm tội của các bị cáo nhằm răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

[4] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Lâm Văn G phạm tội khi chưa được xóa án tích nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “tái phạm” theo điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

[5] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai báo; các bị cáo đã tác động gia đình bồi thường toàn bộ thiệt hại cho bị hại; bị cáo T tự nguyện đầu thú; bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo G. Đây là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự được áp dụng đối với các bị cáo.

[6] Về trách nhiệm dân sự:

Bị hại đã nhận bồi thường và không có yêu cầu gì thêm, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[7] Về vật chứng:

01 xe mô tô màu đen, không rõ nhãn hiệu, biển số: 93T5-0475, số khung: VMEPCG00221070219, số máy: VMEVA2126795 và 01 điện thoại di động hiệu NOKIA TA 1272 màu đen có số seri: 353159117487006 và 353159117987005 có gắn thẻ sim Viettel số: 0969.506.xxx ; 01 điện thoại di động NOKIA 105 màu hồng – đen có số seri: 354275384960878 có gắn sim Viettel số: 0869.465.xxx là tài sản của Lâm Văn G và Võ Minh T sử dụng làm phương tiện phạm tội, cần tịch thu nộp Ngân sách Nhà nước.

01 điện thoại di động Iphone 5s màu trắng số máy: ME306 LLA, số seri: C39LGD7VFF9V của bị hại Nguyễn Thị H2, ngày 09/4/2024 Cơ quan điều tra Công an huyện B đã ra quyết định xử lý vật chứng số 261 trả lại cho bà H2 là có cơ sở.

Đối với 01 bình trụ tròn không rõ chủng loại màu xanh, đỏ, trắng có chiều cao 15cm, đường kính 03cm, trên thân có dòng chữ “AMERICAN STYLE NATO SUPER –PARALISANT”; 01 đèn pin màu xanh không rõ chủng loại; 01 bao tay vải màu tím; 01 áo khoác vải màu đen có mũ trùm đầu, trên áo có in nổi chữ VL và các họa tiết hoa văn khác; 01 khẩu trang vải màu đen; 01 nón vải trùm đầu là của Lâm Văn G sử dụng vào việc phạm tội, không còn giá trị sử dụng, cần tịch thu tiêu huỷ.

Đối với 01 điện thoại di động hiệu OPPO A31 màu đen của bị hại Nguyễn Thị H2 do bị nứt bể màn hình nên Võ Minh T đã vứt bỏ, không thu hồi được nên không xem xét.

[8] Những vấn đề khác

Người tên S đã liên lạc với các bị cáo để mua xe và 02 người Campuchia nhận xe từ các bị cáo, không xác định được nhân thân lai lịch nên không xử lý là có cơ sở.

Xét các bị cáo có nhân thân xấu, vì vậy đề nghị của Kiểm sát viên về hình phạt là phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vụ án có tính chất đồng phạm đơn giản, trong đó bị cáo T vừa là người khởi xướng, vừa là người thực hành tích cực. Bị cáo G tham gia với vai trò thực hành. Về nhân thân, bị cáo T tuy không có tiền án như bị cáo G nhưng đã 04 lần bị xét xử về hành vi trộm cắp tài sản, ý thức chấp hành pháp luật rất kém. Do đó hình phạt đối với bị cáo T cao hơn bị cáo G.

[9] Về án phí: Các bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố bị cáo Lâm Văn G, Võ Minh T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

    Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 17, 38, 50, 58 Bộ luật hình sự

    Xử phạt bị cáo Lâm Văn G 02 (hai) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam (ngày 08/4/2024).

    Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, 38, 50, 58 Bộ luật hình sự

    Xử phạt bị cáo Võ Minh T 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam (ngày 04/8/2024).

  2. Vật chứng: Áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự

    • - Tịch thu nộp Ngân sách Nhà nước 01 xe mô tô màu đen, không rõ nhãn hiệu, biển số: 93T5-0475 ,số khung: VMEPCG00221070219, số máy: VMEVA2126795; 01 điện thoại di động hiệu NOKIA TA 1272 màu đen có số seri: 353159117487006 và 353159117987005 có gắn thẻ sim Viettel số: 0969.506.xxx ; 01 điện thoại di động NOKIA 105 màu hồng – đen có số seri: 354275384960878 có gắn sim Viettel số: 0869.465.xxx.

    • - Tịch thu tiêu huỷ 01 bình trụ tròn không rõ chủng loại màu xanh, đỏ, trắng có chiều cao 15cm, đường kính 03cm, trên thân có dòng chữ “AMERICAN STYLE NATO SUPER –PARALISANT"; 01 đèn pin màu xanh không rõ chủng loại; 01 bao tay vải màu tím; 01 áo khoác vải màu đen có mũ trùm đầu, trên áo có in nổi chữ VL và các họa tiết hoa văn khác; 01 khẩu trang vải màu đen; 01 nón vải trùm đầu

    (Theo Biên bản giao nhận vật chứng số 0007947 ngày 17/10/2024 giữa Công an huyện B và Chi cục THADS huyện B)

  3. Án phí: Áp dụng Điều 135 của Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội

    Mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

  4. Quyền kháng cáo:

    Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

    Bị hại vắng mặt tại phiên toà được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Phước;
  • - VKSND huyện Bù Đốp;
  • - Công an huyện Bù Đốp;
  • - Chi cục THADS huyện Bù Đốp;
  • - Bị cáo;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên toà

Nguyễn Thị Kiều My

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 80/2024/HS-ST ngày 06/12/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÙ ĐỐP, TỈNH BÌNH PHƯỚC về hình sự - trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 80/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự - Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 06/12/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÙ ĐỐP, TỈNH BÌNH PHƯỚC
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố bị cáo Lâm Văn G, Võ Minh T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger