TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 80/2024/HS-PT
Ngày: 29/10/2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Thanh Quốc
Các Thẩm phán: Bà Huỳnh Thị Bích Vân
Ông Võ Bảo Anh
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Huỳnh Phương – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa: Ông Phạm Thành Lộc – Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 10 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 133/2024/TLPT-HS ngày 01 tháng 10 năm 2024 đối với bị cáo Nguyễn Văn C (Bé H) do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 33/2024/HS – ST ngày 15/7/2024 của Tòa án nhân dân huyện Thới Lai, thành phố Cần Thơ.
- Bị cáo có kháng cáo:
Nguyễn Văn C (Bé H)
Nguyễn Văn C (Bé H), sinh năm 1981 tại Cần Thơ. Nơi cư trú: ấp T, xã T, huyện T, thành phố Cần Thơ. Giới tính: nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; nghề nghiệp: làm thuê; trình độ học vấn: 01/12. Con ông Nguyễn Văn M (sống) và bà Nguyễn Thị D (sống); có vợ là Lê Kim H1, sinh năm 1978 (sống); con có 02 người, lớn sinh năm 2000, nhỏ sinh năm 2008. Tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo tại ngoại và có mặt tại phiên tòa.
* Người bào chữa cho bị cáo: Luật sư Nguyễn Viết C1 – Văn phòng L1, Đoàn Luật sư thành phố C.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Nguyễn Vũ T, sinh năm 1991.
Địa chỉ: ấp T, xã X, huyện T, thành phố Cần Thơ. Có mặt.
- Ông Nguyễn Văn B, sinh năm 1991.
Địa chỉ: ấp T, xã T, huyện T, thành phố Cần Thơ. Có mặt.
Trong vụ án, còn có người bị hại không kháng cáo, không liên quan đến kháng cáo nên Tòa án không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào sáng ngày 20/5/2023, gia đình Nguyễn Văn C (Bé H) tổ chức đưa con trai đi ở rể tại huyện M, tỉnh Bến Tre. Đến khoảng 17 giờ cùng ngày, các anh em của Nguyễn Văn C gồm Nguyễn Thanh T1, sinh năm 1988, Nguyễn Văn B, sinh năm 1991, Nguyễn Vũ T, sinh năm 1992 (em rể của Cu) tổ chức tiệc nhậu trên nền gạch bên hông nhà bà Nguyễn Thị D (mẹ ruột của C). Tiệc nhậu kéo dài đến 17 giờ cùng ngày thì Nguyễn Văn B gọi điện mời Nguyễn Mộng K (anh em bà con với B, nhà đối diện bên sông với nhà B) qua nhậu thì K trả lời đang nhậu với Nguyễn Văn T2, Phan Vũ P, Nguyễn Hữu T3 (H), Lê Văn L thì B kêu K rủ tất cả qua luôn, nhóm của K nghỉ nhậu, đi qua nhà Bé nhậu tiếp. Lúc này tại tiệc nhậu của Nguyễn Văn B có 4 người, bên K đến ngồi nhậu chung 5 người, tổng cộng có 9 người, mỗi người uống khoảng 02 chai bia Laru thì Bé xảy ra mâu thuẫn với T2, B đập một chai bia xuống nền gạch kiếm chuyện với T2 nhưng được mọi người can ngăn. Bà D kêu nghỉ nhậu thì tiệc nhậu giải tán. Nhóm của K ra khỏi nhà bà D, được một lúc thì T2 đi bộ trở lại, đứng trước cổng rào đe dọa gia đình Bé nên Nguyễn Vũ T chạy bộ ra, nhảy lên đạp T2, T2 né nên Tân té nằm xỉu trên mặt lộ nông thôn. Bà D thấy T nằm nên truy hô lên, Bé từ trong nhà chạy ra dùng tay đánh nhau với T2 làm hai người ngã xuống lề lộ, rồi rớt xuống mé sông trước nhà, cả hai đứng dựa vào vách bờ câu nắm đầu nhau. Nguyễn Văn C cầm một chai bia Laru đập vào cột nhà làm bể phần đít chai chạy đến nơi T2 đang đánh nhau với B, đến nơi Nguyễn Văn C dùng cổ chai bia đâm trúng vào vành tay phải và cổ trái của T2, tiếp tục cầm cổ chai bia quơ trúng vào cằm, môi trên phải và dưới trái của T2 thì được mọi người can ra. Thiệt được người nhà đưa đến Bệnh viện Đ điều trị.
Quá trình điều tra, Nguyễn Văn C thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên là đúng. Ngày 23/5/2023, Nguyễn Văn T2 có đơn yêu cầu giám định thương tích và yêu cầu khởi tố vụ án hình sự đối với Nguyễn Văn C, Nguyễn Văn B, Nguyễn Thanh T1.
Tại Kết luận giám định bổ sung tổn thương cơ thể trên người sống số 761/KLTTCT-TTPYCT ngày 16/11/2023 của Trung tâm pháp y – Sở Y tế thành phố C đối với Nguyễn Văn T2, kết luận: “Vết thương phức tạp vành tai phải đã lành sẹo có tỷ lệ là 02% (Hai phần trăm); Vết thương môi trên phải đã lành sẹo có tỷ lệ là 03% (ba phần trăm); Vết thương phức tạp vùng cằm đã lành sẹo có tỷ lệ là 03% (Ba phần trăm); Vết thương dưới hàm trái, cách dái tai trái 06cm đã lành sẹo có tỷ lệ là 02% (Hai phần trăm); Vết thương cổ trái đã lành sẹo có tỷ lệ là 04% (Bốn phần trăm). Kết luận tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Nguyễn Văn T2 theo nội dung trưng cầu giám định là 13% (Mười ba phần trăm).
Về vật chứng thu giữ gồm: 01 (một) mảnh thủy tinh có kích thước rộng hai đầu 02cm và 1,5cm, dài hai bên 2,3cm và 1,5cm, dày 0,2cm có trọng lượng 2,25gam; 01 chai bia hiệu Laru do Nguyễn Văn T4 giao nộp, sau giám định cắt thành nhiều mảnh nhỏ có trọng lượng 300gam. Tất cả vật chứng trên được chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thới Lai chờ xử lý. Đối với 01 (một) đĩa DVD ghi âm, ghi hình buổi ghi lời khai và 01 (một) đĩa DVD ghi âm, ghi hình hỏi cung bị can lưu hồ sơ vụ án.
Tại bản án hình sự số 33/2024/HS-ST ngày 15/7/2024 của Tòa án nhân dân huyện Thới Lai, thành phố Cần Thơ đã quyết định:
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn C phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
Áp dụng: điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: bị cáo Nguyễn Văn C 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù được tính kể từ ngày bị cáo chấp hành hình phạt tù.
Ngoài ra, bản án còn tuyên về trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Sau khi tuyên án sơ thẩm, ngày 15/7/2024 bị cáo Nguyễn Văn C kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và được hưởng án treo.
Ngày 06/8/2024, bị hại Nguyễn Văn T2 có đơn yêu cầu với nội dung đề nghị không chấp nhận kháng cáo của bị cáo đồng thời đề nghị xem xét xử lý hành chính đối với Nguyễn Thanh T1.
Tại phiên tòa, bị cáo vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo và không cung cấp thêm chứng cứ nào mới.
Quan điểm bào chữa của Luật sư Nguyễn Viết C1: Cấp sơ thẩm chỉ áp dụng một tình tiết giảm nhẹ tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo là chưa đủ các tình tiết giảm nhẹ mà bị cáo được hưởng, bởi bị hại có một phần lỗi trong vụ việc khi đã đánh nhau với T và trấn nước Bé nên với vị trí người anh, bị cáo mới có hành động như vậy nên có cơ sở để xem xét áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ tại điểm e khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo do bị cáo bị kích động về tinh thần khi chứng kiến hành vi trái pháp luật của bị hại đối với các em của mình. Ngoài ra, đề nghị xem xét áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ tại điểm h khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự vì thương tích của bị hại là 13% nhưng với 05 vết thương khác nhau, mỗi vết thương chỉ khoảng 02%. Bị cáo có cầm hung khí nhưng không chủ đích gây thiệt hại cho bị hại mà chỉ muốn kéo bị hại ra không để bị hại tiếp tục tấn công em bị cáo nữa. Về bồi thường thiệt hại, bị cáo có hoàn cảnh khó khăn nên chỉ xin bồi thường 10.000.000 đồng và đã cố gắng nộp trước 10.000.000 đồng, số tiền còn lại sẽ cố gắng bồi thường sau cho bị hại nên đề nghị xem xét áp dụng thêm điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo, tuy số tiền bị cáo đã nộp là không lớn nhưng số tiền này đối với gia đình bị cáo là số tiền tương đối lớn. Từ những phân tích trên, việc bị cáo được hưởng nhiều hơn 02 tình tiết giảm nhẹ tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự thì đủ điều kiện để được áp dụng Điều 54 Bộ luật Hình sự xem xét mức án thấp nhất dưới khung hình phạt. Bên cạnh đó, bị cáo có nguyện vọng được tại ngoại để có điều kiện chăm sóc cho vợ bệnh và lao động kiếm tiền bồi thường cho bị hại, xét thấy bị cáo có đủ điều kiện để được hưởng án treo nên đề nghị HĐXX cân nhắc xem xét cho bị cáo. Do đó, đề nghị HĐXX áp dụng các tình tiết giảm nhẹ tại các điểm b, e, h, s khoản 1 Điều 51, Điều 54 và Điều 65 Bộ luật Hình sự cho bị cáo được hưởng án treo để bị cáo có điều kiện lao động kiếm tiền bồi thường thiệt hại cho bị hại.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ tham gia phiên toà nhận định: Xét thấy nội dung vụ án đã được làm rõ theo hồ sơ vụ án, hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội Cố ý gây thương tích theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự. Khi lượng hình, cấp sơ thẩm đã xem xét toàn diện và áp dụng tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo theo đúng quy định. Lý do mà bị cáo nêu ra đã được xem xét tại cấp sơ thẩm và mức hình phạt áp dụng là tương xứng đối với hành vi, tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo. Bên cạnh đó, tại phiên tòa bị cáo cũng không thừa nhận hành vi cố ý gây thương tích của mình là chưa đủ thành khẩn, ăn năn. Ngoài ra, tại phiên tòa bị cáo có bổ sung thêm biên lai khắc phục chỉ 10.000.000 đồng trên số tiền phải khắc phục là 41.000.000 đồng nên chưa đủ cơ sở để đề nghị áp dụng tình tiết khắc phục hậu quả theo điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Các tình tiết giảm nhẹ khác mà Luật sư đề nghị áp dụng cho bị cáo là không có cơ sở. Việc bị cáo chỉ có một tình tiết giảm nhẹ tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự nên không có đủ cơ sở để áp dụng Điều 54 và Điều 65 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo. Do đó, đề nghị HĐXX áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự không chấp nhận kháng cáo của bị cáo và giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Kháng cáo của bị cáo trong thời hạn luật định nên đủ điều kiện để Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết theo quy định.
[2] Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng đã truy tố và bản án sơ thẩm đã tuyên. Đối chiếu với tài liệu chứng cứ thể hiện trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử đủ cơ sở để kết luận:
Ngày 20/5/2023, bị cáo có hành vi dùng hung khí nguy hiểm gây thương tích cho bị hại. Theo Kết luận giám định bổ sung tổn thương cơ thể trên người sống số 761/KLTTCT-TTPYCT ngày 16/11/2023 của Trung tâm pháp y – Sở Y tế thành phố C đối với Nguyễn Văn T2: Kết luận tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Nguyễn Văn T2 theo nội dung trưng cầu giám định là 13% (Mười ba phần trăm).
Với hành vi nêu trên cùng tỷ lệ thương tích của bị hại, cấp sơ thẩm truy tố, xét xử bị cáo về tội “Cố ý gây thương tích” với tình tiết định khung theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự là có căn cứ.
[3] Xét kháng cáo của bị cáo:
[3.1] Bị cáo là người đã thành niên, có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, đủ nhận biết hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố tình sử dụng hung khí nguy hiểm để gây thương tích cho bị hại. Hành vi của bị cáo không chỉ trực tiếp xâm phạm đến sức khỏe của người khác mà còn gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự tại địa phương nên cần có hình phạt nghiêm, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội có thời hạn để cải tạo, giáo dục bị cáo biết tôn trọng pháp luật, qua đó cũng nhằm đảm bảo tác dụng răn đe và phòng ngừa chung trong xã hội đối với những ai muốn giải quyết mâu thuẫn bằng biện pháp bạo lực.
[3.2] Quá trình tố tụng, cấp sơ thẩm đã xem xét, đánh giá và áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như thành khẩn khai báo ăn năn hối cải theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự là phù hợp, có căn cứ.
[3.3] Xét mức hình phạt mà cấp sơ thẩm áp dụng đối với bị cáo là đã xem xét toàn diện các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo. Tại giai đoạn phúc thẩm, bị cáo có bổ sung biên lai nộp số tiền 10.000.000 đồng khắc phục hậu quả, tuy nhiên số tiền mà bị cáo đã nộp là không lớn so với số tiền bị cáo phải khắc phục cho bị hại theo bản án sơ thẩm đã tuyên nên Hội đồng xét xử không xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Từ những phân tích trên, thấy rằng không có căn cứ để chấp nhận kháng cáo của bị cáo và quan điểm của Luật sư bào chữa cho bị cáo, đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm của đại diện Viện kiểm sát phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
[3.4] Về đề nghị xem xét xử phạt hành chính đối với Nguyễn Thanh T1 của bị hại, xét thấy cấp sơ thẩm đã đánh giá và nhận định về vai trò của ông T1 trong quá trình xô xát chỉ can ngăn, không tham gia đánh nhau nên không xử phạt hành chính là phù hợp.
[4] Các phần khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật.
[5] Về án phí phúc thẩm: Do kháng cáo không được chấp nhận nên bị cáo phải chịu.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn C (Bé H).
Giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số: 33/2024/HS-ST ngày 15 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Thới Lai, thành phố Cần Thơ.
- Căn cứ: điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn C (Bé H) phạm tội “Cố ý gây thương tích".
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn C 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù được tính kể từ ngày bị cáo chấp hành hình phạt tù.
Bị hại Nguyễn Văn T2 được quyền liên hệ với Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thới Lai, thành phố Cần Thơ để nhận số tiền 10.000.000 đồng, bị cáo Nguyễn Văn C đã nộp để khắc phục hậu quả theo biên lai thu số 0002946 ngày 25/10/2024 tại Chi cục thi hành án huyện Thới Lai, thành phố Cần Thơ.
- Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự phúc thẩm.
- Các phần khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bùi Thanh Quốc |
Bản án số 80/2024/HS-PT ngày 29/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ về hình sự: cố ý gây thương tích
- Số bản án: 80/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự: Cố ý gây thương tích
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 29/10/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm
