Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH SÓC TRĂNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

—————————

Bản án số: 80/2024/HS-PT.

Ngày: 20/8/2024.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SÓC TRĂNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Thanh Vũ;

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Thành Hữu;

Ông Phan Lê Vũ Huy Hoàng.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trường Sơn - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Bà Lâm Dạ Hằng - Kiểm sát viên.

Ngày 20/8/2024, tại Nhà Văn hóa xã H (Địa chỉ: Ấp N, xã H, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng), xét xử phúc thẩm công khai, lưu động vụ án hình sự thụ lý số 73/2024/TLPT-HS ngày 28/6/2024 đối với bị cáo Trần Phi L do có kháng cáo của bị cáo Trần Phi L đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 20/2024/HS-ST ngày 20/5/2024 của Tòa án nhân dân thị xã V, tỉnh Sóc Trăng.

- Bị cáo có kháng cáo: Trần Phi L; Tên gọi khác: Cuội; Sinh ngày: 07/7/1984; Nơi sinh: Thị xã V, tỉnh Sóc Trăng; Nơi cư trú: Ấp T, xã H, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng; Nghề nghiệp: Nuôi tôm; Trình độ học vấn: 02/12; Dân tộc: Hoa; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần Văn N và bà Lý Thị S; Có vợ là bà Danh Thị T, sinh năm 1992 và 02 người con, người con lớn sinh năm 2014, người con nhỏ sinh năm 2017; Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 14/12/2023 đến nay. (có mặt)

- Người bào chữa cho bị cáo Trần Phi L: Ông Lý B - Luật sư thực hiện trợ giúp pháp lý nhà nước thuộc Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh S; Địa chỉ Trung tâm: Số A, đường H, Phường F, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng. (có mặt)

- Những người dưới đây không liên quan đến kháng cáo Hội đồng xét xử phúc thẩm không triệu tập gồm: Bị hại Thạch C; Người làm chứng Thạch Èm N, Ong Thị Anh T1, Nguyễn Văn K, Thạch Thị H và Lý Thị S.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc khoảng 16 giờ 30 phút ngày 08/7/2023, tại ấp T, xã H, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng, bị cáo Trần Phi L và bị hại Thạch Chạch xảy ra mâu thuẫn do L nghi ngờ ông C nhổ cỏ ném xuống ao nuôi tôm của L. L lấy 01 cây dao có cán bằng gỗ dài 38cm, có lưỡi bằng sắt dài 42cm giấu trong bao thức ăn cho tôm đi đến chỗ ông C đang nhổ cỏ. L cầm dao giơ lên định chém ông C thì ông C phát hiện và chụp lấy được cây dao. Lúc này, bị cáo L và bị hại Chạch giằng co, giật cây dao, L dùng cán dao thọt trúng vào người của ông C làm ông C bị thương nhiều chỗ trên cơ thể. Sau đó, cả hai té xuống ao nuôi tôm, rồi được ông Nguyễn Văn K can ngăn nên hai bên nghỉ đánh nhau. Sau đó, bị cáo L cầm dao đi về nhà, còn ông C được gia đình đưa đi Trung tâm y tế thị xã V điều trị thương tích, đến ngày 14/7/2023 xuất viện. Sau khi điều trị thương tích, ông C làm đơn yêu cầu truy cứu trách nhiệm hình sự đối với L về hành vi cố ý gây thương tích.

Tại Bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 359/KLTTCT-TTPYST ngày 23/8/2023 của Trung tâm Pháp y - Sở Y tế tỉnh S kết luận: Tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của Thạch C do thương tích gây nên hiện tại là 02%.

Tại Bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 635/KLTTCT-C09B ngày 17/10/2023 của Phân viện khoa học hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh kết luận: Thương tích của Thạch C có đặc điểm phù hợp do vật tày tác động gây ra. Không xác định chiều hướng tác động; lưỡi dao gửi giám định không gây ra được thương tích của Thạch C.

* Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 20/2024/HS-ST ngày 20/5/2024 của Tòa án nhân dân thị xã V, tỉnh Sóc Trăng quyết định:

  • - Căn cứ vào: Điểm a khoản 1 Điều 134; các điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 và khoản 2 Điều 51 và khoản 1 Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
  • - Tuyên bố: Bị cáo Trần Phi L (tên gọi khác: C1) phạm tội “Cố ý gây thương tích".
  • - Xử phạt bị cáo Trần Phi L (tên gọi khác: C1) 06 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tính từ ngày bị cáo tự nguyện đi chấp hành án hoặc ngày bắt bị cáo đi chấp hành án.
  • - Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về trách nhiệm dân sự, án phí và quyền kháng cáo của bị cáo, bị hại và người tham gia tố tụng khác theo quy định của pháp luật.

* Ngày 26/5/2024, bị cáo Trần Phi L kháng cáo xin giảm hình phạt, xin được hưởng án treo.

* Tại phiên tòa phúc thẩm:

  • - Bị cáo Trần Phi L giữ nguyên kháng cáo xin giảm hình phạt, xin hưởng án treo.

Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sóc Trăng về việc giải quyết vụ án: Hội đồng xét xử sơ thẩm kết luận bị cáo Trần Phi L phạm tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm a khoản 1 Điều 134 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là có căn cứ, đúng pháp luật. Đồng thời, cấp sơ thẩm áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, điểm i, điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với bị cáo L là có căn cứ, đúng quy định pháp luật. Xét cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo L mức án 06 tháng tù là tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo gây ra, đặc điểm nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được áp dụng đối với bị cáo nên không có cơ sở giảm hình phạt cho bị cáo. Xét bị cáo có đủ điều kiện để được cân nhắc, xem xét cho hưởng án treo theo quy định Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và hướng dẫn tại Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 (được sửa đổi, bổ sung theo Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP15/4/2022) của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Tuy nhiên, xét thấy hành vi của bị cáo là nghiêm trọng, cố ý xâm phạm đến sức khỏe của bị hại, ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự an toàn xã hội tại địa phương, cần xử lý nghiêm mới có tác dụng răn đe đối với bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ vào Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2021), không chấp nhận kháng cáo xin giảm hình phạt hoặc xin hưởng án treo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Quan điểm bào chữa của người bào chữa cho bị cáo Trần Phi L: Do mâu thuẫn đất đai giữa bị cáo và bị hại kéo dài, bị cáo không biết đến cơ quan nào đề nghị hỗ trợ giải quyết, bị cáo có hành vi không phù hợp, đã gây thương tích cho bị hại. Tòa án cấp sơ thẩm kết luận bị cáo L phạm tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm a khoản 1 Điều 134 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo là phụ hợp, có căn cứ. Trong vụ án này, thiệt hại của bị hại không đáng kể, hiện tại bị hại đã bình phục bình thường, trong quá trình giải quyết vụ án thì bị cáo có bồi thường cho bị hại số tiền 1.000.000 đồng, bị cáo có nhân thân tốt, bị cáo cần có điều kiện chăm sóc gia đình tốt hơn. Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét, chấp nhận kháng cáo của bị cáo L, áp dụng thêm Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), cho bị cáo L hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định như sau:

[1] Về tính hợp pháp của đơn kháng cáo và phạm vi xét xử phúc thẩm: Xét Đơn kháng cáo của bị cáo Trần Phi L lập ngày 26/5/2024 và nộp cho Tòa án cấp sơ thẩm vào ngày 27/5/2024 là đúng quy định về người kháng cáo, thời hạn kháng cáo, hình thức, nội dung kháng cáo theo quy định tại các điều 331, 332 và 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2021). Do đó, căn cứ vào Điều 345 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2021), Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét nội dung kháng cáo của bị cáo Trần Phi L, về việc xin giảm hình phạt hoặc xin hưởng án treo theo trình tự phúc thẩm.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo Trần Phi L như sau: Vào lúc khoảng 16 giờ 30 phút ngày 08/7/2023, tại ấp T, xã H, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng, bị cáo Trần Phi L và bị hại Thạch Chạch xảy ra mâu thuẫn do L nghi ngờ ông C nhổ cỏ ném xuống ao nuôi tôm của L. L đi đến chỗ ông C đang nhổ cỏ và có mang theo 01 cây dao có cán bằng gỗ dài 38cm, có lưỡi bằng sắt dài 42cm, L cầm dao giơ lên định chém ông C thì ông C phát hiện và chụp lấy được cây dao. Lúc này, bị cáo L và bị hại Chạch giằng co, giật cây dao, L dùng cán dao thọt trúng nhiều cái vào người của ông C làm ông C bị thương tích với tỷ lệ tổn thương cơ thể theo kết luận giám định là 02%. Xét cây dao mà bị cáo L dùng gây thương tích cho bị hại Chạch có cán dao bằng gỗ cứng chắc, lưỡi dao bằng kim loại (sắt) là loại hung khí nguy hiểm. Do đó, Hội đồng xét xử sơ thẩm kết luận bị cáo Trần Phi L phạm tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là có căn cứ, đúng quy định pháp luật.

[3] Xét kháng cáo xin giảm hình phạt, xin hưởng án treo của bị cáo Trần Phi L: Khi lượng hình, Hội đồng xét xử sơ thẩm xác định bị cáo L không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm và xác định bị cáo L thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo đã nộp tiền bồi thường thiệt hại cho bị hại số tiền là 1.000.000 đồng (theo Biên lai thu tiền số 0000262 ngày 02/4/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Vĩnh Châu); phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị cáo có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự và gia đình bị cáo có công với cách mạng, bị cáo là người dân tộc H1 và có trình độ học vấn thấp nên nhận thức pháp luật còn hạn chế. Từ đó, Hội đồng xét xử sơ thẩm áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật. Xét Hội đồng xét xử sơ thẩm xử phạt bị cáo L mức án 06 tháng tù là phù hợp với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội của bị cáo, đặc điểm nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được áp dụng đối với bị cáo. Hội đồng xét xử phúc thẩm xác định không còn tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nào đáng lẽ bị cáo được hưởng nhưng Hội đồng xét xử sơ thẩm chưa áp dụng nên không có cơ sở giảm hình phạt cho bị cáo L. Xét mặc dù bị cáo Trần Phi L bị xử phạt tù không quá 03 năm, có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và có nơi cư trú rõ ràng là có đủ điều kiện có thể xem xét cho hưởng án treo theo quy định tại Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Tuy nhiên, xét trong vụ án này, chỉ vì mâu thuẫn nhỏ mà bị cáo đã chủ động mang theo cây dao có cán bằng gỗ, lưỡi dao bằng kim loại (sắt) để đi chém bị hại, mặc dù hậu quả thương tích của bị hại chỉ 02% nhưng hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự, an toàn xã hội tại địa phương. Đồng thời, tình trạng giải quyết mâu thuẫn bằng bạo lực xảy ra khá phổ biến trên địa bàn làm tình hình tội phạm xâm hại sức khỏe, tính mạng của người khác có chiều hướng tăng và phức tạp, nên cần phải xử lý nghiêm người phạm tội mới đủ tác dụng trừng trị, giáo dục riêng đối với bị cáo và phòng ngừa chung cho toàn xã hội. Do đó, Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy việc cho bị cáo hưởng án treo sẽ ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự, an toàn xã hội tại địa phương nên không chấp nhận cho bị cáo hưởng án treo.

[4] Từ những nhận định trên, căn cứ vào Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2021), Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sóc Trăng, không chấp nhận đề nghị của người bào chữa cho bị cáo, không chấp nhận kháng cáo xin giảm hình phạt, xin hưởng án treo của bị cáo L, giữ nguyên quyết định về hình phạt đối với bị cáo L của bản án sơ thẩm.

[5] Về án phí hình sự phúc thẩm: Căn cứ vào khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2021) và điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 14, Điều 15, điểm b khoản 2 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Do kháng cáo không được chấp nhận nên bị cáo L phải chịu án phí hình sự phúc thẩm. Tuy nhiên, bị cáo L là người dân tộc thiểu số, sinh sống ở xã có điều kiện kinh tế-xã hội đặc biệt khó khăn và có đơn yêu cầu miễn án phí nên Hội đồng xét xử phúc thẩm thống nhất quyết định miễn án phí hình sự phúc thẩm cho bị cáo.

[6] Các phần khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ vào Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2021).

    Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Phi L (tên gọi khác: C1), về việc xin giảm hình phạt, xin hưởng án treo.

    Giữ nguyên quyết định về hình phạt đối với bị cáo Trần Phi L (tên gọi khác: Cuội) của Bản án hình sự sơ thẩm số 20/2024/HS-ST ngày 20/5/2024 của Tòa án nhân dân thị xã V, tỉnh Sóc Trăng.

  2. Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 134; Các điểm b, i, s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51 và khoản 1 Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với bị cáo Trần Phi L (tên gọi khác: C1).

    Xử phạt bị cáo Trần Phi L (tên gọi khác: C1) 06 (sáu) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo tự nguyện đi chấp hành án hoặc ngày bắt bị cáo đi chấp hành án.

  3. Về án phí hình sự phúc thẩm:

    Căn cứ vào khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2021) và điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 14, Điều 15, điểm b khoản 2 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

    - Bị cáo Trần Phi L (tên gọi khác: Cuội) được miễn án phí hình sự phúc thẩm.

  4. Các phần Quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
  5. Bản án phúc thẩm này có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Vụ GĐKT 1-TANDTC (01);
  • - VKSND tỉnh Sóc Trăng (01);
  • - TAND thị xã V (02);
  • - VKSND thị xã V (01);
  • - CQĐT-Công an thị xã V (01);
  • - CQTHAHS-Công an thị xã V (01);
  • - Chi cục THADS thị xã V (01);
  • - Bị cáo (01);
  • - PKTNV&THA-TAND tỉnh Sóc Trăng (01);
  • - CQTHAHS- Công an tỉnh Sóc Trăng (01);
  • - Phòng HSNV-Công an tỉnh Sóc Trăng (01);
  • - Sở Tư pháp tỉnh Sóc Trăng (01);
  • - Lưu HSVA, THS (04);

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Thanh Vũ

6

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 80/2024/HS-PT ngày 20/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SÓC TRĂNG về cố ý gây thương tích (phúc thẩm)

  • Số bản án: 80/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích (Phúc thẩm)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 20/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SÓC TRĂNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Trần Phi L bị kết án về tội "Cố ý gây thương tích" theo quy định tại khoản 1 Điều 134 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017)
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger