Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ LA GI

TỈNH BÌNH THUẬN

Bản án số: 80/2024/DS-ST

Ngày: 23-9-2024

“V/v Tranh chấp hợp đồng vay tài sản"

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ LA GI, TỈNH BÌNH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Biện Việt Hùng

Các Hội thẩm nhân dân:1. Ông Võ Thanh Đức.

2. Ông Nguyễn Văn Quang.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Song Yến – Thư ký Tòa án nhân thị xã La Gi.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã La Gi: Bà Nguyễn Thị Ngọc – Kiểm sát viên tham gia phiên toà.

Ngày 23 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã La Gi, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án Dân sự thụ lý số: 196/2024/TLST-DS ngày 27 tháng 5 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 76/2024/QĐXXST-DS ngày 27 tháng 5 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 71/2024/QĐST-DS ngày 30 tháng 8 năm 2028 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP S;

Địa chỉ trụ sở: 266 - B N, phường V, Quận C, thành phố Hồ Chí Minh là nguyên đơn;

Đại diện theo pháp luật: Nguyễn Đức Thạch D – Tổng Giám đốc;

Đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Đặng Đăng T – Chuyên viên khách hàng cá nhân.

(Theo Giấy ủy quyền số 136/2023/GUQ-PGD-LG ngày 29/12/2023).

Địa chỉ liên lạc: Số B T, phường P, thị xã L, tỉnh Bình Thuận;

- Bị đơn: Bà Hồ Thị Hồng V, sinh năm 1991;

Địa chỉ: Khu phố C, phường P, thị xã L, tỉnh Bình Thuận.

Tại phiên tòa nguyên đơn có mặt, bị đơn vắng mặt không có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn khởi kiện đề ngày 26/4/2024 và tại phiên tòa đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:

Tại đơn khởi kiện, ngày 05/12/2022, bà Hồ Thị Hồng V đã ký với Ngân hàng TMCP S – Phòng G, hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kèm theo hợp đồng và Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng - các tài liệu này gọi chung là Hợp đồng) với số thẻ 472074 - 3443, theo các nội dung như sau:

  • - Hạn mức sử dụng thẻ: 40.000.000 đồng
  • - Mục đích: tiêu dùng
  • - Lãi suất: 2,77%/tháng

Sau khi được cấp thẻ tín dụng, bà Hồ Thị Hồng V đã thực hiện các giao dịch tín dụng và vay tiêu dùng dưới hình thức trả góp gốc và lãi với số tiền 36.000.000 đồng. Số tiền lãi, phí phát sinh từ khi sử dụng thẻ đến nay là 10.497.140 đồng. Trong quá trình sử dụng thẻ, bà V đã thanh toán cho Ngân hàng tổng số tiền 21.575.972 đồng (chi tiết theo sao kê đính kèm). Tổng số tiền trên được thanh toán theo Điều 5 của Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng.

Tính đến ngày 25/04/2024, bà Hồ Thị Hồng V còn nợ Ngân hàng số tiền 24.921.168 đồng (bao gồm 36.000.000 đồng nợ gốc + 10.497.140 đồng lãi phát sinh - 21.575.972 đồng đã thanh toán), trong đó nợ gốc là 22.243.836 đồng, nợ lãi là 2.677.332 đồng.

Mặc dù đã có nhiều lần làm việc và nhắc nhở, bà Hồ Thị Hồng V vẫn không có thiện chí trả nợ. Do bà V vi phạm nghĩa vụ thanh toán, Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ của bà V và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn (theo điểm d, khoản 5.7, Điều 5 của Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng).

Mặc dù Ngân hàng đã yêu cầu bà V có trách nhiệm thanh toán, nhưng bà V vẫn chưa thanh toán khoản nợ quá hạn cho Ngân hàng, vi phạm các điều khoản đã quy định tại Hợp đồng đã ký. Do đó, để bảo vệ quyền lợi hợp pháp của Ngân hàng, Ngân hàng TMCP S kính đề nghị Quý Tòa giải quyết các vấn đề sau đây đối với bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Yêu cầu Tòa án giải quyết:

- Buộc bà Hồ Thị Hồng V phải trả cho Ngân hàng TMCP S tổng số tiền 24.921.168 đồng, trong đó nợ gốc là 22.243.836 đồng và nợ lãi là 2.677.332 đồng.

- Bà Hồ Thị Hồng V có trách nhiệm thanh toán lãi phát sinh từ ngày 26/04/2024 cho đến khi trả hết nợ vay theo lãi suất quy định tại Hợp đồng.

- Bị đơn phải chịu tất cả án phí và các chi phí liên quan khác.

Tại phiên tòa, nguyên đơn thay đổi yêu cầu bị đơn phải trả cho nguyên đơn số tiền: 29.377.782 đồng bao gồm tiền gốc là 22.248.836 và tiền lãi là 7.074.514 theo Giấy đề nghị kiêm hợp đồng cấp thẻ tín dụng cá nhân 15/12/2022 tạm tính đến 23/9/2024 và tiếp tục trả lãi phát sinh tính từ ngày 24/9/2024 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ

* Quá trình chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa bị đơn bà Hồ Thị Hồng V vắng mặt không có lý do và không trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã La Gi tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

Sau khi những người tham gia tố tụng phát biểu tranh luận và đối đáp xong, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến:

- Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Thư ký Tòa án và Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng trình tự, thủ tục tố tụng, xác định đúng thẩm quyền và quan hệ pháp luật, đồng thời thu thập tài liệu, chứng cứ theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Điều này đảm bảo cho việc ban hành các quyết định và bản án theo đúng quy định pháp luật. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã thể hiện tính vô tư, khách quan trong quá trình xét xử. Kiểm sát viên đã phát biểu về việc tuân thủ pháp luật tố tụng của những người tham gia tố tụng. Theo đó, nguyên đơn đã chấp hành đúng các quy định về quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại các Điều 70, 71 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tuy nhiên, bị đơn chưa tuân thủ đầy đủ các quy định về quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại các Điều 70, 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Về sự vắng mặt của bị đơn thì từ khi thụ lý vụ án cho đến khi xét xử bị đơn nhiều lần đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng như Thông báo về việc thụ lý vụ án, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai, chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên tòa nhưng bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không hợp tác, không đến Tòa án vì vậy Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227; Khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự là đúng quy định pháp luật.

- Về nội dung vụ án: Ý kiến về việc giải quyết vụ án, đề nghị hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn buộc bị đơn phải trả cho nguyên đơn số tiền: 29.377.782 đồng bao gồm tiền gốc là 22.248.836 và tiền lãi là 7.074.514 theo Giấy đề nghị kiêm hợp đồng cấp thẻ tín dụng cá nhân 15/12/2022 tạm tính đến 23/9/2024 và tiếp tục trả lãi phát sinh tính từ ngày 24/9/2024 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và sau khi nghe đương sự trình bày tại phiên Tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

Ngân hàng TMCP S có đơn khởi kiện yêu cầu tranh chấp hợp đồng vay tài sản với bà Hồ Thị Hồng V. Đây là tranh chấp dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng Dân sự. Bà V cư trú tại khu phố C, phường P, thị xã L, tỉnh Bình Thuận, nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã La Gi, tỉnh Bình Thuận theo điểm a khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Về việc vắng mặt của bị đơn, từ khi thụ lý vụ án cho đến khi xét xử, bà Hồ Thị Hồng V đã nhiều lần được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng, bao gồm Thông báo về việc thụ lý vụ án, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, và Quyết định hoãn phiên tòa. Tuy nhiên, bà V không hợp tác và không đến Tòa án. Như vậy, bà V đã tự khước từ quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình. Do đó, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Về việc thay đổi yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Tại phiên tòa, nguyên đơn thay đổi yêu cầu bị đơn phải trả số tiền 29.377.782 đồng, bao gồm nợ gốc là 22.248.836 đồng và tiền lãi là 7.074.514 đồng, theo Giấy đề nghị kiêm hợp đồng cấp thẻ tín dụng cá nhân ngày 15/12/2022, tạm tính đến ngày 23/9/2024. Nguyên đơn cũng yêu cầu bị đơn tiếp tục trả lãi phát sinh từ ngày 24/9/2024 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ. Xét thấy việc thay đổi yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn không vượt quá yêu cầu ban đầu, là tự nguyện và phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 244 Bộ luật Tố tụng Dân sự, nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[2] Về áp dụng pháp luật: Do hợp đồng giữa các đương sự xác lập vào thời điểm Bộ luật dân sự năm 2015 có hiệu lực nên Tòa án áp dụng Bộ luật dân sự năm 2015 để giải quyết vụ án.

Về quan hệ pháp luật: Trong vụ án, chỉ có yêu cầu của nguyên đơn yêu cầu bị đơn phải trả khoản tiền vay và tiền lãi phát sinh từ giao dịch dân sự vay tài sản mà hai bên đã xác lập theo hợp đồng vay tài sản. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 463 của Bộ luật dân sự, nhận định quan hệ tranh chấp trong vụ án là “Tranh chấp về hợp đồng vay tài sản” là đúng pháp luật.

[3] Về nội dung vụ án:

- Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, Hội đồng xét xử nhận định:

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp trong quá trình giải quyết vụ án và tài liệu, chứng cứ do Tòa án thu thập được, thể hiện: Tại "Giấy đề nghị kiêm hợp đồng cấp thẻ tín dụng cá nhân" ngày 15/12/2022 do nguyên đơn cung cấp và theo lời trình bày của nguyên đơn, Ngân hàng TMCP S đã cấp hạn mức tín dụng cho bà Hồ Thị Hồng V với số tiền 40.000.000 đồng, mục đích tiêu dùng, lãi suất 2,77%/tháng. Tính đến ngày 23/9/2024, bà V đã sử dụng hạn mức tín dụng là 22.243.836 đồng, có chữ viết và chữ ký của bà V. Như vậy, có căn cứ xác định giữa các bên đã có thỏa thuận thực hiện hợp đồng vay tài sản. Đây là hợp đồng có kỳ hạn, không có tài sản đảm bảo, có thỏa thuận về lãi suất và mục đích vay, được quy định tại Điều 463 và Điều 466 Bộ luật Dân sự. Tại thời điểm giao kết, các bên tham gia ký kết đều có đầy đủ năng lực pháp luật dân sự và năng lực hành vi dân sự. Hợp đồng được lập bằng văn bản, và nội dung thỏa thuận dựa trên nguyên tắc tự nguyện, không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội, phù hợp với quy định tại Điều 117 Bộ luật Dân sự, nên hợp đồng có hiệu lực pháp luật và làm phát sinh quyền, nghĩa vụ của các bên.

Trong quá trình giải quyết vụ án, bà V đã nhiều lần được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cùng toàn bộ tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp. Tuy nhiên, bà V không hợp tác, không đến Tòa án, và cũng không có ý kiến trình bày hay phản đối về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Vì vậy, bà V phải chịu hậu quả của việc không chứng minh theo quy định tại Điều 91 của Bộ luật Tố tụng Dân sự. Đồng thời, khoản 2 Điều 92 của Bộ luật Tố tụng Dân sự quy định: “Một bên đương sự thừa nhận hoặc không phản đối những tình tiết, sự kiện, tài liệu, văn bản, kết luận của cơ quan chuyên môn mà bên đương sự kia đưa ra thì bên đương sự đó không phải chứng minh”. Do đó, Hội đồng xét xử có căn cứ xác định hợp đồng vay tài sản giữa Ngân hàng TMCP S và bà V là có thật.

Trong quá trình thực hiện hợp đồng, đến hạn trả nợ gốc nhưng bà V không thực hiện đúng thỏa thuận. Như vậy, bà V đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ của bên vay tài sản theo quy định tại Điều 466 Bộ luật Dân sự.

- Xét yêu cầu về tiền lãi: Do yêu cầu trả nợ của Ngân hàng được Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu tính lãi cũng được chấp nhận. Tiền lãi tạm tính đến ngày xét xử ngày 23/9/2024 là 7.074.514 đồng. Kể từ ngày 24/9/2024, bà V còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi phát sinh trên số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên đã thỏa thuận trong hợp đồng.

Từ những phân tích trên, việc Ngân hàng TMCP S khởi kiện bà V về tranh chấp hợp đồng vay tài sản là có căn cứ, nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Tổng số tiền bà V phải trả cho Ngân hàng TMCP S là 29.377.782 đồng, bao gồm tiền gốc là 22.248.836 đồng và tiền lãi là 7.074.514 đồng.

[4] Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được Tòa án chấp nhận nên bị đơn phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 1 Điều 147

của Bộ luật Tố tụng dân sự; Khoản 2 Điều 26 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 3 Điều 26; Điểm a khoản 1 Điều 35; Khoản 1 Điều 39; Điều 91; Khoản 2 Điều 92; Khoản 1 Điều 147; Điểm b khoản 2 Điều 227; Khoản 3 Điều 228; Khoản 1 Điều 244; Điều 271; Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 117; Điều 357; Điều 463; Điều 466, Điều 468 của Bộ luật Dân sự;

Căn cứ Điều 99, Điều 100 của Luật các tổ chức tín dụng;

Căn cứ vào khoản 2 Điều 26 của Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP S:

- Buộc bà Hồ Thị Hồng V phải trả cho Ngân hàng TMCP S số tiền 29.377.782 đồng, bao gồm tiền gốc là 22.248.836 đồng và tiền lãi là 7.074.514 đồng, theo "Giấy đề nghị kiêm hợp đồng cấp thẻ tín dụng cá nhân" ngày 15/12/2022, tạm tính đến ngày 23/9/2024.

Kể từ ngày 24/9/2024, bà V còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi phát sinh trên số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên đã thỏa thuận trong hợp đồng, cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay, thì lãi suất mà bà V phải tiếp tục thanh toán cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay và các văn bản quy phạm pháp luật quy định về lãi suất có hiệu lực tại thời điểm điều chỉnh lãi suất.

2. Về án phí: Bà Hồ Thị Hồng V phải nộp 1.469.000 đồng (Một triệu bốn trăm sáu mươi chín nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả cho Ngân hàng TMCP S số tiền 623.000 đồng (Sáu trăm hai mươi ba nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền số 0011553 ngày 20/5/2024 tại Chi Cục Thi hành án dân sự thị xã La Gi.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7, 7A, 7B và 9 Luật Thi hành án dân sự thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

3. Về quyền kháng cáo: Quyền kháng cáo bản án của nguyên đơn là 15 ngày kể từ ngày tuyên án (23/9/2024). Quyền kháng cáo của bị đơn là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án theo quy định pháp luật.

Nơi nhận:

  • - Đương sự;
  • - Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận;
  • - Viện kiểm sát nhân dân thị xã La Gi;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự thị xã La Gi;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Đã ký

Biện Việt Hùng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 80/2024/DS-ST ngày 23/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ LA GI, TỈNH BÌNH THUẬN về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Số bản án: 80/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/09/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ LA GI, TỈNH BÌNH THUẬN
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: việc Ngân hàng TMCP S khởi kiện bà V về tranh chấp hợp đồng vay tài sản là có căn cứ, nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Tổng số tiền bà Vân phải trả cho Ngân hàng TMCP S là 29.377.782 đồng, bao gồm tiền gốc là 22.248.836 đồng và tiền lãi là 7.074.514 đồng.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger