Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 80/2024/DS-ST

Ngày: 13/9/2024

V/v“Tranh chấp hợp đồng tín dụng”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thanh Ngọc.

Các Hội thẩm nhân dân:

  • + Ông Trần Quốc Vũ;
  • + Bà Bùi Thị Phương Tâm.

- Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Ngọc Thảo - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc tham gia phiên toà: Bà Hùynh Thị Bích Vân - Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 9 năm 2024, tại Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 43/2024/TLST-DS ngày 23 tháng 02 năm 2024 về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 168/2024/QĐXXST-DS ngày 08 tháng 8 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 132/2024/QÐST-DS ngày 26 tháng 8 năm 2024, giữa:

Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ1 (B2); trụ sở chính: A T, Phường L, Quận H, thành phố Hà Nội.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Phan Đức T – chức vụ: Chủ tịch Hội đồng quản trị.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Võ Thành Đ - chức vụ: Trưởng Phòng QLRR – Ngân hàng TMCP Đ1 – chi nhánh B3 (Giấy ủy quyền số 2859/GUQ-BIDV.BAG ngày 30/11/2023) (có mặt).

Bị đơn: Ông Nguyễn Văn B, sinh năm 1997; địa chỉ: tổ A, khóm V, phường V, thành phố C, tỉnh An Giang; (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và lời khai cung cấp trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:

Vào ngày 23/12/2015, Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ1 - chi nhánh B3 (sau đây được viết tắt là B2 - chi nhánh B3) và ông Nguyễn Văn B đã ký kết Giấy đề nghị vay vốn, hợp đồng tín dụng số 01/2015/HĐTD. Theo đó, B2 - chi nhánh B3 cho ông B vay số tiền 10.000.000 đồng theo hình thức tín chấp, mục đích vay phục vụ nhu cầu đời sống, thời hạn vay 60 tháng, lãi suất 10,5%/năm, lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn, phương thức thanh toán tự động trừ tài khoản, nguồn trả nợ trích từ lưng và phụ cấp hàng tháng, bắt đầu kỳ đầu tiên trả vào ngày 15/01/2016. Ông B đã nhận đủ tiền từ B2 chi nhánh B3 theo Bảng kê rút vốn ngày 24/12/2015.

Quá trình thực hiện hợp đồng từ khi ký kết đến ngày 05/9/2018, ông B đã trả 7.494.237 đồng (trong đó, vốn gốc 5.344.000 đồng, lãi trong hạn 2.148.771 đồng, lãi quá hạn 1.466 đồng) thì ngưng không tiếp tục trả nợ cho B2 - chi nhánh B3 theo hợp đồng đã ký kết.

B2 - chi nhánh B3 đã gửi nhiều thông báo yêu cầu ông B yêu cầu thanh toán nợ nhưng phía ông B vẫn không thực hiện. Vì vậy, B2 khởi kiện yêu cầu ông B thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho B2 khoản nợ theo Giấy đề nghị vay vốn, hợp đồng tín dụng số 01/2015/HĐTD ngày 23/12/2015 với số tiền tính đến hết ngày 11/9/2024 là 8.516.299 đồng (trong đó, nợ gốc 4.656.000 đồng; lãi cộng dồn 3.303.000 đồng, lãi quá hạn 557.299 đồng) và buộc ông B phải tiếp tục chịu toàn bộ lãi phát sinh sau ngày 11/9/2024 với lãi suất theo Giấy đề nghị vay vốn và hợp đồng tín dụng số 01/2015/HĐTD ngày 23/12/2015 cho đến khi trả hết nợ cho B2.

Tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp chứng minh cho ý kiến, yêu cầu khởi kiện là: Giấy đề nghị vay; hợp đồng tín dụng số 01/2015/HĐTD ngày 23/12/2015 giữa B2 - chi nhánh B3 với ông Nguyễn Văn B, Bảng kê rút vốn ngày 04/10/2019 (bản sao); phiếu tính lãi từ ngày 04/10/2019 đến ngày 24/12/2015, bảng kê mục đích sử dụng vốn vay, thông báo về việc thu hồi nợ gốc và lãi ngày 03/3/2021, thông báo về việc thu hồi nợ gốc và lãi ngày 16/6/2021, thông báo về việc thu hồi nợ gốc và lãi ngày 04/10/2022, Hợp đồng lao động số 0674-DH ngày 01/3/2015 và các giấy tờ, tài liệu khác có liên quan.

- Bị đơn ông Nguyễn Văn B đã được triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến.

Do bị đơn vắng mặt nên Tòa án không tiến hành hòa giải được.

Tại phiên tòa,

- Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ngân hàng giữ nguyên yêu cầu khởi kiện đối với ông Ngyễn Văn B1. Yêu cầu ông B1 trả vốn lãi tính đến hết ngày 11/9/2024 là 8.516.299 đồng (trong đó, nợ gốc 4.656.000 đồng; lãi cộng dồn 3.303.000 đồng, lãi phạt cho gốc 557.299 đồng). Đồng thời, yêu cầu ông B1 tiếp tục chịu lãi phát sinh sau ngày 11/9/2024 theo mức lãi suất thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh tóan xong hết khoản nợ.

- Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa:

Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án trong giai đoạn chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ uật Tố tụng dân sự năm 2015.

Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật. Bị đơn được triệu tập hợp lệ nhiều lần, nhưng vắng mặt không lý do nên thuộc trường hợp xét xử vắng mặt theo quy định tại Điều 227, 228 BLTTDS năm 2015.

Về việc giải quyết vụ án: Thỏa thuận vay nợ giữa đôi bên được xác lập trên cớ sở tự nguyện, nội dung không trái quy dịnh pháp luật, đạo đức xã hội, các bên tham gia đều có năng lực hành vi dân sự nên làm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa các bên. Thực hiện hợp đồng vay phía ông B1 vi phạm nghĩa vụ trả nợ, làm ảnh hưởng đến quyền lợi của Ngân hàng nên Ngân hàng khởi kiện yêu cầu ông B1 trả một lần số nợ tiến vốn và lãi còn nợ là 8.516.299 đồng tính đến ngày 11/9/2024.

Đề nghị căn cứ các Điều 100, 103 Luật các tổ chức tín dụng năm 2024; các Điều 463, 466 và 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

* Về tố tụng:

[1] Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ1 (B2) khởi kiện yêu cầu ông Nguyễn Văn B trả nợ vay. Ông B đang cư trú trên địa bàn thành phố C nên yêu cầu kiện của B2 thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về sự vắng mặt của đương sự: Trước khi phiên tòa được mở, ông B đã được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa lần thứ hai nhưng vắng mặt không lý do. Căn cứ quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông B.

* Về nội dung:

[3] Về việc xác lập và thực hiện hợp đồng tín dụng:

Hợp đồng tín dụng số 01/2015/HĐTD ngày 23/12/2015 giữa B2 - chi nhánh B3 với ông Nguyễn Văn B được ký kết trên cơ sở tự nguyện, hình thức và nội dung hợp đồng phù hợp với quy định tại Điều 463 Bộ luật Dân sự năm 2015, khoản 2 Điều 100 Luật các tổ chức tín dụng năm 2024 nên làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên theo hợp đồng được ký kết.

Về thực hiện hợp đồng, trên cơ sở Giấy đề nghị vay vốn và hợp đồng tín dụng số 01/2015/HĐTD ngày 23/12/2015, ông B được B2 - chi nhánh B3 giải ngân số tiền 10.000.000 đồng thông qua Bảng kê rút vốn ngày 24/12/2015. Sau khi vay cho đến ngày 05/9/2018, ông B đã trả 7.494.237 đồng (trong đó, vốn gốc 5.344.000 đồng, lãi trong hạn 2.148.771 đồng, lãi quá hạn 1.466 đồng) thì ngưng không tiếp tục trả nợ cho B2 - chi nhánh B3 theo hợp đồng đã ký kết. Tính đến hết ngày 11/9/2024, ông B còn nợ B2 số tiền 8.516.299 đồng (trong đó, nợ gốc 4.656.000 đồng; lãi cộng dồn 3.303.000 đồng, lãi phạt cho gốc 557.299 đồng).

[4] Về yêu cầu của nguyên đơn:

Do ông B vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên B2 khởi kiện yêu cầu ông B trả nợ là phù hợp với nội dung hợp đồng tín dụng đã ký kết, quy định tại các Điều 466, 470 Bộ luật Dân sự năm 2015, Điều 103 Luật các tổ chức tín dụng năm 2024.

Do đó, chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của B2; buộc ông Nguyễn Văn B trả cho B2 số tiền tính đến ngày 11/9/2024 là 8.516.299 đồng (trong đó, nợ gốc 4.656.000 đồng; lãi cộng dồn 3.303.000 đồng, lãi phạt cho gốc 557.299 đồng) và tiền lãi phát sinh trên số nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng số 01/2015/HĐTD ngày 23/12/2015 kể từ ngày 12/9/2024 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ.

[5] Về án phí dân sự sơ thẩm:

Ông Nguyễn Văn B phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với số tiền phải thanh toán cho B2 là 425.815 đồng.

B2 không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm; hoàn lại cho B2 số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng mà B2 đã nộp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

  • - Các Điều 147, 266, 271 và 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
  • - Các Điều 463, 466, 468 và 470 Bộ luật Dân sự năm 2015;
  • - Các Điều 100 và 103 Luật các Tổ chức tín dụng năm 2024;
  • - Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
  1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ1 (B2).

    Buộc ông Nguyễn Văn B trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ1 (B2) số tiền 8.516.299 đồng (trong đó, nợ gốc 4.656.000 đồng; lãi cộng dồn 3.303.000 đồng, lãi phạt cho gốc 557.299 đồng)

    Kể từ ngày 12/9/2024, ông Nguyễn Văn B còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi phát sinh trên số nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận tại hợp đồng tín dụng số 01/2015//HĐTD ngày 23/12/2015 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng thương mại cổ phần Đ1 thì lãi suất mà ông B vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng thương mại cổ phần Đ1 cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng thương mại cổ phần Đ1.

  2. Về án phí dân sự sơ thẩm:

    Ông Nguyễn Văn B phải chịu 425.815 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

    Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ1 không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ1 số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo biên lai thu tạm ứng án, lệ phí Tòa án số 0003229 ngày 23 tháng 02 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang.

  3. Về quyền kháng cáo:

    Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ1 có quyền kháng cáo để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm.

    Riêng thời hạn kháng cáo của ông Nguyễn Văn B là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh An Giang (1);
  • - VKSND TP. Châu Đốc (2);
  • - Chi cục THADS TP.Châu Đốc (1);
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ (1);
  • - Lưu văn phòng (1).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Nguyễn Thanh Ngọc

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 80/2024/DS-ST ngày 13/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 80/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 13/09/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: DS BIDV - Bình
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger