|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ LONG MỸ TỈNH HẬU GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 80/2024/DS-ST Ngày 20 – 9 – 2024 “V/v tranh chấp quyền sử dụng đất” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ LONG MỸ, TỈNH HẬU GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Diệu
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Lê Minh Hồng
- Ông Lê Văn Qui.
- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Ngọc Nhiệm – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Thành Nghiên – Kiểm sát viên.
Trong ngày 20 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Long Mỹ mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 17/2021/TLST-DS, ngày 22 tháng 01 năm 2021 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 183/2024/QĐXXST-DS, ngày 13/8/2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 173/2024/QÐST-DS ngày 30 tháng 8 năm 2024 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Trần Thị H, sinh năm 1963.
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Phạm Hồng Q, sinh năm: 1957 (có mặt).
Cùng trú tại địa chỉ: Khu V Bình Thạnh B, phường B, thị xã L, tỉnh Hậu Giang.
2. Bị đơn: Ông Hồng Thiện K, sinh năm 1957 (có mặt).
Địa chỉ: Khu V Bình Thạnh B, phường B, thị xã L, tỉnh Hậu Giang.
1
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Hồng Văn N, sinh năm 1946 (vắng mặt).
- Bà Hồng Thị X, (vắng mặt).
- Trương Kim L, sinh năm 1962 (có mặt).
Cùng địa chỉ: Khu V, phường B, thị xã L, tỉnh Hậu Giang.
- Ông Hồng Văn H1 (vắng mặt)
Địa chỉ: Khu V, phường T, thị xã L, tỉnh Hậu Giang.
- Hồng Thị N1, sinh năm 1946 (vắng mặt)
Địa chỉ: Khu V, phường B, thị xã L, tỉnh Hậu Giang.
- Hồng Thị Ú, sinh năm 1970 (vắng mặt)
Địa chỉ: C, đường L, phường E, quận A, thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện và quá trình tố tụng tại Tòa án nguyên đơn Trần Thị H có người đại diện theo ủy quyền ông Phạm Hồng Q trình bày ý kiến:
Bà H có phần đất tọa lạc tại khu vực Bình Thạnh B, phường B, thị xã L, tỉnh Hậu Giang, đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Phần đất của bà H có một cạnh giáp ông Hồng Thiện K, giữa hai phần đất được ngăn cách bởi một cái mương ranh, trong đó có một cạnh dài 0,6 m giáp đường T và một đầu dài khoảng 2,5m giáp sông Cái Lớn, chạy dài từ mé lộ đường T đến bờ sông Cái Lớn dài 45m. Đây là con mương làm đường dẫn nước chung. Do quá trình sử dụng, ông K lấn chiếm cái mương hiện nay chỉ còn khoảng 0,5m. Đến năm 2019, ông K cho bơm cát xây dựng công trình làm cho căn nhà của bà H bị lún nghiên và có thể sụp đổ. Để bảo vệ quyền lợi của mình bà H có yêu cầu chính quyền địa phương giải quyết nhưng vụ việc không thành. Do đó, bà H khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bị đơn phải tháo dỡ các công trình xây dựng lấn con mương và trả lại con mương như ban đầu. Yêu cầu chừa lối thoát nước ngang 0,6 m giáp đường T và một đầu dài khoảng 2,5m giáp sông Cái Lớn chạy dài từ mé lộ đường T đến bờ sông Cái Lớn dài 45m, khắc phục lún nghiên cho căn nhà của bà H.
Tại biên bản ghi nhận ý kiến của đương sự ngày 30/6/2021, ông Phạm Hồng Q, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày ý kiến: Do chi phí để thuê cơ quan chuyên môn xác định nguyên nhân căn nhà sụp lún quá lớn, nguyên đơn không có khả năng. Do đó, nguyên đơn chỉ yêu cầu ông K trả lại
2
phần đất lấn chiếm có diện tích như đã nêu trên. Tại biên bản hòa giải ngày 14/6/2024, ông Phạm Hồng Q, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày ý kiến yêu cầu bị đơn trả lại phần đất đã lấn chiếm theo diện tích đo đạc thực tế và yêu cầu bị đơn bồi thường căn nhà do sụp lún theo quy định pháp luật. Tại phiên toà, ông Phạm Hồng Q xác định rút lại một phần yêu cầu khởi kiện về việc buộc bị đơn ông Hồng Thiện K khắc phục sụp lún căn nhà.
Bị đơn Hồng Thiện K trình bày ý kiến:
Phần đất tôi đang sử dụng hiện nay tôi chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, do cha tôi là ông Hồng H2 đứng tên trên sổ bộ. Cha tôi đã chết, mẹ tôi là bà Trần Tú L1 (đã chết), cha mẹ tôi có 07 người con gồm:
- Hồng Văn N; địa chỉ: Khu V Bình Thạnh B, phường B, thị xã L, tỉnh Hậu Giang.
- Hồng Văn T; địa chỉ: Cần Thơ nhưng không biết địa chỉ cụ thể.
- Hồng Thị X; địa chỉ: Khu V Bình Thạnh B, phường B, thị xã L, tỉnh Hậu Giang.
- Hồng Thiện K (bị đơn).
- Hồng Văn H1; Địa chỉ: Khu V, phường T, thị xã L, tỉnh Hậu Giang.
- Hồng Thị N1; địa chỉ: khu V, phường B, thị xã L, tỉnh Hậu Giang.
- Hồng Thị Ú; địa chỉ thành phố Hồ Chí Minh, không biết địa chỉ cụ thể.
Khi cha mẹ còn sống, tôi ở chung cha mẹ, anh chị em thì có gia đình ra sống riêng, tôi sử dụng quản lý phần đất trên từ khi còn sống chung với cha mẹ cho đến nay. Đối với việc nguyên đơn yêu cầu khởi kiện cho rằng tôi lấn đất là không đúng, khi tôi cất nhà thì có bà H ra chỉ giáp ranh và hai bên thống nhất chừa 0,2 m để làm lối thoát nước. Tôi mới cất nhà. Hiện trạng ranh từ khi tôi cất nhà đến nay không thay đổi, đối với phần bờ kè là do chúng tôi bồi lắp để sử dụng, nay nếu bà H có yêu cầu chừa thêm 0,3m (tổng cộng là 0,5m) tôi cũng đồng ý, nhưng khi nào nhà nước làm lại bờ kè tôi mới sữa chữa nhà lại được và sẽ chừa lại phần 0,5m theo yêu cầu bà H. Đối với yêu cầu bồi thường về việc sụp lún nhà tôi không đồng ý, vì phần nhà bà H xây dựng trước tôi. Khi tôi cất nhà, thì tôi không có đóng cừ, chỉ làm nhà tiền chế. Nên không có việc ảnh hưởng đến nền móng của bà H.
Người có người quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Trương Kim L trình bày ý kiến:
Tôi là vợ của ông Hồng Thiện K, nhà của ông Hồng Thiện K có trước năm
3
1975. Sau năm 1975, nhà nước có thu hồi một phần đất, cậu tôi là Trần Văn Q1, cùng cha mẹ chồng tôi là Hồng H2 và Trần Tú L1 có hùn vốn xây dựng nhà máy, có chia một căn nhà giáp với nhà của bà Trần Thị H (mẹ ruột là bà Lý Thị D). Trước đó, ông Q1 có xây dựng đường ranh thẳng kéo dài xuống bờ kè sông để làm ranh giới giữa hai nhà. Năm 1990, tôi mới cất thêm nhà sàn ra bờ sông để buôn bán liền mí với nhà trước. Đến năm 2016, nhà nước làm bờ kè sông bà H cất nhà hết phần đất bà H, chừa đường nước giáp với nhà tôi chỉ còn 2 tất. Đến năm 2019, tôi mới bơm cát lắp nền vì sàn nhà tôi dưới bờ sông không phải đất liền. Khi tôi bơm cát khoảng 04 tháng sau mới cất nhà vì sợ lún. Lúc tôi bơm cát thì ông Q, bà H vẫn có mặt, lúc bơm nếu có sụp lún thì ông Q bà H yêu cầu tôi bồi thường hoặc yêu cầu chính quyền địa phương lập biên bản. Ông Q không có yêu cầu chính quyền địa phương lập biên bản, sau 08 năm tôi sử dụng mới yêu cầu bồi thường là không phù hợp. Nguyên nhân sụp lún nhà bà H là do bà H làm móng không kiên cố, xây tường cao đến 3m. Quá trình sử dụng đất, khi tôi xây dựng nhà, bà H có yêu cầu chừa ra 2 tất tôi đã làm theo đúng yêu cầu của bà H và bà H cũng không ngăn cản. Năm 2021, bà H khởi kiện, Tòa án tiến hành xem xét thẩm định tại chổ và yêu cầu gia đình tôi giữ nguyên hiện trạng. Nhưng đến năm 2022, căn nhà phí trước xuống cấp nên tôi có sửa chữa lại nhà tiền chế, tôi và bà H, ông Q có thỏa thuận chừa lại một phần đất để sau này có sửa chữa đường ống nước, tôi cũng đã làm theo yêu cầu của bà H và ông Q. Hiện tại, theo giấy tờ đất tôi đang giữ, thì gia đình tôi được sử dụng tổng cộng là 215m², nhưng đo đạc lại chỉ còn 208,1m² nên tôi không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Người có người quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án bà Hồng Thị Ú trình bày ý kiến:
Bà Hồng Thị Ú trình bày thống nhất với phần trình bày của bị đơn về nguồn gốc phần đất tranh chấp. Phần đất ông Hồng Thiện K đang sử dụng là do cha tôi ông Hồng H2 đứng tên trên sổ bộ, đối với việc bà Trần Thị H cho rằng ông K lấn ranh và yêu cầu ông K trả lại phần đất lấn chiếm và bồi thường sụp lún căn nhà thì bà Ú không đồng ý, vì ông K đã sử dụng đúng hiện trạng vị trí ranh đất như ban đầu do cha mẹ chết để lại. Bà Ú có yêu cầu Tòa án giải quyết vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án.
Người có người quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án bà Hồng Thị N1 trình bày ý kiến:
Đối với vụ việc tranh chấp giữa ông Hồng Thiện K và bà Trần Thị H tôi không có ý kiến và yêu cầu gì, tôi yêu cầu Tòa án giải quyết vắng mặt tôi trong suốt quá trình giải quyết vụ án.
4
Người có người quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án ông Hồng Văn N trình bày ý kiến:
Ông N trình bày thống nhất với phần trình bày của bị đơn ông Hồng Thiện K và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án bà Trương Kim L về nguồn gốc phần đất tranh chấp. Phần đất ông Hồng Thiện K đang sử dụng là do cha tôi ông Hồng H2 hùn với ông Trần Văn Q1 làm nhà máy. Phần đất ông Q1 sử dụng đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, phần ông Hồng H2 chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, ông K ở chung với cha mẹ trên phần đất này từ nhỏ cho đến nay. Bà Trần Thị H cho rằng ông K lấn ranh là không đúng. Ông N có yêu cầu Tòa án giải quyết vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án.
Người có người quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án bà Hồng Thị X, Hồng Văn H1 đã được Toà án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt, chưa ghi nhận được ý kiến.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án:
Về tố tụng: Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, Hội đồng xét xử, Thư ký, chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, đảm bảo được quyền và lợi ích hợp pháp cho đương sự.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử: Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trần Thị H.
Về án phí chi phí tố tụng, án phí nguyên đơn bà Trần Thị H phải chịu theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền: Nguyên đơn bà Trần Thị H khởi kiện bị đơn ông Hồng Thiện K tranh chấp quyền sử dụng đất nên xác định quan hệ tranh chấp trong vụ án là tranh chấp đất đai. Vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Long Mỹ theo quy định tại khoản 9 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 203 Luật đất đai 2013.
[2] Tại phiên tòa, vắng mặt người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Hồng Văn N, Hồng Thị N1, Hồng Thị Ú có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, ông Hồng Văn H1, bà Hồng Thị X đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng
5
mặt không có lý do. Căn cứ quy định tại Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự; Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với những người tham gia tố tụng nêu trên.
[3] Đối với Hồng Văn T bị đơn không cung cấp được địa chỉ, qua xác minh tại địa phương không rõ địa chỉ nên không đưa vào với tư cách người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan. Đối với ông Phạm Hồng Q là chồng của bà H xác định phần đất có nguồn gốc do mẹ ruột là bà Lý Thị D, bà Trần Thị H được thừa kế, trong vụ án này ông thống nhất để bà H đứng ra giải quyết tranh chấp, ông không có ý kiến yêu cầu gì, không yêu cầu đưa ông Q tham gia tối tụng với tư cách là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan nên chấp nhận.
[4] Về nội dung giải quyết vụ án: Yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Hồng Thiện K tháo dở di dời công trình trả lại phần đất tranh chấp vị trí (II) có diện tích 25,3m² theo Mảnh trích đo địa chính số 78/SHC ngày 28/12/2023 của Công ty trách nhiệm hữu hạn Đ. Buộc bị đơn phải bồi thường theo quy định pháp luật đối với phần căn nhà bị sụp lún.
[5] Đối với yêu cầu buộc bị đơn phải bồi thường theo quy định pháp luật đối với phần căn nhà bị sụp lún. Xét thấy đơn khởi kiện ban đầu nguyên đơn có yêu cầu Tòa án giải quyết nội dung này, đến ngày ngày 30/6/2021, nguyên đơn rút lại yêu cầu này do không có khả năng nộp tạm ứng chi phí tố tụng theo quy định. Đến ngày 14/6/2024, tại phiên hòa giải nguyên đơn tiếp tục yêu cầu Tòa án giải quyết, yêu cầu này được đưa ra tại phiên họp công khai chứng cứ và hòa giải là vượt quá phạm vi khởi kiện ban đầu theo Điều 188 Bộ luật tố tụng dân sự nên không xem xét giải quyết. Tại phiên toà, đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn rút lại một phần yêu cầu khởi kiện về việc yêu cầu bị đơn khắc phục sụp lún, nghiên căn nhà nên căn cứ Điều 217 Bộ luật tố tụng hình sự Hội đồng xét xử đình chỉ giải quyết một phần yêu cầu khởi kiện đã rút của nguyên đơn.
[6] Xét về nguồn gốc phần đất tranh chấp: Đối với nguyên đơn bà Trần Thị H sử dụng phần đất có diện tích 200m² đất thổ cư, thuộc thửa đất 92 thuộc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH02198 ngày 04 tháng 11 năm 2011do Ủy ban nhân dân huyện L cấp cho bà Trần Thị H và 118,5m², loại đất CLN, thuộc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00204 ngày 05 tháng 8 năm 2003 do Ủy ban nhân dân huyện L cấp cho Lý Thị D, ngày 19/01/2015 chỉnh lý biến động sang tên bà Trần Thị H, phần đất tọa lạc tại Khu vực Bình Thạnh B, phường B, thị xã L, tỉnh Hậu Giang.
[7] Đối với ông Hồng Thiện K, sử dụng phần đất do cha là ông Hồng Q, mẹ là Trần Tú L1 tạo lập, đứng tên trên sổ bộ chưa được cấp giấy chứng nhận
6
quyền sử dụng đất. Căn cứ công văn số 741/CN.TXLM ngày 08/12/2021 của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai thị xã L xác định: “Đối với phần đất ông Hồng Thiện K sử dụng, theo sổ mục kê đất đai chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thể hiện số thửa 93, diện tích 232,6m² thể hiện tên Hồng H2. Tuy nhiên, diện tích 232,6m², đã được thu hồi một phần diện tích đất là 24,7m², thuộc dự án kè chống sạc lỡ hai bên Sông C huyện L, tỉnh Hậu Giang, có số hiệu thửa 221, do ông Hồng Thiện K đang quản lý sử dụng”.
[8] Đối chiếu diện tích trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất bà H được cấp với thực tế phần đất đo đạc phần diện tích bà H sử dụng ổn định là 396,8m². Trong đó, phần đất 197,1 m² thuộc thửa 92, loại đất ODT, phần đất 199,7 m², thuộc thửa 162, loại đất CLN. Trong đó có 83 m² đất thuộc chỉ giới quy hoạch giao thông. So với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất bà H được cấp với diện tích 200m² đất thổ cư, và 118,5m². Như vậy, sau khi trừ phần đất thuộc hành lang lộ giới thì tại thửa 92 còn thiếu 2,9 m², thửa 162 còn thiếu 1,8 m².
[9] Đối với Hồng Thiện Khiêm sử dụng phần đất số thửa 93, có tổng diện tích đo đạc thực tế 208,1m², trong đó có 37,5m², thuộc chỉ giới quy hoạch giao thông đường T. Căn cứ diện tích đất tại thửa 93 do ông Hồng H2 sử dụng là 232,6m², sau khi khấu trừ diện tích đất là 24,7 m², thuộc dự án kè chống sạc lỡ hai bên Sông C huyện L, tỉnh Hậu Giang, thì phần đất còn lại có diện tích là 207,9m. Như vậy sau khi khấu trừ phần đất thuộc chỉ giới quy hoạch giao thông thực tế ông K chỉ sử dụng 170,6m² nếu cộng thêm phần đất tranh chấp 25,3m² thì phần đất ông K sử dụng chỉ 195,9m², còn thiếu 12 m².
[10] Đối chiếu giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp, về hình thể, ranh giới theo hiện trạng đã có trụ đá cố định ở mặt phía trước tiếp giáp đường T và diện tích đất thực tế mà các các bên sử dụng thực tế thì bà H sử dụng đất còn thiếu so với quyền sử dụng đất được cấp nhưng không nhiều, tổng diện tích đất còn thiếu là 4,7m², trong đó, tại thửa 92 thiếu 2,9m², thửa 162 còn thiếu 1,8m². Ông Hồng Thiện K sử dụng đất tại thửa 93 có số hiệu thửa là 221 tên chủ sử dụng Hồng H2 sau khi tính luôn phần đất tranh chấp vẫn còn thiếu 12m². Ông K đã sử dụng đúng vị trí phần đất theo ranh giới ổn định từ trước đến nay, việc bà H còn thiếu tổng 4,7m² là không nhiều, việc thiếu là do có sự sai lệch giữa giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp và thực tế sử dụng đất. Do đó, không có cơ sở chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị H về việc buộc ông Hồng Thiện K tháo dở di dời công trình và trả lại phần đất có vị trí (II) có diện tích 25,3m² theo Mảnh trích đo địa chính số 78/SHC ngày 28/12/2023 của Công ty trách nhiệm hữu hạn Đ.
7
[11] Đối với ông Hồng Thiện K sử dụng đất có nguồn gốc do cha mẹ là ông Hồng Q và bà Trần Tú L1 chết để lại, ông H2, bà L1 chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Hiện tại phần đất do ông K và bà L trực tiếp quản lý và sử dụng, các đồng thừa kế của ông H2 bà L1 chưa ghi nhận được ý kiến đầy đủ, ông K cũng không có yêu cầu phản tố nên không xem xét.
[11] Về chi phí tố tụng: Chi phí đo đạc, thẩm định giá với tổng số tiền 7.950.000đồng bà Trần Thị H phải chịu. Bà H đã nộp xong.
[12] Về án phí: Căn cứ Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 nguyên đơn phải chịu với số tiền là: 300.000đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
[1] Căn cứ các Điều 5, khoản 9 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, 147, 157, 165, 217, 227, 228, 271, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 5, khoản 7, Điều 166, Điều 203 Luật đất đai 2013; Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
[2] Tuyên xử: Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trần Thị H về việc yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Hồng Thiện K tháo dở di dời công trình và trả lại phần đất có vị trí (II) có diện tích 25,3m² theo Mảnh trích đo địa chính số 78/SHC ngày 28/12/2023 của Công ty trách nhiệm hữu hạn Đ (kèm theo mảnh trích đo địa chính).
[3] Về chi phí tố tụng: Bà Trần Thị H phải chịu 7.950.000đồng (bảy triệu chín trăm năm mươi nghìn đồng), bà H đã nộp xong.
[4] Về án phí dân sự sơ thẩm: bà Trần Thị H phải chịu số tiền 300.000đồng (ba trăm nghìn đồng). Bà Trần Thị H được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000đồng (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0005206 ngày 22/02/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang thành tiền án phí, bà H đã nộp xong.
[5] Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án, hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
8
[6] Nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Lê Thị Diệu |
9
Bản án số 80/2024/DS-ST ngày 20/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ LONG MỸ, TỈNH HẬU GIANG về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Số bản án: 80/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/09/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ LONG MỸ, TỈNH HẬU GIANG
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: bác yêu cầu
