Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN GIA VIỄN

TỈNH NINH BÌNH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số 80/2023/HS-ST

Ngày 26 tháng 12 năm 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIA VIỄN, TỈNH NINH BÌNH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: ông Đinh Xuân Tưởng.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Hoàng Quốc Trị.
  2. Ông Đinh Công Hiến.

Thư ký phiên toà: ông Đoàn Thanh Minh - Thư ký Toà án nhân dân huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình tham gia phiên toà: bà Vũ Như Trang - Kiểm sát viên.

Ngày 26/12/2023, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 84/2023/TLST- HS ngày 01/12/2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 80/2023/QĐXXST- HS ngày 14/12/2023, đối với bị cáo:

Họ và tên: Trần Như H, tên gọi khác: không, sinh năm 1987 tại xã P, huyện N, tỉnh Ninh Bình; nơi cư trú: thôn D, xã P, huyện N, tỉnh Ninh Bình; nghề nghiệp: làm ruộng; trình độ văn hóa: lớp 9/12; dân tộc: kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Như Đ (đã chết) và bà Nguyễn Thị C; vợ là Nguyễn Thị Thu G và có 03 con, con lớn nhất sinh năm 2011, con nhỏ nhất sinh năm 2015; tiền án: tại Bản án số 10, ngày 06/5/2021 của Tòa án nhân dân huyện Yên Thủy, tỉnh Hòa Bình xử phạt Trần Như H 15 tháng tù giam về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Bị cáo chấp hành xong Bản án ngày 19/02/2022; tiền sự: không; Nhân thân: (1) tại Quyết định 32 ngày 25/5/2009, Công an huyện G ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính 200.000 đồng về hành vi: “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong quyết định ngày 25/5/2009; (2) tại Quyết định số 117 ngày 24/6/2014, Công an huyện G ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính 500.000 đồng về hành vi: “Sử dụng trái phép chất ma túy”, chấp hành xong quyết định ngày 27/6/2014; (3) tại Quyết định số 20, ngày 31/12/2016 Công an huyện G ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính 3.000.000 đồng về hành vi: “Trộm cắp tài sản và tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”, chấp hành xong quyết định ngày 04/01/2017; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 08/9/2023, chuyển tạm giam ngày 15/9/2023 tại Trại tạm giam Công an tỉnh N cho đến nay. Có mặt.

Người làm chứng: ông Vũ Văn T và anh Dư Mạnh T1. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trần Như H sử dụng trái phép chất ma túy từ năm 2018 đến nay. Khoảng 08 giờ 30 phút, ngày 08/9/2023, do có nhu cầu sử dụng ma túy, H đi bộ từ nhà đẻ ở thôn V, xã G, huyện G ra đầu đường B- B, đi nhờ xe mô tô của một người đi đường đến bến đò Gián Khẩu, xã G, huyện G thì xuống xe. Hiểu đi đò sang khu vực huyện Ý, tỉnh Nam Định rồi đi bộ thêm khoảng 200m. Hiểu nhìn thấy một người đàn ông không quen biết đang đang đứng ven đường đê, H đến gần và nói: “Bán cho em hai trăm trắng”, ý H hỏi mua 200.000 đồng tiền ma túy, loại heroine, đồng thời lấy ra số tiền 200.000 đồng đưa cho người đàn ông. Người đàn ông cầm tiền rồi điều khiển xe mô tô đi khoảng 10 phút sau quay lại, đưa cho H 01 gói nhỏ được gói ngoài bằng giấy lịch mầu trắng, mở ra bên trong chứa chất bột dạng cục mầu trắng. Xác định là heroine, H bỏ vào túi quần đang mặc rồi đi bộ quay trở lại khu vực huyện G và đi nhờ xe của người đi đường để về nhà. Đến khoảng 09 giờ 50 phút cùng ngày, khi H xuống xe và đi bộ tại khu vực đường ĐT 477 thuộc địa phận thôn P, xã G, huyện G thì gặp tổ công tác Công an huyện G phối hợp với Công an xã G, Công an xã G làm nhiệm vụ yêu cầu kiểm tra. Biết không thể che giấu hành vi phạm tội của mình, H tự nguyện lấy từ túi quần ra giao nộp cho lực lượng Công an 01 gói ma túy vừa mua được và khai nhận đó là H1, H mua về nhằm mục đích sử dụng. Lực lượng Công an thu giữ và niêm phong gói ma túy có đặc điểm nêu trên của Hiểu, ngoài ra không thu giữ bất kỳ đồ vật, tài sản nào. Sau đó tổ công tác đưa Trần Như H cùng vật chứng về trụ sở UBND xã G lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện G đã tiến hành cân xác định khối lượng chất bột dạng cục màu trắng thu giữ của Trần Như H, có khối lượng là 0,146 gam, lấy mẫu giám định ký hiệu M để gửi đi xác định khối lượng và giám định chất ma túy.

Tại bản Kết luận giám định số 740/KL-KTHS-MT ngày 15/9/2023 của Phòng K Công an tỉnh N, kết luận: Mẫu gửi giám định ký hiệu M có khối lượng 0,1427 gam là ma túy, loại Heroine. Heroine có tên khoa học là D, được quy định tại Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) là chất ma túy được quy định tại Danh mục IA, số thứ tự 9; Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ.

Tại Bản cáo trạng số 84/CT-VKS-GV ngày 30/11/2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện Gia Viễn đã truy tố Trần Như H ra trước Tòa án nhân dân huyện Gia Viễn để xét xử về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo điểm c khoản 1, khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, Viện kiểm sát nhân dân huyện Gia Viễn vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị HĐXX: tuyên bố bị cáo Trần Như H phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm h khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Trần Như H từ 17 tháng đến 19 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ ngày 08/9/2023.

Về xử lý vật chứng và áp dụng biện pháp tư pháp: áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: tịch thu tiêu hủy 01 phong bì ghi số 740/KL-KTHS-MT, bên trong gồm: Chất bột mầu trắng còn lại trong mẫu gửi giám định ký hiệu M có khối lượng 0,0903 gam là ma túy, loại Heroine, toàn bộ vỏ bao gói niêm phong; 01 phong bì dán kín niêm phong theo quy định, bên trong gồm: 01 mảnh giấy lịch mầu trắng, 01 vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu.

Về án phí: áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, bị cáo Trần Như H khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, như cáo trạng đã truy tố. Bị cáo cho rằng việc truy tố của Viện kiểm sát là đúng người đúng tội, đồng ý với luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gia Viễn tại phiên toà về việc giải quyết vụ án. Nói lời sau cùng, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự người phạm tội thành khẩn khai báo, bố bị cáo được thưởng huy chương kháng chiến hạng nhì theo quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 BLHS.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Lời nhận tội của bị cáo H tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố, phù hợp với lời khai của người làm chứng và người chứng kiến, phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ, Kết luận giám định số 740/KL-KTHS-MT ngày 15/9/2023 của Phòng K Công an tỉnh N và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy có đủ cơ sở kết luận: Hồi 09 giờ 50 phút, ngày 08/9/2023, tại khu vực đường Đ, thuộc địa phận thôn P, xã G, huyện G, tỉnh Ninh Bình, bị cáo H đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,1427 gam Heroine với mục đích sử dụng, bị bắt quả tang.

[2] Bị cáo Trần Như H là người có năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi tàng trữ ma túy trong người để sử dụng cho bản thân là trái phép, là cố ý và nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ quản lý của Nhà nước đối với chất ma túy, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trị an trên địa phương.

Điều 249 của Bộ luật hình sự quy định về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý".

1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma tuý mà không nhằm mục đích mua bán vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma tuý thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

a) ......

c) Heroine, C1, Methamphetamine, Amphetamine, ADMA hoặc XLR-11 có khối lượng 0,1gam đến dưới 05gam.

Như vậy, khối lượng ma tuý loại Heroine mà bị cáo tàng trữ được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự, do đó hành vi của bị cáo H đã đủ yếu tố cấu thành tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, Viện kiểm sát nhân dân huyện G truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân:

Về tình tiết tăng nặng: bị cáo có 01 tiền án chưa được xóa án tích lại tiếp tục phạm tội nên lần phạm tội này thuộc trường hợp tái phạm được quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ: trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình, bố bị cáo là ông Trần Như Đ được thưởng huy chương kháng chiến hạng nhì. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo được quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về nhân thân: bị cáo H có nhân thân xấu, đã nhiều lần bị cơ quan Nhà nước có thẩm quyền xử phạt hành chính về hành vi: “Trộm cắp tài sản”, “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” và hành vi: “Sử dụng trái phép chất ma túy”.

[4] Về hình phạt: xét tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, khối lượng, loại chất ma túy bị cáo H đã tàng trữ. Hội đồng xét xử xét thấy mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gia Viễn đề nghị xử phạt đối với bị cáo là tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo đủ nghiêm khắc giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành công dân sống có ích cho bản thân, đồng thời bảo đảm tác dụng răn đe, phòng ngừa chung cho xã hội.

[5] Về hình phạt bổ xung: bị cáo H mua ma tuý với mục đích để sử dụng cho bản thân không mang tính chất vụ lợi. Vì vậy không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung phạt tiền đối với bị cáo.

[6] Về xử lý vật chứng và áp dụng biện pháp tư pháp:

Đối với 01 phong bì ghi số 740/KL-KTHS-MT, bên trong gồm: Chất bột mầu trắng còn lại trong mẫu gửi giám định ký hiệu M có khối lượng 0,0903 gam là ma túy, loại Heroine, toàn bộ vỏ bao gói niêm phong; 01 phong bì dán kín niêm phong theo quy định, bên trong gồm: 01 mảnh giấy lịch mầu trắng, 01 vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu là vật chứng của vụ án không còn giá trị sử dụng. Do vậy căn cứ c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy.

[7] Về nguồn gốc số ma túy, bị cáo H khai nhận sáng ngày 08/9/2023 tại khu vực huyện Ý, tỉnh Nam Định, bị cáo đã mua ma tuý của người đàn ông không quen biết, không rõ tên tuổi, địa chỉ. Do vậy không đủ cơ sở để xác minh làm rõ.

[8] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện G, điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện G, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, Quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và những người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và những người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

[9] Về án phí: bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[10] Về quyền kháng cáo: bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

  • - Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm h khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
  • - Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; các điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
  • - Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  1. Tuyên bố bị cáo Trần Như H phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý".
  2. Xử phạt: bị cáo Trần Như H 17 (Mười bảy) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ 08/9/2023.

  3. Về xử lý vật chứng và áp dụng biện pháp tư pháp: tịch thu tiêu hủy 01 phong bì ghi số 740/KL-KTHS-MT, bên trong gồm: Chất bột mầu trắng còn lại trong mẫu gửi giám định ký hiệu M có khối lượng 0,0903 gam là ma túy, loại Heroine, toàn bộ vỏ bao gói niêm phong; 01 phong bì dán kín niêm phong theo quy định, bên trong gồm: 01 mảnh giấy lịch mầu trắng, 01 vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu.
  4. Chi tiết các vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 05/12/2023 giữa Chi cục Thi hành án dân sự huyện Gia Viễn và Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện G.

  5. Về án phí: bị cáo Trần Như H phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Người phải thi hành án, người được thi hành án, có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án, thỏa thuận thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7a, 7b, 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Án xử công khai sơ thẩm, bị cáo có mặt có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Ninh Bình;
  • - VKSND tỉnh Ninh Bình;
  • - VKSND huyện Gia Viễn;
  • - Trại tạm giam CA tỉnh Ninh Bình;
  • - Công an huyện Gia Viễn;
  • - Chi cục THADS huyện Gia Viễn;
  • - Bị cáo, người tham gia tố tụng khác;
  • - Lưu HS, VP;
  • (Thông báo cho chính quyền
  • địa phương nơi bị cáo cư trú).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đinh Xuân Tưởng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 80/2023/HS-ST ngày 26/12/2023 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIA VIỄN, TỈNH NINH BÌNH về tàng trữ trái phép chất ma tuý

  • Số bản án: 80/2023/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma tuý
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/12/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIA VIỄN, TỈNH NINH BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trần Như Hiểu PT tàng trữ trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger