|
TAND HUYỆN TAM ĐƯỜNG TỈNH LAI CHÂU Bản án số: 80/2023/HS-ST Ngày 30/9/2023 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM ĐƯỜNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Dương Thanh Bắc.
Các hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Thủy.
Ông Phan Văn Sân.
- Thư ký phiên toà: Bà Hà Thị Thủy – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tam Đường, tỉnh Lai Châu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Đường tham gia phiên toà: Bà Đinh Thị Huế - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 9 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tam Đường, tỉnh Lai Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 81/2023/TLST-HS ngày 15 tháng 9 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 80/2023/QĐXXST-HS ngày 18/9/2023 đối với bị cáo:
Họ và tên: Phạm Văn T; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam;
Sinh ngày 01/01/1982;Tại: huyện T, tỉnh Lai Châu;
Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Bản T, thị trấn T, huyện T, tỉnh Lai Châu; Quốc tịch: Việt Nam; Dân Tộc: Thái; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 4/12; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Con ông: Phạm Văn T1 (đã chết); Con bà: Lò Thị H, sinh năm 1952; Gia đình bị cáo có 08 anh, chị, em; bị cáo là con thứ sáu; có vợ là: Hoàng Thị H1, sinh năm 1982; có 03 con (con lớn nhất sinh năm 2001, con nhỏ nhất sinh năm 2008); Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 10/6/2023 đến ngày 16/6/2023 bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, giao bị cáo cho UBND thị trấn T quản lý, theo dõi cho đến nay “có mặt”.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Phạm Văn T, sinh ngày 01/01/1982, trú tại bản T, thị trấn T, huyện T, tỉnh Lai Châu, T khai bản thân là người nghiện chất ma túy. Khoảng 21 giờ 00 phút ngày 09/6/2023, T một mình đi bộ từ nhà đến khu dân cư thuộc bản T, thị trấn T, huyện T, mục đích tìm mua ma túy về sử dụng. Tại bản T, T mua của một người đàn ông không rõ lai lịch 01 gói Heroine giá 300.000 đồng (gói bằng nilon màu xanh đốt dính một đầu). Mua được H2, T cầm trong tay trái rồi đi về nhà. Hồi 21 giờ 30 phút ngày 09/6/2023, khi Phạm Văn T đang trên đường về đến khu vực bãi đá thuộc bản T, thị trấn T, huyện T thì bị Công an thị trấn T, huyện T phát hiện, thu giữ niêm phong vật chứng và lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Phạm Văn T về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy, vật chứng thu giữ của T là 01 gói Heroine được gói bằng nilon màu xanh đốt dính một đầu. Sau đó, Công an thị trấn T bàn giao người bị bắt và tài liệu liên quan cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T để giải quyết theo thẩm quyền.
Tại bản Kết luận giám định tư pháp số 53 ngày 10/6/2023 của người giám định theo vụ việc kết luận: số chất bột màu trắng thu giữ của Phạm Văn T có tổng khối lượng là: 0,27 gam. Tại bản Kết luận giám định số 740 ngày 11/6/2023 của Phòng K Công an tỉnh L kết luận: mẫu chất bột màu trắng gửi giám định là ma túy, loại Heroine (H).
Bản cáo trạng số 73/CT-VKSTĐ, ngày 15/9/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Đường truy tố bị cáo Phạm Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về kết luận và bản cáo trạng nêu trên.
Tại phiên tòa, vị đại diện Viện kiểm sát huyện T đánh giá như sau: Quá trình điều tra, truy tố, đối với bị cáo Phạm Văn T giữ nguyên quyết định truy tố về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS.
Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Phạm Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Về hình phạt: Đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Phạm Văn T từ 18 tháng tù đến 24 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, bị cáo được khấu trừ 06 ngày bị tạm giữ. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đến cơ sở giam giữ chấp hành án. Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Đề nghị tịch thu tiêu hủy: Một phong bì công văn do Công an huyện T niêm phong lại bằng cách dán kín các mép dán phong bì bằng tờ giấy niêm phong màu trắng từ mặt sau ra mặt trước. Trên các mép dán của mảnh giấy niêm phong có các chữ ký và ghi rõ họ tên của: Lò Văn Q, Phan Văn H3, Lê Trọng V, Đinh Thị H4, Cà Văn C và Phạm Văn T. Mặt trước phong bì ghi: “Vật chứng còn lại 0,19 gam cùng phong bì niêm phong, mảnh nilon màu xanh gói vật chứng ban đầu thu giữ của Phạm Văn T, sinh năm 1982, trú tại bản Thác Cạn, TT T, huyện T, tỉnh Lai Châu ngày 09/6/2023”. Trên mép dán của tờ giấy niêm phong ở bốn góc mặt trước phong bì đóng bốn hình dấu tròn màu đỏ của Cơ quan CSĐT Công an huyện T.
Áp dụng Điều 135, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo Phạm Văn T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Bị cáo Phạm Văn T không có tranh luận gì với quan điểm luận tội của Kiểm sát Viên.
Tại lời nói sau cùng bị cáo Phạm Văn T xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện T, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Hành vi phạm tội của bị cáo; tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Tại phiên tòa hôm nay cũng như quá trình điều tra bị cáo Phạm Văn T đã thành khẩn khai nhận về hành vi phạm tội của mình. Lời nhận tội của bị cáo đều phù hợp với các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ. Như vậy đã có đủ căn cứ khẳng định: Hồi 21 giờ 30 phút ngày 09/6/2023, tại bản T, thị trấn T, huyện T, tỉnh Lai Châu, Phạm Văn T đang thực hiện hành vi tàng trữ trái phép 01 gói Heroine có khối lượng 0,27 gam, mục đích để sử dụng thì bị Công an thị trấn T bắt quả tang.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của nhà nước về chất ma túy, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo có đủ điều kiện nhận biết ma túy là độc dược gây nghiện, làm tổn hại cho sức khỏe, nhân phẩm của con người và là nguyên nhân dẫn đến các tệ nạn xã hội và tội phạm khác. Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là bị pháp luật nghiêm cấm, nhưng vẫn thực hiện với lỗi cố ý. Như vậy, đủ cơ sơ để khẳng định hành vi của bị cáo Phạm Văn T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
Vì vậy, quan điểm xử lý trách nhiệm hình sự của vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là hoàn toàn có cơ sở, không oan sai, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Về các tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.
Trên cơ sở tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, xét thấy cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để răn đe, giáo dục, cải tạo bị cáo thành công dân có ích cho xã hội.
[3] Về hình phạt bổ sung:
Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung. Tuy nhiên, theo các tài liệu chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa đều cho thấy bị cáo nghề nghiệp làm ruộng, thu nhập không ổn định. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[4] Vật chứng của vụ án: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
Đối với: Một phong bì công văn do Công an huyện T niêm phong lại bằng cách dán kín các mép dán phong bì bằng tờ giấy niêm phong màu trắng từ mặt sau ra mặt trước. Trên các mép dán của mảnh giấy niêm phong có các chữ ký và ghi rõ họ tên của: Lò Văn Q, Phan Văn H3, Lê Trọng V, Đinh Thị H4, Cà Văn C và Phạm Văn T. Mặt trước phong bì ghi: “Vật chứng còn lại 0,19 gam cùng phong bì niêm phong, mảnh nilon màu xanh gói vật chứng ban đầu thu giữ của Phạm Văn T, sinh năm 1982, trú tại bản Thác Cạn, TT T, huyện T, tỉnh Lai Châu ngày 09/6/2023”. Trên mép dán của tờ giấy niêm phong ở bốn góc mặt trước phong bì đóng bốn hình dấu tròn màu đỏ của Cơ quan CSĐT Công an huyện T, đây là công cụ bị cáo dùng vào việc phạm tội, là vật nhà nước cấm tàng trữ lưu hành và vật không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
[5] Những vấn đề liên quan:
Về nguồn gốc ma túy, bị cáo Phạm Văn T khai mua của một người đàn ông không rõ lai lịch. Do đó, Cơ quan điều tra không có căn cứ để điều tra, làm rõ.
[6] Án phí:
Áp dụng Điều 135, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo Phạm Văn T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào điểm c khoản 1, khoản 5 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự; Điều 135, khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phạm Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Phạm Văn T 18 (mười tám) tháng tù, bị cáo được khấu trừ thời gian tạm giữ từ ngày 10/6/2023 đến ngày 16/6/2023 là 06 (sáu) ngày. Bị cáo còn phải chấp hành 17 (mười bảy) tháng 24 (hai mươi bốn) ngày tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo đến cơ sở giam giữ chấp hành hình phạt tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- Về vật chứng của vụ án: Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy: Một phong bì công văn do Công an huyện T niêm phong lại bằng cách dán kín các mép dán phong bì bằng tờ giấy niêm phong màu trắng từ mặt sau ra mặt trước. Trên các mép dán của mảnh giấy niêm phong có các chữ ký và ghi rõ họ tên của: Lò Văn Q, Phan Văn H3, Lê Trọng V, Đinh Thị H4, Cà Văn C và Phạm Văn T. Mặt trước phong bì ghi: “Vật chứng còn lại 0,19 gam cùng phong bì niêm phong, mảnh nilon màu xanh gói vật chứng ban đầu thu giữ của Phạm Văn T, sinh năm 1982, trú tại bản Thác Cạn, TT T, huyện T, tỉnh Lai Châu ngày 09/6/2023”. Trên mép dán của tờ giấy niêm phong ở bốn góc mặt trước phong bì đóng bốn hình dấu tròn màu đỏ của Cơ quan CSĐT Công an huyện T
(Tình trạng vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng vào hồi 15 giờ 00 phút ngày 15/9/2023 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T với Chi Cục thi hành án dân sự huyện Tam Đường).
- Về án phí: Bị cáo Phạm Văn T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án này lên Tòa án nhân dân cấp trên trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Dương Thanh Bắc |
Bản án số 80/2023/HS-ST ngày 30/09/2023 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM ĐƯỜNG về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 80/2023/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/09/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM ĐƯỜNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: TTTPCMT
