TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số:80/2023/HC-ST Ngày: 21/12/2023 V/v Khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Ngọc Minh.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đinh Công Danh và ông Võ Chùm
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thái – Thư ký TAND tỉnh Phú Yên.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Yên tham gia phiên tòa: Bà Ninh Thị Huyền - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 12 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hành chính thụ lý 16/2023/TLST-HC ngày 23 tháng 3 năm 2023 về việc “Khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 83/2023/QĐXXST-HC ngày 17 tháng 11 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 755/2023/QĐST-HC ngày 29 tháng 11 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên, giữa các đương sự:
- Người khởi kiện: Ông Trần Văn B – sinh năm 1948, bà Trần Thị Thanh H – sinh năm 1950.
- Người bị kiện:
- Ủy ban nhân dân thành phố T, tỉnh Phú Yên;
- Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh P; Vắng mặt, có văn bản đề nghị xét xử vắng mặt.
- Ủy ban nhân dân xã B, thành phố T. Vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai thành phố T; Vắng mặt
- Bà Nguyễn Thị P; địa chỉ; Thôn N, xã B, thành phố T, tỉnh Phú Yên;Vắng mặt.
- Ông Nguyễn Gia N – sinh năm 1977; địa chỉ: Thôn N, xã B, thành phố T, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt.
- Ông Nguyễn Tường T – sinh năm 1982; địa chỉ: Thôn N, xã B, thành phố T, tỉnh Phú Yên; Vắng mặt.
- Vợ chồng bà Nguyễn Thị Phụ H1 – sinh năm 1979, ông Hồ Văn T1 – sinh năm 1978; địa chỉ: Thôn N, xã B, thành phố T. Vắng mặt.
- Bà Phạm Thị Đ – sinh năm 1967; địa chỉ:Thôn N, xã B, thành phố T, tỉnh Phú Yên. Có mặt.
- Người làm chứng:
- Ông Nguyễn Thái H2 – sinh năm 1955; địa chỉ: Xóm F, thôn N, xã B, thành phố T, tỉnh Phú Yên; Vắng mặt.
- Ông Lê Văn M – sinh năm 1945; địa chỉ: Xóm F, thôn N, xã B, thành phố T, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt.
Địa chỉ: Thôn N, xã B, thành phố T, Phú Yên. Có mặt.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho UBND thành phố T: Bà Nguyễn Thị Bích D – Phó Phòng Tài nguyên và Môi trường thành phố T. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Người khởi kiện vợ chồng ông Trần Văn B, bà Trần Thị Thanh H thống nhất trình bày:
Vợ chồng ông Trần Văn B, bà Trần Thị Thanh H có 01 thửa đất số 1293, tờ bản đồ số 280-C diện tích khoảng 165m², tọa lạc tại thôn N, xã B, thành phố T; có nguồn gốc nhận chuyển nhượng gia đình bà Nguyễn Thị P (gồm bà Nguyễn Thị P, ông Nguyễn Gia N, Nguyễn Tường T), việc chuyển nhượng có viết giấy tay “giấy bán đất vườn” lập ngày 27/8/1998 có 02 người làm chứng ông Nguyễn Thái H2, ông Nguyễn V (đã chết).
Trên đất có 01 ngôi nhà cấp 4, tường gạch và ván gỗ, mái lợp tôn, ngói và trên đất hiện tại đang trồng hoa màu. Ngôi nhà này được xây dựng năm 1999. Hiện tại thì con gái tôi là Trần Thị Kim T2 đang ở trong ngôi nhà cấp 4 này. Thời điểm vợ chồng ông xây dựng nhà không bị chính quyền địa phương lập biên bản vi phạm hành chính
Ngày 16/11/2020 vợ chồng tôi nộp hồ sơ xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại bộ phận tiếp nhận và trả kết quả của UBND thành phố T. Chờ lâu không thấy kết quả giải quyết, vợ chồng tôi liên hệ tại Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả của UBND thành phố T để hỏi kết quả thì được biết hồ sơ bị trả lại. Đồng thời Bộ phận tiếp nhận trả kết quả của UBND thành phố T trả lại cho vợ chồng tôi toàn bộ hồ sơ kèm các văn bản sau: Công văn số 1179/CNVPĐKĐĐ ngày 28/7/2021 của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai thành phố T về việc chuyển trả hồ sơ. Văn bản số 997/ CNVPĐKĐĐ ngày 24/6/2021 của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai thành phố T; Văn bản số 134/UBND ngày 23/7/2021 của UBND xã B.
Do đó, vợ chồng ông B, bà H khởi kiện đến Tòa án yêu cầu:
- Hủy văn bản số 11 79/CNVPĐKĐĐ ngày 28/7/2021 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất thành phố T; hủy văn bản số 997/CNVPĐKĐĐ ngày 24/6/2021 của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai thành phố T; hủy văn bản số 134/UBND ngày 23/7/2021 của UBND xã B.
- Buộc Ủy ban nhân dân thành phố T và Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh P (đại diện cho Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai thành phố T) và UBND xã B tiến hành các trình tự, thủ tục để xem xét cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với hiện trạng diện tích đất vợ chồng ông Trần Văn B, bà Trần Thị Thanh H đang sử dụng tại thửa đất số 120, tờ bản đồ 280-C (đo đạc năm 1994), tọa lạc tại thôn N, xã B, thành phố T theo đúng quy định của pháp luật.
Người bị kiện UBND thành phố T trình bày:
Đối với nội dung yêu cầu toà tuyên bố hành vi hành chính của UBND thành phố T về việc không đồng ý cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất đối với thửa đất 1293, tờ bản đồ 280-C tại thôn N, xã B, thành phố T, tỉnh Phú Yên là trái pháp luật là không có sơ sở, bởi lẽ: Ngày 11/6/2021, Bộ phận Tiếp nhận và trả kết quả thuộc Văn phòng HĐND và UBND tiếp nhận hồ sơ đề nghị cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất của ông Trần Văn B và bà Trần Thị Thanh H tại thửa đất số số 1293,diện tích 165,5m², tờ bản đồ số 280-C toạ lạc tại thôn N, xã B, thành phố T. Trong ngày Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả đã chuyển hồ sơ của ông B bà H đến Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố T thực hiện các trình tự, thủ tục theo quy định tại Điều 18 Nghị định số 61/2018/NĐ-CP ngày 23/4/2018 của Chính phủ. Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 7 ban hành kèm theo Quyết định số 23/2019/QĐ-UBND ngày 25/6/2019 của UBND tỉnh P Quy định thời gian, trình tự thực hiện đăng ký, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất và phối hợp thực hiện một số nhiệm vụ liên quan đến lĩnh vực đất đai giữa các cơ quan có liên quan và Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh P và khoản 2 Điều 70 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP của Chính phủ. Ngày 24/6/2021, Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố T có Công văn số 997/CNVPĐKĐĐ về việc kiểm tra, họp xét và công khai hồ sơ đăng ký và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất của ông Trần Văn B và bà Trần Thị Thanh H, hộ khẩu thường trú thôn N, xã B, thành phố T đến UBND xã B để thực hiện các nhiệm vụ theo quy định. Thành phần hồ sơ gồm có:
- Đơn đăng ký, đề nghị cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất (bản chính)
- Mảnh trích đo chỉnh lý bản đồ địa chính số 03-2021 (bản chính)
- Giấy bán đất vườn ở ngày 27/8/1998 không có xác nhận của cơ quan có thẩm quyền (bản phô tô).
- Tờ khai lệ phí trước bạ, tờ khai tiền sử dụng đất ngày 04/01/2021 (bản chính).
Ngày 23/7/2021, UBND xã B có Công văn số 134/UBND về việc kiểm tra, niêm yết công khai hồ sơ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất đến Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố T, trong đó có nội dung “Hiện trạng sử dụng đất theo mảnh trích đo chỉnh lý bản đồ địa chính số 03-2021 do Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh P đo ngày 31/5/2021 trích đo không đúng hiện trạng sử dụng đất của ông Trần Văn B và bà Trần Thị Thanh H đang quản lý sử dụng phần diện tích đất phía Bắc thửa đất số 120, tờ bản đồ 280-C trong thửa đất có 205m² đất công ích, nhưng mảnh trích đo không thể hiện phần diện tích đất công ích do UBND xã quản lý và đo bao đường đi đối với cạnh phía Đông thửa đất. Qua kiểm tra hồ sơ cụ thể là sổ mục kê đất lập năm 1980 do ông Nguyễn Văn C đứng kê khai trong sổ mục kê nhưng giấy tờ mua bán do bà Nguyễn Thị P, ông Nguyễn Gia K và ông Nguyễn Tường T bán, còn một người con gái Nguyễn Thị Thụ P1 sinh năm 1979 không thấy tên trong giấy mua bán. Do đó hồ sơ đề nghị cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông Trần Văn B và bà Trần Thị Thanh H không đủ điều kiện để UBND xã B đưa ra họp xét và niêm yết công khai tại xã B theo quy định”. Do đó, ngày 28/7/2021, Chi nhánh Văn phòng Đ có Công văn số 1179/CNVPĐKĐĐ về việc chuyển trả hồ sơ đăng ký, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất của ông Trần văn B1, bà Trần Thị Thanh H cho Bộ phận Tiếp nhận và trả kết quả thuộc Văn phòng HĐND và UBND thành phố để chuyển trả cho công dân.
Như vây, việc tiếp nhận và giải quyết hồ sơ đề nghị cấp chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất của ông Trần Văn B và bà Trần Thị Thanh H được thực hiện theo đúng trình tự pháp luật quy định. Tuy nhiên, vì lý do “Hiện trạng sử dụng đất theo mảnh trích đo chỉnh lý bản đồ địa chính số 03-2021 do Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh P đo ngày 31/5/2021 trích đo không đúng hiện trạng sử dụng đất của ông Trần Văn B và bà Trần Thị Thanh H đang quản lý sử dụng phần diện tích đất phía Bắc thửa đất số 120, tờ bản đồ 280-C trong thửa đất có 205m² đất công ích, nhưng mảnh trích đo không thể hiện phần diện tích đất công ích do UBND xã quản lý” nên hồ sơ của ông bà chưa được giải quyết là đúng quy định.
Đối với nội dung ông Trần Văn B buộc UBND thành phố T tiến hành các thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại thửa đất số 1293,diện tích 165,5m², tờ bản đồ số 280-C toạ lạc tại thôn N, xã B, thành phố T. Từ lý do trả hồ sơ đã nêu tại nội dung 1, nên yêu cầu của ông Trần Văn B buộc UBND thành phố T tiến hành các thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại thửa đất số 1293,diện tích 165,5m², tờ bản đồ số 280-C toạ lạc tại thôn N, xã B, thành phố T là không có cơ sở để giải quyết.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai thành phố T trình bày:
Căn cứ khoản 2 Điều 70 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP và khoản 1 Điều 11 Thông tư số 25/2014/TT-BTNMT ngày 19/5/2014 của Bộ T4 thì trách nhiệm kiểm tra hiện trạng sử dụng đất và xác nhận hồ sơ đầu vào trước khi chuyển đến Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai thành phố T thực hiện các bước tiếp theo do UBND xã thực hiện và chịu trách nhiệm. Việc đo đạc không đúng hiện trạng sử dụng đất là do đơn vị đo đạc và người dẫn đạt là Công chức địa chính xã B hoặc cán bộ thôn, xóm... thực hiện và chịu trách nhiệm. Như vậy, tư cách người bị kiện ở đây là UBND xã B và đơn vị phối hợp thực hiện đo đạc hiện trạng sử dụng đất. Do đó, người khởi kiện yêu cầu hủy văn bản số 1179/CNVPĐKĐĐ ngày 28/7/2021 và văn bản số 997/CNVPĐKĐĐ ngày 24/6/2021 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố T là chưa đủ cơ sở.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Phạm Thị Đ trình bày:
Nguyên diện tích đất tôi được cấp GCNQSD Đ số CI 105928 do Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh P ngày 19/10/2017 tại thửa đất số 375, tờ bản đồ số 280-C (đo đạc năm 1994), diện tích 84,04m² tôi nhận chuyển nhượng của ông Nguyễn Tường L, Lê Thị B2 từ năm 2017 (khi đó đã được cấp GCNQSD Đ), có hợp đồng công chứng đầy đủ. Tôi là người dân gần đó nên biết việc mua bán đất vườn giữa bà P với ông Trần Văn B là trên 20 năm, việc mua bán là đúng sự thật. Sau khi mua bán thì ông B sử dụng để trồng hoa màu, diện tích đất này nằm liền kề giáp ranh với đất ở của ông B, bà H. Tại thời điểm chuyển nhượng thì theo tôi được biết trên diện tích của bà P chỉ có một ngôi nhà gốc của bà P (ngôi nhà hiện nay bà P đang ở chưa được cấp GCNQSDĐ). Giữa diện tích đất của bà Đ với diện tích đất ông B nhận chuyển nhượng của bà P năm 1998 không có tranh chấp, có ranh giới rõ ràng, nằm ở phía sau phía bắc của thửa đất của bà Đ. Đất ông B nhận chuyển nhượng là hợp pháp, sử dụng liên tục đề nghị tòa chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông B, bà H.
Người làm chứng Ông Lê Văn M trình bày:
Đám đất này của cha mẹ chồng của bà Nguyễn Thị P để lại cho vợ chồng bà P2 quản lý, trên đất này có căn nhà của cha mẹ chồng bà P. Sau này cha mẹ chồng bà P qua đời để lại đất thổ cư và nhà cửa lại cho vợ chồng bà P, tiếp sau đó chồng bà P qua đời, bà P bệnh đau chuyển nhượng phần đất thổ cư ở sau hậu lại cho ông Trần Văn B nhà sát bên.
Người làm chứng Ông Nguyễn Thái H2 trình bày:
Nguyên thủy đất hiện nay đang ở của bà P là cha mẹ chồng để lại cho vợ chồng bà được sử dụng. Sau khi chồng bị bệnh chết, một thời gian sau bà P bị bệnh nên cắt một phần đất thổ cư của gia đình bà bán cho ông B; giữa đất bà và đất ông B giáp ranh với nhau.
Tòa án đã tiến hành tổ chức phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và tiến hành đối thoại để các đương sự thống nhất với nhau về việc giải quyết vụ án, nhưng các bên đương sự vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, người bị kiện vẫn giữ nguyên quyết định hành chính bị kiện. Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên mở phiên tòa sơ thẩm xét xử công khai vụ án hành chính để Hội đồng xét xử xem xét, quyết định.
Tại phiên tòa:
Các bên đương sự vẫn giữ nguyên quan điểm trình bày.
Đại diện viện kiểm sát phát biểu tại phiên tòa: Việc tuân theo pháp luật của những người tham gia tố tụng, thành viên Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đúng quy định pháp luật; Về nội dung: Đề nghị HĐXX căn cứ điểm b, khoản 2, điều 193 Luật tố tụng hành chính chấp nhận toàn bộ yêu cầu của người khởi kiện vợ chồng ông Trần Văn B, bà Trần Thị Thanh H.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, lời trình bày của các đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khởi kiện, người bị kiện, đại diện viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Yên, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Người bị kiện Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh P, UBND thành phố T, UBND xã B và một số người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Đây là phiên tòa mở lần thứ hai. Căn cứ vào Điều 158 Luật tố tụng hành chính, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.
[2] Về đối tượng khởi kiện và thẩm quyền giải quyết của Tòa án:
Ngày 23/11/2022 người khởi kiện vợ chồng ông Trần Văn B, bà Trần Thị Thanh H nộp đơn khởi kiện tại TAND tỉnh Phú Yên yêu cầu:
- Hủy văn bản số 1179/CNVPĐKĐĐ ngày 28/7/2021 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất thành phố T; hủy văn bản số 997/CNVPĐKĐĐ ngày 24/6/2021 của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai thành phố T; hủy văn bản số 134/UBND ngày 23/7/2021 của UBND xã B.
- Buộc Ủy ban nhân dân thành phố T và Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh P (đại diện cho Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai thành phố T) và UBND xã B tiến hành các trình tự, thủ tục để xem xét cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với hiện trạng diện tích đất vợ chồng ông Trần Văn B, bà Trần Thị Thanh H đang sử dụng tại thửa đất số 120, tờ bản đồ 280-C (đo đạc năm 1994), tọa lạc tại thôn N, xã B, thành phố T theo đúng quy định của pháp luật.
Ngày 23/3/2023 TAND tỉnh Phú Yên thụ lý giải quyết vụ án hành chính là đúng quy định tại điều 32, điều 116 và Điều 129 Luật tố tụng hành chính.
[3] Xét quá trình quản lý, sử dụng thửa đất 120, tờ bản đồ số 280C, diện tích 580m². Đối chiếu sổ dã ngoại lưu giữ tại UBND xã B thì thửa đất 120, tờ bản đồ số 280C, diện tích 580m² thể hiện người sử dụng đất là ông Nguyễn Văn C (chồng bà P).
[3.1] Ngày 27/8/1998 vợ chồng ông Trần Văn B, bà Nguyễn Thị Thanh n chuyển nhượng của gia đình bà Nguyễn Thị P, các con Nguyễn Gia N, Nguyễn Tường T (thời điểm chuyển nhượng chồng bà P là ông Nguyễn Văn C đã chết). vị trí chuyển nhượng: Đất nằm sau hậu nhà bà P đang ở, hướng đông giáp ranh hàng rào đã có sẵn của hộ ông Phạm Văn Đ1, hướng tây giáp ranh sát hàng rào có sẵn của hộ bà Trần Thị T3, hướng bắc nằm trước của nhà ông B, hướng nam được ghi nhận làm điểm cố định của đế móng nhà bà P. Từ đế móng hậu nhà bà P đo ra đúng 2m 80 chạy dọc theo chiều móng hậu song song với vạch đã bán; việc mua bán bằng giấy viết tay đề ngày 27/8/1998 có hai người làm chứng ông Nguyễn Thái H2 và Nguyễn Vui. Việc chuyển nhượng đất này từ năm 1998 đến nay giữa vợ chồng ông B, bà H và gia đình bà P không có tranh chấp gì. Điều này được thể hiện tại hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà Nguyễn Thị Phụ H1 và ông Nguyễn Tường T (đều là con của bà P)
[3.2] Mặc dù theo sổ mục kê và sổ địa chính lưu giữ tại UBND xã B thể hiện trong thửa đất số 120, tờ bản đồ 280-C với diện tích 580m², do ông Nguyễn Văn C đứng tên trong đó có 205m² thể hiện là đất công ích do nhà nước quản lý. Tuy nhiên sổ địa chính này lập năm 1998 nên không thuộc điển b khoản 1 Điều 100 Luật đất đai 2013 “Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tạm thời được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp hoặc có tên trong Sổ đăng ký ruộng đất, S địa chính trước ngày 15 tháng 10 năm 1993”.
[3.3] Tại biên bản xác minh ngày 30/11/2023 UBND xã B thừa nhận: Hộ bà Nguyễn Thị P (ông Nguyễn Văn C) không thuộc đối tượng cân đối giao đất theo Nghị định 64/CP và diện tích 580m² thửa đất 120 không đưa vào cân đối, giao đất theo Nghị định 64/CP. Đối với phần diện tích 205m², loại đất Màu (đất công ích) tại thửa 120, tờ bản đồ 280-C thì thực tế từ trước đến nay UBND xã không quản lý đối với diện tích này mà gia đình bà P (chồng là Nguyễn Văn C) sử dụng từ xưa đến nay. Do đó, việc lập sổ mục kê và sổ địa chính thể hiện thửa đất 120, tờ bản đồ số 280C thể hiện có 205m² đất công ích là do sai sót của tổ công tác và các cấp chính quyền tại thời điểm lập hồ sơ. Vì vậy, năm 2016 UBND xã B đã tổng hợp tất cả các trường hợp có sai sót tương tự và đã làm văn bản gửi đến đoàn kiểm tra của Thành Ủy, kiến nghị UBND thành phố T xem xét giải quyết nhưng đến nay vẫn chưa có kết quả. UBND xã B không xác định được ranh giới đối với diện tích 205m² tại thửa đất số 1202, tờ bản đồ số 280C (thể hiện là đất công ích theo trang 75, quyển số 7 của sổ địa chính) nằm ở vị trí nào trong tổng diện tích 580m² của thửa đất số 120.
[3.4] Theo các tài liệu thu thập tại hồ sơ vụ án thì tại thửa 120 nêu trên thì vào năm 2003 bà P cắt một phần diện tích 104m² cho vợ chồng con gái là Nguyễn Thị Phụ H1 và Hồ Văn T1, được U cấp GCNQSDĐ số BĐ 8038554 ngày 05/12/2014, thửa đất số 399, tờ bản đồ 280-C, diện tích 104m² loại đất ở nông thôn. Năm 2007, bà P tiếp tục cho vợ chồng con trai là Nguyễn Tường T, Lê Thị B2 diện tích 160m², được U cấp GCNQSDĐ số BA 977241 ngày 26/01/2010, thửa đất số 346, tờ bản đồ 280-C, diện tích 160m² loại đất ở nông thôn. Ngày 11/4/2013, ông T, bà B2 chuyển nhượng một phần thửa đất 346, diện tích 81,04m² cho bà Phạm Thị Đ, được U cấp GCNQSDĐ số BĐ 825843 ngày 27/4/2012, thửa đất 375, tờ bản đồ 280-C; diện tích còn lại 78,96m² ông T, bà B2 được cấp GCNQSD Đ số BĐ 825839 ngày 24/7/2013.
Do đó ngày 23/7/2021, UBND xã B có Công văn số 134/UBND gửi Chi nhánh VPĐKĐĐ TP Tuy Hòa xác định hồ sơ đề nghị cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông Trần Văn B và bà Trần Thị Thanh H3, không đủ điều kiện đưa ra hợp xét và niêm yết công khai tại UBND xã B là không có căn cứ. Nên VPĐKĐĐ TP Tuy Hòa căn cứ Công văn số 134/UBND của UBND xã B để trả lại hồ sơ của ông B bà H đã làm ảnh hưởng đến quyền lợi ích hợp pháp của ông B bà H. Mặc khác: Theo biên bản xác minh ngày 30/11/2023 tại Phòng Tài nguyên và Môi trường thành phố T thể hiện: Theo quyết định số 785/QĐ-UBND ngày 23/6/2023 của UBND tỉnh P thì hiện trạng diện tích đất đang khiếu kiện nằm trong quy hoạch đất ở nông thôn (ONT).
[5] Từ những nhận định nêu trên HĐXX nhận thấy: Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của người khởi kiện cũng như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.
[6] Về án phí và chi phí xem xét thẩm định tại chỗ, đo đạc: Do chấp nhận yêu cầu của người khởi kiện nên người bị kiện phải chịu án phí hành chính sơ thẩm và chi phí xem xét thẩm định tại chỗ, đo đạc theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng điều 30, 32, 116, 158, điểm b khoản 2 Điều 193; Điều 348 và 358 Luật tố tụng hành chính; Điều 101 Luật đất đai 2013, Điều 70 Nghị định 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ; Khoản 2 Điều 32 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của người khởi kiện vợ chồng ông Trần Văn B, bà Trần Thị Thanh H:
- Hủy văn bản số 1179/CNVPĐKĐĐ ngày 28/7/2021 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất thành phố T; hủy văn bản số 997/CNVPĐKĐĐ ngày 24/6/2021 của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai thành phố T; hủy văn bản số 134/UBND ngày 23/7/2021 của UBND xã B.
- Buộc Ủy ban nhân dân thành phố T và Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh P (đại diện cho Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai thành phố T) và UBND xã B tiến hành các trình tự, thủ tục để xem xét cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với hiện trạng diện tích đất vợ chồng ông Trần Văn B, bà Trần Thị Thanh H đang sử dụng tại thửa đất số 120, tờ bản đồ 280-C (đo đạc năm 1994), tọa lạc tại thôn N, xã B, thành phố T theo đúng quy định của pháp luật.
Về án phí: Người bị kiện UBND thành phố T, Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh P (đại diện cho Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai thành phố T) phải chịu 300.000 đồng tiền án phí hành chính sơ thẩm.
Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và đo đạc: Ủy ban nhân dân thành phố T và Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh P và UBND xã B phải liên đới chịu 2.473.000 đồng tiền chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và đo đạc. Người khởi kiện đã tạm ứng số tiền này nên người bị kiện có trách nhiệm phải hoàn trả cho vợ chồng ông B, bà H với số tiền 2.473.000 đồng.
Thời hạn, trình tự thủ tục thi hành và xử lý trách nhiệm với người không thi hành bản án, quyết định của Tòa án được thực hiện theo Nghị định 71/2016/NĐ-CP ngày 01/07/2016 của Chính phủ.
Về quyền kháng cáo: Các đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được bản án được giao cho họ hoặc được niêm yết.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Ngọc Minh |
Bản án số 80/2023/HC-ST ngày 21/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN về khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai
- Số bản án: 80/2023/HC-ST
- Quan hệ pháp luật: Khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/12/2023
- Loại vụ/việc: Hành chính
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Khiếu kiện Quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai
