TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC TỈNH AN GIANG Bản án số: 80/2023/DS-ST Ngày: 30 - 11 - 2023 V/v “tranh chấp hợp đồng tín dụng”. | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thanh Ngọc.
Các Hội thẩm nhân dân:
- + Ông Lê Thanh Hảo;
- + Ông Nguyễn Văn Bằng.
- Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Ngọc Thảo - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc tham gia phiên toà: Ông Trần Chí Tâm - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 11 năm 2023, tại Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 32/2023/TLST-DS ngày 14 tháng 3 năm 2023 về “tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 226/2023/QĐXXST-DS ngày 19 tháng 10 năm 2023, Quyết định hoãn phiên tòa số: 171/2023/QĐST-DS ngày 07 tháng 11 năm 2023, giữa:
Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ (B); trụ sở chính: A T, Phường L, Quận H, thành phố Hà Nội.
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Bà Dương Mỹ H, chức vụ: Phó Trưởng phòng Phòng khách hàng cá nhân B - chi nhánh B1 là đại diện theo uỷ quyền theo giấy uỷ quyền số 2206/QĐ-BIDV.BAG ngày 11/9/2023; (vắng mặt và có yêu cầu xét xử vắng mặt).
Bị đơn: Ông Tạ Thanh T, sinh năm 1986; địa chỉ cư trú: tổ B, khóm C, phường C B, thành phố C, tỉnh An Giang; (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và lời khai cung cấp trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:
Vào ngày 04/10/2019, Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ - chi nhánh B1 (sau đây được viết tắt là B - chi nhánh B1) và ông Tạ Thanh T đã ký kết Giấy đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng số 01/2019/8681390/HĐTD. Theo đó, B - chi nhánh B1 cho ông T vay số tiền 250.000.000 đồng với hình thức vay tín chấp, nguồn trả nợ của khách hàng cam kết trích lương và phụ cấp tại Ban chỉ huy quân sự thành phố C, thời hạn vay 60 tháng, lãi suất 11,5%/năm, lãi suất nợ gốc quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn, mục đích vay phục vụ nhu cầu đời sống; phương thức thanh toán, trả vốn và lãi định kỳ vào ngày 15 hàng tháng, bắt đầu kỳ đầu tiên vào ngày 15/11/2019. B - chi nhánh B1 đã giao đủ tiền cho ông T bằng hình thức chuyển khoản vào số tài khoản 70282000555523 theo Bảng kê rút vốn ngày 04/10/2019.
Quá trình thực hiện hợp đồng từ khi ký kết đến ngày 13/01/2022, ông T đã trả 61.200.000 đồng tiền nợ gốc, 33.047.019 đồng tiền nợ lãi. Sau đó, ông T không tiếp tục trả nợ cho B - chi nhánh B1 theo hợp đồng đã ký kết.
B - chi nhánh B1 đã gửi nhiều thông báo yêu cầu ông T trả nợ nhưng phía ông T không thực hiện. Vì vậy, B khởi kiện yêu cầu ông T thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho B khoản nợ theo Giấy đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng số 01/2019/8681390/HĐTD ngày 04/10/2019 với số tiền tính đến hết ngày 30/11/2023 là 269.117.145 đồng; trong đó, nợ gốc 188.800.000 đồng; tiền lãi 80.317.145 đồng và buộc ông T phải chịu toàn bộ lãi phát sinh trên số nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất thỏa thuận tại Giấy đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng số 01/2019/8681390/HĐTD ngày 04/10/2019 kể từ ngày 01/12/2023 cho đến khi trả hết nợ cho B.
Tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp chứng minh cho ý kiến, yêu cầu khởi kiện là: Giấy đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng số 01/2019/8681390/HĐTD ngày 04/10/2019 giữa B - chi nhánh B1 với ông Tạ Thanh T (bản sao); Bảng kê rút vốn ngày 04/10/2019 (bản sao); phiếu tính lãi từ ngày 04/10/2019 đến ngày 04/10/2024; xác nhận số dư nợ vay ngày 25/11/2022 và các giấy tờ, tài liệu khác có liên quan.
- Bị đơn ông Tạ Thanh T đã được triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến.
Tại phiên tòa,
- Thẩm phán Chủ tọa phiên tòa công bố các lời khai trong quá trình chuẩn bị xét xử của người đại diện hợp pháp của nguyên đơn; các tài liệu chứng cứ do Tòa án thu thập.
- Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa:
Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án trong giai đoạn chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa: Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án đã thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn quy định tại Điều 48 BLTTDS. Xác định thẩm quyền thụ lý, quan hệ pháp luật tranh chấp, tư cách pháp lý của các đương sự, thu thập đầy đủ tài liệu, chứng cứ để làm căn cứ giải quyết vụ án và lập hồ sơ đúng theo quy định tại các Điều 26, 35, 39, 195, 196, và Điều 198 BLTTDS năm 2015. Tuy nhiên về thời hạn chuẩn bị xét xử chưa đảm bảo theo Điều 203 BLTTDS năm 2015; Hội đồng xét xử, Thư ký đã tuân theo đúng các quy định của BLTTDS về việc xét xử sơ thẩm vụ án; Nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật. Nguyên đơn có yêu cầu được xét xử vắng mặt thuộc trường hợp Tòa án xét xử vắng mặt theo quy định tại Điều 228 BLTTDS. Bị đơn trong suốt quá trình tố tụng thụ lý, giải quyết vụ án Tòa án đã thực hiện việc thông báo, triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng bị đơn không có ý kiến phản hồi và vắng mặt không lý do, nên xem như tự từ bỏ quyền tham gia tố tụng của mình. Hôm nay, Tòa án triệu tập bị đơn tham gia phiên tòa lần thứ hai nhưng bị đơn vẫn vắng mặt không lý do. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 BLTTDS Tòa án thực hiện việc xét xử vắng mặt bị đơn là phù hợp.
Về việc giải quyết vụ án: Ngân hàng và ông Tạ Thanh T đã ký kết Hợp đồng tín dụng số 01/2019/8681390/HĐTD ngày 04/10/2019 cụ thể như sau: Số tiền vay: 250.000.000 đồng; Mục đích vay: Phục vụ nhu cầu đời sống; Lãi suất cho vay: 11.5%/năm; Thời hạn vay: 60 tháng, từ ngày 04/10/2019 đến ngày 04/10/2024; Phương thức trả nợ gốc và lãi hàng tháng. Từ khi giải ngân ngày 04/10/2019 đến ngày 13/01/2022, ông T đã thanh toán được số tiền 94.247.019 đồng (trong đó nợ gốc 61.200.000 đồng, nợ lãi 31.977.210 đồng; lãi quá hạn 1.069.809 đồng). Từ ngày 15/01/2021 khoản vay đã chuyển nợ quá hạn do ông T không có khả năng chi trả.
Việc thỏa thuận vay nợ giữa các bên là tự nguyện, có hợp đồng, phù hợp với quy định pháp luật, trong quá trình thực hiện hợp đồng bị đơn đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên việc nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả nợ là có căn cứ.
Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào các Điều 463, 466, 469 Bộ luật Dân sự và Điều 91, 95 Luật các Tổ chức tín dụng chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Buộc bị đơn có nghĩa vụ trả cho nguyên đơn số tiền vốn vay 188.800.000 đồng; nợ lãi, lãi quá hạn tính đến ngày xét xử.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
* Về tố tụng:
- Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ (B) khởi kiện yêu cầu ông Tạ Thanh T trả nợ vay. Ông T đang cư trú trên địa bàn thành phố C nên yêu cầu kiện của B thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về sự vắng mặt của đương sự: Trước khi phiên tòa được mở, ông T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa lần thứ hai nhưng vắng mặt không lý do; người đại diện hợp pháp của nguyên đơn vắng mặt tại phiên tòa và có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Căn cứ quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt người đại diện hợp pháp của nguyên đơn, ông T.
* Về nội dung:
- Về việc xác lập và thực hiện hợp đồng tín dụng:
Giấy đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng số 01/2019/8681390/HĐTD ngày 04/10/2019 giữa B - chi nhánh B1 với ông Tạ Thanh T được ký kết trên cơ sở tự nguyện, hình thức và nội dung hợp đồng phù hợp với quy định tại Điều 463 Bộ luật Dân sự năm 2015, khoản 2 Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 nên phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên theo hợp đồng được ký kết.
Về thực hiện hợp đồng, trên cơ sở Giấy đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng số 01/2019/8681390/HĐTD ngày 04/10/2019, ông T được B - chi nhánh B1 giải ngân số tiền 250.000.000 đồng thông qua Bảng kê rút vốn ngày 04/10/2019. Sau khi vay cho đến ngày 13/01/2022, ông T đã trả nợ cho B số tiền gốc 61.200.000 đồng, số tiền lãi 33.047.019 đồng và không tiếp tục thanh toán theo hợp đồng từ ngày 14/01/2022. Tính đến hết ngày 30/11/2023, ông T còn nợ B 269.117.145 đồng (trong đó, nợ gốc 188.800.000 đồng; nợ lãi 80.317.145 đồng).
- Về yêu cầu của nguyên đơn:
Do ông T vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên B khởi kiện yêu cầu ông T trả nợ là phù hợp với nội dung hợp đồng tín dụng đã ký kết, quy định tại các Điều 466, 470 Bộ luật Dân sự năm 2015, Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010.
Vì vậy, chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của B; buộc ông T trả cho B 269.117.145 đồng (trong đó, nợ gốc 188.800.000 đồng; nợ lãi 80.317.145 đồng) và tiền lãi phát sinh trên số nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong Giấy đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng số 01/2019/8681390/HĐTD ngày 04/10/2019 kể từ ngày 01/12/2023 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ.
- Về án phí dân sự sơ thẩm:
Ông T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với số tiền phải thanh toán cho B là 13.455.857 đồng.
B không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm; hoàn lại cho B số tiền tạm ứng án phí 5.879.000 đồng mà B đã nộp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Các điều 147, 266, 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- Các Điều 463, 466, 470 Bộ luật Dân sự năm 2015;
- Các Điều 91, 95 Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010;
- Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ (B).
Buộc ông Tạ Thanh T trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ (B) số tiền 269.117.145 (hai trăm sáu mươi chín triệu, một trăm mười bảy nghìn, một trăm bốn mươi lăm) đồng, trong đó: vốn gốc là 188.800.000 (một trăm tám mươi tám triệu, tám trăm nghìn) đồng, tiền lãi tính đến hết ngày 30/11/2023 là 80.317.145 (tám mươi triệu, ba trăm mười bảy nghìn, một trăm bốn mươi lăm) đồng.
Kể từ ngày 01/12/2023 ông Tạ Thanh T còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi phát sinh trên số nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận tại Giấy đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng số 01/2019/8681390/HĐTD ngày 04/10/2019 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng thương mại cổ phần Đ thì lãi suất mà ông T vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng thương mại cổ phần Đ cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng thương mại cổ phần Đ.
- Về án phí dân sự sơ thẩm:
Ông Tạ Thanh T phải chịu 13.455.857 (mười ba triệu, bốn trăm năm mươi lăm nghìn, tám trăm năm mươi bảy) đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ số tiền tạm ứng án phí đã nộp 5.879.000 (năm triệu, tám trăm bảy mươi chín nghìn) đồng theo biên lai thu tạm ứng án, lệ phí Tòa án số 0003135 ngày 14 tháng 3 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang.
- Về quyền kháng cáo:
Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ, ông Tạ Thanh T có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TÒA Nguyễn Thanh Ngọc |
Bản án số 80/2023/DS-ST ngày 30/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 80/2023/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/11/2023
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: NH BIDV - Tuấn (tín dụng)
