Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CHÂU THÀNH

TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 80/2023/DS-ST

Ngày: 26/10/2023

“V/v Tranh chấp ranh giới QSD đất”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Thanh Hùng.

Các Hội thẩm nhân dân:

  • 1. Ông Nguyễn Hùng Cường.
  • 2. Ông Lê Văn Phước.

- Thư ký phiên toà: Ông Phạm Văn Minh - Thư ký Toà án nhân dân huyện Châu Thành.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Ông Trần Thanh Tiền - Kiểm sát viên.

Trong ngày 26 tháng 10 năm 2023 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Châu Thành xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: số 11/2022/TLST-DS ngày 10 tháng 01 năm 2022, về việc “Tranh chấp ranh giới quyền sử dụng đất” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 194/2023/QĐXXST- DS, ngày 19 tháng 9 năm 2023, Quyết định hoãn phiên tòa số: 120/2023/QĐST-DS ngày 06/10/2023;

- Nguyên đơn: Ông Phan Thiện N, sinh năm 1969; (có mặt)

Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện C, Đồng Tháp.

- Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Thu N1, sinh năm 1974; (vắng mặt)

Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

  1. Phan Thị Kim T, sinh năm 1963;
  2. Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.

  3. Phan Thị Ngọc T1, sinh năm 1966;
  4. Địa chỉ: Ấp H, xã H, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.

    Người đại diện theo ủy quyền của bà T, bà T1 là ông Phan Thiện N, sinh năm 1969;

    Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện C, Đồng Tháp.

    (Văn bản ủy quyền ngày 14/10/2019)

  5. Lương Văn Ú, sinh năm 1968; (xin vắng mặt)
  6. Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.

  7. Lê Thị S, sinh năm 1969; (xin vắng mặt)
  8. Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn ông Phan Thiện N trình bày:

Nguồn gốc đất tranh chấp là của cụ Mai Thị H (chết) để lại thửa đất số 356, 361 tờ bản đồ 49 tọa lạc tại ấp T, xã T, huyện C, Đồng Tháp (nay thuộc tờ bản đồ số 299). Phần đất của cụ H giáp ranh với thửa đất số 86, tờ bản đồ số 49 do bà N1 đứng tên quyền sử dụng đất. Từ phía ngoài lộ trước kia không có trụ đá mà chỉ thỏa thuận lấy ½ con mương làm ranh giới QSD đất giữa hai bên. Phía trong có 01 trụ đá vẫn còn và hai bên vẫn thống nhất với nhau. Ông N thống nhất theo biên bản hòa giải ngày 10/4/2018 tại Ủy ban nhân dân xã T. Theo đó, trụ đá phía trước tiếp giáp với đường đá rạch Cần Thơ kéo qua đất ông H1 thì chiều ngang là 10,25m (theo giấy chứng nhận QSD đất đã cấp cho bà N1) và trụ đá phía sau tiếp giáp với ông H1, bà N1. Tại vị trí này, kéo thẳng ra trụ đá phía trước làm ranh. Tuy nhiên, đoan ranh giữa có các trụ đá lệch về phía ông N nên ông N không đồng ý. Con mương ranh ngày càng nhỏ hẹp, ống bọng bị cỏ rác lắp đầy, không xử lý được do bà N1 tự ý dựng trụ đá và kéo hàng rào B40 qua phần ranh đất của ông N.

Nay, ông N yêu cầu bà Nguyễn Thị Thu N1 trả lại phần đất lấn chiếm ngang 0,5m, dài 15m thuộc thửa 356, 361 (chưa được cấp giấy chứng nhận QSD đất). đối với thửa đất số 86, tờ 49 do bà Nguyễn Thị Thu N1 đứng tên QSD đất.

Bị đơn, bà nguyễn Thị Thu N2 trình bày: Tại bản tự khai, bà N2 cho rằng đã được cấp giấy chứng nhận QSD đất thửa đất số 86, tờ bản đồ số 49 diện tích 272m² đất trồng cây lâu năm cấp ngày 05/4/2010. Quá trình cấp giấy chứng nhận QSD đất cho bà N2, cụ Mai Thị H có ký giáp ranh đất của cụ Mai Thị H. Nay bà Nguyễn Thị Thu N1 không đồng ý yêu cầu của ông Phan Thiện N về việc xác định lại ranh giới quyền sử dụng đất.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Phan Văn Úl trình bày: Từ trước đến nay ông Úl ở trên thửa đất 356, tờ bản đồ số 3 do cụ Mai Thị H chết ngày 10/9/2010 để lại. Ông Ú1 thống nhất theo lời trình bày của ông Phan Thiện N. Ông Ú1 đồng ý giao cho ông Phan Thiện N toàn quyền quyết định các vấn đề liên quan đến vụ án tranh chấp ranh giới QSD đất với bà Nguyễn Thị Thu N1.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Phan Thị Kim T, Phan Thị Ngọc T2 ủy quyền cho ông Phan Thiện N trình bày: Thống nhất theo lời trình bày của ông N về nguồn gốc đất tranh chấp.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Lê Thị S trình bày: Thống nhất theo lời trình bày của ông N về nguồn gốc đất tranh chấp.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành phát biểu về việc tuân thủ pháp luật tố tụng và nội dung giải quyết vụ án:

  • - Về tuân thủ pháp luật tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án đến khi xét xử, Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký đã tuân thủ đúng quy định pháp luật tố tụng dân sự. Người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật.
  • - Về nội dung: Qua phát biểu tranh luận và trên cơ sở phân tích, đánh giá chứng cứ thể hiện trong hồ sơ, đề nghị Hội đồng xét xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Phan Thiện N; Bị đơn phải chịu án phí theo quy định. Hoàn trả lại tiền tạm ứng án phí cho ông Phan Thiện N.

Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ, định giá: Ông Phan Thiện N đã tạm ứng số tiền 5.214.000 đồng (4.914.000 đồng chi phí đo đạc; 300.000 đồng chi phí xem xét thẩm định tại chổ) đã chi xong. Buộc bà Nguyễn Thị Thu N1 có nghĩa vụ hoàn trả lại cho ông Phan Thiện N số tiền 5.214.000 đồng.

- Kiến nghị: Không có.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về tố tụng: Ông Phan Thiện N khởi kiện bà Nguyễn Thị Thu N1 yêu cầu Tòa án giải quyết về việc tranh chấp ranh giới quyền sử dụng đất. Bị đơn cư trú tại huyện C, tỉnh Đồng Tháp, nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, bà Nguyễn Thị Thu N1 đã được thông báo hợp lệ về việc tham gia vụ án nhưng vắng mặt không lý do lần thứ hai. Nguyên đơn, ông Phan Thiện N đồng ý xét xử vắng mặt bà N1. Những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Lương Văn Ú và bà Lê Thị S có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ vào Điều 227, khoản 2 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự; Tòa án xét xử vắng mặt đối với bị đơn, những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan.

[2]. Về nội dung: Tại phiên tòa, các đương sự không cung cấp bổ sung tài liệu, chứng cứ gì mới. Do đó, hội đồng xét xử căn cứ tài liệu, chứng cứ mà đương sự đã giao nộp và Tòa án đã thu thập theo khoản 1 Điều 96 của Bộ luật Tố tụng dân sự có trong hồ sơ để giải quyết vụ án.

[2.1]. Xét yêu cầu khởi kiện của ông Phan Thiện N, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Nguồn gốc thửa 356, tờ bản đồ số 3 (nay thuộc tờ bản đồ số 299) có nguồn gốc của cụ Mai Thị H (chưa kê khai), nhưng theo công văn số 4204 ngày 11/09/2023 của UBND huyện C thì thửa đất này đã giao cho ông Phan Thiện N quản lý sử dụng và thửa 361, tờ bản đồ số 3 (nay thuộc tờ bản đồ số 299) của cụ Mai Thị H đứng tên giấy chứng nhận QSD đất chết để lại, hiện do ông Phan Thiện N đang quản lý sử dụng. Giáp phần đất này có một con mương ngang 2m, dài 100m làm mương ranh với thửa 86 tờ bản đồ số 49 của bà Nguyễn Thị Thu N1, con mương này đã sử dụng ổn định trên 60 năm. Ông N có đặt ống bọng để lưu thông đường nước tưới tiêu vào vườn, trước đây có trồng trụ ranh nhưng sau đó Nhà nước làm lộ nên xáng đã làm mất đi trụ ranh. Sau đó, bà N1 tự ý cắm ranh đất, kéo lưới B40 và lấp rác qua đất của ông N quản lý sử dụng, làm ảnh hưởng đến ống bọng dẫn nước vào vườn của ông N nên phát sinh tranh chấp.

Nguồn gốc thửa đất số 86, tờ bản đồ số 49 của cụ Nguyễn Thị D để lại cho bà Nguyễn Thị Thu N1 nhận thừa kế và được UBND huyện C, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào ngày 05/4/2010, khi cấp giấy chứng nhận QSD đất có tiến hành đo đạc thực tế và tứ cận của thửa đất được thể hiện trong giấy chứng nhận QSD đất. Theo đó thửa đất số 86, tờ bản đồ số 49 có tứ cận như sau: cạnh chiều ngang giáp với đường đal có chiều dài 10,25m; cạnh chiều dài giáp với thửa đất số 356 và thửa 361 của ông N quản lý sử dụng có chiều dài 36m; cạnh chiều ngang giáp với thửa 51 của ông Nguyễn Thế H2 có chiều dài 5,20m; cạnh chiều dài giáp với thửa 51 của ông Nguyễn Thế H2 có chiều dài 36m; Tổng diện tích bà N1 được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là 272m² đất trồng cây lâu năm.

Qua đo đạc thựa tế thửa đất số 86, tờ bản đồ số 49 có tứ cận như sau: cạnh chiều ngang giáp với đường đal có chiều dài 10,24m (theo mốc ranh ông N xác định), thiếu 0,01m, nếu cộng thêm 0,75m đang tranh chấp thì dư 0,74m; cạnh chiều dài giáp với thửa đất số 356 và thửa 361 của ông N quản lý sử dụng có chiều dài 37,70m (dư 1,70m); cạnh chiều ngang giáp với thửa 51 của ông Nguyễn Thế H2 có chiều dài 5,32m(dư 0,12m), nếu cộng thêm 0,27m đang tranh chấp thì dư 0,39m; cạnh chiều dài giáp với thửa 51 của ông Nguyễn Thế H2 có chiều dài 35,92m (thiếu 0,08m; Tổng diện tích đo đạc thực tế là 283,4m² (dư 11,4m²), nếu cộng với 19,1m² đang tranh chấp thì dư 30,5m² so với giấy chứng nhận QSD đất của bà N1.

Mặc khác trước đây bà Nguyễn Thị Thu N1 đã khởi kiện ông Phan Thiện N để yêu cầu xác định ranh giới quyền sử dụng đất. Qua đó ngày 10/4/2018 Ủy ban nhân dân xã T đã tiến hành hòa giải và bà N1 đã thống nhất ranh giới theo các mốc hiện nay ông N yêu cầu và đã rút đơn khởi kiện. Tuy nhiên, bà N1 không tháo dở hàng rào bên phần đất của ông N như đã hòa giải ở UBND xã T, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.

Tại Điều 175 của Bộ luật dân sự năm 2015 quy định về ranh giới giữa các bất động sản như sau:

“1. Ranh giới giữa các bất động sản liền kề được xác định theo thỏa thuận hoặc theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

Ranh giới cũng có thể được xác định theo tập quán hoặc theo ranh giới đã tồn tại từ 30 năm trở lên mà không có tranh chấp.

Không được lấn, chiếm, thay đổi mốc giới ngăn cách, kể cả trường hợp ranh giới là kênh, mương, hào, rãnh, bờ ruộng. Mọi chủ thể có nghĩa vụ tôn trọng, duy trì ranh giới chung.

2. Người sử dụng đất được sử dụng không gian và lòng đất theo chiều thẳng đứng từ ranh giới của thửa đất phù hợp với quy định của pháp luật và không được làm ảnh hưởng đến việc sử dụng đất của người khác.

Người sử dụng đất chỉ được trồng cây và làm các việc khác trong khuôn viên đất thuộc quyền sử dụng của mình và theo ranh giới đã được xác định; nếu rễ cây, cành cây vượt quá ranh giới thì phải xén rễ, cắt, tỉa cành phần vượt quá, trừ trường hợp có thỏa Thuận khác”.

Từ những các căn cứ nêu trên, xét thấy yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông P Thiện Nghệ yêu cầu xác định ranh giới quyền sử dụng đất giữa các thửa đất số 356, 361 tờ bản đồ số 3 (nay là tờ bản đồ 299 do ông Phan Thiện N đang quản lý sử dụng) với thửa đất số 86 bản đồ số 49 do bà Nguyễn Thị Thu N1 đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là đường thẳng theo các mốc 2, 3 và yêu cầu bà N1 trả lại diện tích 19,1m² theo các mốc 1, 2, 3, 4 và 1 thuộc các thửa 356 và thửa 361, tờ bản đồ số 3 (nay thuộc tờ bản đồ số 299) theo sơ đồ đo đạc ngày 02/12/2022 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện C là có căn cứ chấp nhận.

[2.2]. Về án phí: Do chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, nên bị đơn phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Đây là vụ án không có giá ngạch nên bà N1 phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

[2.3]. Về chi phí tố tụng: Bị đơn bà Nguyễn Thị Thu N1 phải chịu toàn bộ chi phí xem xét thẩm định, định giá.

[3]. Ý kiến pháp biểu của Đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ, nên hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: Khoản 9 Điều 26; Điểm a khoản 1 Điều 35; Điểm a, c khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 147; Điều 166, Điều 177, 179, 186, Điều 262 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015

Áp dụng:

- Điều 166, 174, 175, 176, 186, 246 Bộ luật dân sự năm 2015Điều 170, 171 và khoản 1 Điều 203 Luật đất đai năm 2013

- Điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 1 và khoản 5 Điều 26, điểm a khoản 2 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH1430/12/2016 của Ủy ban Thờng vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Phan Thiện N.
  2. Xác định ranh giới quyền sử dụng đất là đường thẳng đứng theo các mốc 2, và mốc 3, thửa đất số 356, 361 tờ bản đồ số 3 ( nay là tờ bản đồ số 299 do ông Phan Thiện N quản lý sử dụng) với thửa đất số 86, tờ bản đồ số 49 do bà Nguyễn Thị Thu N1 đang quản lý sử dụng theo sơ đồ đo đạc ngày 02/11/2022 của chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện C.
  3. Ranh đất được xác định theo chiều thẳng đứng tính từ lòng đất đến không gian, tài sản của hai bên lấn chiếm ranh đất phải di dời theo quy định của pháp luật.
  4. Các đương sự có quyền, nghĩa vụ đến cơ quan có thẩm quyền chỉnh lý biến động, cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo đúng diện tích đất thực tế đang sử dụng.
  5. (Kèm theo sơ đồ đo đạc ngày 02/11/2022 của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện C).

  6. Về án phí: Bà Nguyễn Thị Thu N1 phải nộp 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
  7. Hoàn trả lại cho ông Phan Thiện N số tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng theo biên lai thu số 0000206 ngày 10/01/2021 tại Chi cục thi hành dán Dân sự huyện C, tỉnh Đồng Tháp.

  8. Về chi phí xem xét thẩm định, định giá: Ông Phan Thiện N đã tạm ứng số tiền 5.214.000 đồng (4.914.000 đồng chi phí đo đạc; 300.000 đồng chi phí xem xét thẩm định tại chổ) và đã chi xong. Buộc bà Nguyễn Thị Thu N1 có nghĩa vụ hoàn trả lại cho ông Phan Thiện N số tiền 5.214.000 đồng.
  9. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị đơn được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Đồng Tháp;
  • TÒA
  • - VKSND Huyện CT;
  • - Các đương sự;
  • - THADS Huyện CT;
  • - Lưu: HSVA;

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN

Nguyễn Thanh Hùng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 80/2023/DS-ST ngày 26/10/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH ĐỒNG THÁP về tranh chấp ranh giới qsd đất

  • Số bản án: 80/2023/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ranh giới QSD đất
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/10/2023
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH ĐỒNG THÁP
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ông Phan Thiện Nghệ yêu cầu xác định ranhđất với bà Nguyễn Thị Thu Ngân
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger