Hệ thống pháp luật
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH BẮC GIANG


Bản án số: 80/2020/HNGĐ-ST
Ngày 17/9/2020
“V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con”
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
_______________________

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ong Thân Thắng.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Chiến - Cán bộ hưu; Ông Trần Thanh Bình - Cán bộ hưu.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Dung - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa: Ông Lương Thất Tùng - Kiểm sát viên trung cấp.

Trong ngày 17/9/2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 15/2020/TLST-HNGĐ ngày 21/01/2020 về việc tranh chấp “ly hôn, tranh chấp về nuôi con”.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 81/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 10/8/2020, Quyết định hoãn phiên tòa số 82/2020/QĐST-HNGĐ ngày 31/8/2020, giữa các đương sự:

  • Nguyên đơn: Anh Lê Đăng Ng, sinh năm: 1991. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: thôn BP, xã NH, huyện LG, tỉnh BG. (có đơn xin xét xử vắng mặt).
  • Bị đơn: Chị Nguyễn Thị V, sinh năm: 1992. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: thôn BP, xã NH, huyện LG, tỉnh BG. Nơi ở: thôn TD, xã TH, huyện LG, tỉnh BG. Hiện đang lao động ở nước ngoài. Vắng mặt.
  • Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Bà Đào Thị M - sinh năm 1971. Địa chỉ: thôn TD, xã TH, huyện LG, tỉnh BG. (có đơn xin xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai trong quá trình làm việc tại Tòa án, nguyên đơn là anh Lê Đăng Ng trình bày:

- Về quan hệ vợ chồng: Anh kết hôn với chị Nguyễn Thị V trên cơ sở có sự tự do tìm hiểu, tự nguyện, đăng ký kết hôn ngày 16/12/2011 tại UBND xã NH, huyện LG, tỉnh BG. Sau khi kết hôn, thời gian đầu vợ chồng chung sống hòa thuận, hạnh phúc. Đến tháng 01/2014 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân là do tính cách vợ chồng không hợp nhau, nên trong cuộc sống hằng ngày bất đồng quan điểm dẫn đến cãi vã. Sau đó chị V bỏ về nhà bố mẹ đẻ sinh sống. Từ đó đến nay anh không liên lạc gì với chị V, thời gian quá lâu tình cảm không còn nên anh đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với chị Nguyễn Thị V.

- Về con chung: Anh và chị Nguyễn Thị V có 01 con chung là cháu Lê Minh Tr, sinh ngày 10/11/2012. Khi ly hôn anh đề nghị được nuôi con chung và không yêu cầu chị V phải cấp dưỡng nuôi con chung.

- Về tài sản chung, công nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Tại đơn đề nghị ngày 21/7/2020 anh Ng trình bày: tại đơn khởi kiện anh đề nghị được nuôi con chung, nhưng nay xét thấy để đảm bảo cuộc sống của cháu và theo nguyện vọng của bà ngoại cháu là bà Đào Thị M đồng ý đứng ra nuôi dưỡng con chung của anh chị là cháu Tr, anh và chị V cũng thống nhất đồng ý để bà Đào Thị M đứng ra chăm sóc nuôi dưỡng cháu Tr khi chị V không có nhà. Về cấp dưỡng nuôi con chung thì anh chị tự thỏa thuận không đề nghị Tòa án giải quyết.

Bị đơn chị Nguyễn Thị V hiện đang lao động ở nước ngoài, không có địa chỉ cụ thể. Tòa án đã tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật đối với chị Nguyễn Thị V.

Tòa án đã xác minh thu thập chứng cứ thông qua bà Đào Thị M (mẹ đẻ chị V). Bà Đào Thị M có quan điểm trình bày: Con tôi (V) đồng ý ly hôn với anh Lê Đăng Ng. Về con chung, anh Ng và chị V có 01 con chung Lê Minh Tr. Nay ly hôn chị V có nguyện vọng nuôi con chung, cấp dưỡng nuôi con tự thỏa thuận. Do tình hình dịch bệnh nên con tôi không thể về nước để giải quyết vụ án được. Con tôi và tôi thống nhất đồng ý để tôi đứng ra chăm sóc nuôi dưỡng cháu Tr khi chị V không có nhà.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1]. Về quan hệ pháp luật, thẩm quyền giải quyết vụ án: HĐXX xác định đây là vụ án “ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo quy định tại khoản 1, Điều 28- Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Do có đương sự ở nước ngoài nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang.

[2]. Về sự vắng mặt của đương sự: Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt đối với anh Lê Đăng Ng, chị Nguyễn Thị V và bà Đào Thị M theo quy định pháp luật.

[3]. Về quan hệ hôn nhân: Tình trạng mâu thuẫn vợ chồng giữa anh Lê Đăng Ng và chị Nguyễn Thị V đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Căn cứ Điều 56 - Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, xử cho anh Lê Đăng Ng được ly hôn chị Nguyễn Thị V.

[4]. Về con chung: Giao cho chị Nguyễn Thị V được nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung là cháu Lê Minh Tr, sinh ngày 10/11/2012. Chấp nhận việc bà Đào Thị M hỗ trợ chăm sóc cháu Tr khi chị V vắng nhà.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 51, 53, 56, 81, 82, 83, 84, 104 Luật Hôn nhân và gia đình; các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị quyết về án phí. Xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Anh Lê Đăng Ng được ly hôn chị Nguyễn Thị V.
  2. Về con chung: Giao con chung là cháu Lê Minh Tr, sinh ngày 10/11/2012 cho chị Nguyễn Thị V được nuôi dưỡng, trông nom, chăm sóc, giáo dục đến khi đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Cấp dưỡng nuôi con chung không xem xét giải quyết.
  3. Về án phí: Anh Lê Đăng Ng phải chịu 300.000 đồng án phí sơ thẩm (đã nộp đủ).
  4. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Nơi nhận:
- TAND Cấp Cao tại Hà Nội;
- VKSND tỉnh Bắc Giang;
- Cục THADS tỉnh Bắc Giang;
- UBND xã NH, LG;
- Cổng thông tin điện tử TANDTC;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ vụ án, HCTP.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
(Đã ký)



Ong Thân Thắng
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 80/2020/HNGĐ-ST ngày 17/09/2020 của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 80/2020/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/09/2020
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: nguyên đơn là anh Lê Đăng Ng trình bày: Anh kết hôn với chị Nguyễn Thị V trên cơ sở có sự tự do tìm hiểu, tự nguyện, đăng ký kết hôn ngày 16/12/2011 tại UBND xã NH, huyện LG, tỉnh BG. Sau khi kết hôn, thời gian đầu vợ chồng chung sống hòa thuận, hạnh phúc. Đến tháng 01/2014 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân là do tính cách vợ chồng không hợp nhau, nên trong cuộc sống hằng ngày bất đồng quan điểm dẫn đến cãi vã. Sau đó chị V bỏ về nhà bố mẹ đẻ sinh sống. Từ đó đến nay anh không liên lạc gì với chị V, thời gian quá lâu tình cảm không còn nên anh đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với chị Nguyễn Thị V , đề nghị giải quyết nuôi con chung.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger