|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÙ NINH TỈNH PHÚ THỌ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 08/2025/HS-ST Ngày 28 tháng 02 năm 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÙ NINH, TỈNH PHÚ THỌ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Lan
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Nguyễn Thị Hoa
Bà Nguyễn Thị Kim Hoa
- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Huyền - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ tham gia phiên tòa: Bà Trương Thị Tuyến - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 10/2025/HSST ngày 07 tháng 02 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 11/2025/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo:
Họ và tên: Lương Tâm L; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày: 21 tháng 02 năm 2004 tại tỉnh Phú Thọ; Nơi thường trú và nơi ở: Khu A, xã P, huyện P, tỉnh Phú Thọ; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Số CCCD: [...]; cấp ngày 14/7/2024; con ông Lương Văn L1 và bà Kiều Thị Thu N (đã chết); Vợ, con: không.
Tiền án, tiền sự: Không;
Nhân thân: Ngày 09/12/2022, Công an huyện P ra Quyết định xử phạt hành chính số 204 với hình thức phạt tiền 6.500.000đ về hành vi “Cố ý gây thương tích nhưng không bị truy cứu trách nhiệm hình sự”. L đã nộp tiền phạt và tiền chậm nộp vào ngày 04/10/2024.
Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 02/10/2024 đến ngày 10/10/2024 được hủy bỏ biện pháp tạm giữ. Bị cáo bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Ninh ra lệnh Cấm đi khỏi nơi cư trú kể từ ngày 29/01/2025 đến ngày 07/02/2025. (Có mặt tại phiên toà).
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Lương Văn L1, sinh năm 1963; Địa chỉ: khu A, xã P, huyện P, tỉnh Phú Thọ. (Có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 14 giờ 50 phút ngày 02/10/2024, tại khu vực đường dân sinh thuộc khu A, xã P, huyện P, tỉnh Phú Thọ. Tổ công tác Công an huyện P phát hiện Lương Tâm L, sinh năm: 2004, nơi thường trú: Khu A, xã P, huyện P, tỉnh Phú Thọ đang đứng ở ven đường cạnh chiếc xe mô tô biển số 19P1-1875 có biểu hiện nghi vấn vi phạm pháp luật liên quan đến ma túy. Tổ công tác tiếp cận và yêu cầu kiểm tra đối với L; L khai nhận bản thân đang tàng trữ trái phép chất ma túy với mục đích để bán và tự giác lấy trong túi áo phía trước bên phải đang mặc ra 03 lọ nhựa màu trắng có nắp màu đen, bên trong đều chứa dung dịch màu nâu (L khai đây là chất ma túy tinh dầu cây cần sa thường gọi là CBD). Tổ công tác mời người chứng kiến và đại diện chính quyền địa phương đến tiến hành lập biên bản sự việc, kiểm tra thu giữ những đồ vật, tài liệu sau:
- 03 lọ nhựa màu trắng có nắp màu đen, bên trong có chứa dung dịch màu nâu;
- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 màu trắng, lắp sim số 0559.129.764;
- Tiền ngân hàng N2 3.000.000 đồng;
- 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda biển số 19P1-1875, số khung: RLHHC12078Y014357, số máy: HC12E-0028030, bên trong cốp xe không có đồ vật, tài sản gì.
Cùng ngày, Cơ quan CSĐT Công an huyện P đã ra Quyết định trưng cầu giám định số 800/QĐ-ĐCSHS-KT-MT trưng cầu Phòng K Công an tỉnh P giám định chất dung dịch màu nâu bên trong 03 lọ nhựa thu giữ của Lương Tâm L. Tại Bản kết luận giám định số 1386/KL-KTHS ngày 10/10/2024 của Phòng K Công an tỉnh P, kết luận:
“Mẫu vật ở dạng dung dịch màu nâu chứa bên trong 03 lọ nhựa, gửi đến giám định có chất ma túy, loại MDMB-BUTICANA và MDMB-FUBINACA, có tổng thể tích là 15 mililit.
Hiện tại Phòng K - Công an tỉnh P chưa giám định xác định được hàm lượng của chất ma túy MDMB-BUTICANA và MDMB-FUBINACA.
* MDMB-FUBINACA là chất ma túy nằm trong Danh mục IIC, số thứ tự 240, Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ.
* MDMB-BUTICANA là chất ma túy nằm trong Danh mục IIC, số thứ tự 342, Nghị định sửa đổi, bổ sung danh mục chất ma túy và tiền chất, số 90/2024/NĐ-CP ngày 17/7/2024 của Chính phủ.
H lại đối tượng giám định:
10 mililit dung dịch màu nâu cùng toàn bộ bao gói gửi đến giám định, được niêm phong dán kín trong 01 túi niêm phong, bên ngoài túi niêm phong có đóng 05 dấu hình tròn màu đỏ của Phòng K - Công an tỉnh P và chữ ký của các thành phần liên quan tại các mép dán."
Ngày 05/11/2024, CQCSĐT Công an huyện P ra Quyết định trưng cầu giám định số 899/QĐ-ĐCSHS-KT-M - Bộ C giám định bổ sung hàm lượng chất ma túy MDMB-BUTICANA và MDMB-FUBINACA trong mẫu vật hoàn trả sau giám định. Tại bản kết luận số 8646/KL-KTHS ngày 14/11/2024 của V - Bộ C kết luận:
“Nồng độ (hàm lượng) chất ma túy MDMB-FUBINACA trung bình trong mẫu chất lỏng gửi giám định là 1,199mg/ml.
V chưa có mẫu chuẩn định lượng MDMB-BUTICANA nên không xác định được nồng độ chất này trong mẫu gửi giám định.
H lại đối tượng giám định gồm:
Mẫu còn lại sau giám định và vỏ bao gói trong niêm phong số 8646/C09(TT2)...”
Ngày 03/10/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P đã tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Lương Tâm L tại khu A, xã P, huyện P, tỉnh Phú Thọ, quá trình khám xét không thu giữ đồ vật, tài liệu gì.
Tại Cơ quan điều tra, Lương Tâm L khai nhận mục đích và nguồn gốc số ma túy L tàng trữ như sau:
Khoảng cuối tháng 9 năm 2024, qua mạng xã hội Facebook, Lương Tâm L thấy có tài khoản Facebook bán tinh dầu cần sa sử dụng trong thiết bị thuốc lá điện tử nên đã đặt mua 20ml tinh dầu cần sa với giá 400.000 đồng. Lân hẹn nhận hàng ở nút ra IC8 Cao tốc Nội Bài - Lào Cai thuộc xã P, huyện P, tỉnh Phú Thọ. Sau đó, L đến địa chỉ trên nhận hàng là một hộp bìa cát tông dán kín rồi cầm về nhà, tại nhà ở của mình, L mở ra thấy bên trong có 01 lọ nhựa màu trắng, nắp màu đen, bên trong chứa dung dịch màu nâu là tinh dầu cần sa (có chứa chất ma túy MDMB). Lân chia số dung dịch ma túy trên thành 04 lọ nhỏ đều có đặc điểm là lọ nhựa màu trắng nắp màu đen với mục đích để bán kiếm lời còn lọ nhựa ban đầu L đã vứt bỏ. Đến khoảng 14 giờ ngày 30/09/2024, Dương Minh N1, sinh năm 2004, nơi thường trú: Khu D, xã T, huyện P, tỉnh Phú Thọ sử dụng tài khoản mạng xã hội Facebook có tên “Minh N1” nhắn tin đến tài khoản có tên “Lương Tâm L” của L hỏi mua 01 lọ tinh dầu cần sa. L đồng ý bán với giá 270.000 đồng và yêu cầu chuyển tiền vào tài khoản Ngân hàng T1 số 9920042102 của L. Nhất sử dụng tài khoản Ngân hàng M1 số 0862279385 chuyển tiền cho L. Nhận được tiền, L hẹn N1 gặp ở khu vực đường dân sinh gần quán B thuộc khu A, xã P, huyện P, tỉnh Phú Thọ. Sau đó, tại đây L và Nhất gặp và giao dịch mua bán ma túy với nhau. Mua được ma túy, N1 về nhà sử dụng một mình hết cho bản thân. Đến khoảng 14 giờ 30 ngày 02/10/2024, L một mình điều khiển xe mô tô biển số 19P1-1875 đi từ nhà đến quán B thuộc khu A, xã P, huyện P, tỉnh Phú Thọ chơi. Khi đi L cầm theo 03 lọ tinh dầu cây cần sa đều có đặc điểm là lọ nhựa màu trắng nắp màu đen, bên trong chứa dung dịch màu nâu (có chứa chất ma túy MDMB) với mục đích để bán kiếm lời khi có người hỏi mua. Khi đi đến đoạn đường dân sinh gần quán B-a trên, L dừng xe ven đường thì có Tổ công tác Công an huyện P đến giới thiệu và yêu cầu kiểm tra, thu giữ ma túy như đã nêu trên.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P đã triệu tập Dương Minh N1 để làm việc, quá trình lấy lời khai và tiến hành đối chất giữa L và N1, N1 đã khai nhận hành vi mua ma túy của L vào ngày 30/9/2024, lời khai của Lương T L và Dương Minh N1 phù hợp với nhau về thời gian, địa điểm, số tiền mua ma túy và các chứng cứ tài liệu thu thập trong hồ sơ.
Về nguồn gốc lượng ma túy thu giữ của L và lượng ma túy L đã bán cho N1: L khai nhận sau khi mua được ma túy qua việc trao đổi nhắn tin qua mạng xã hội Facebook, L đã xóa hết nội dung tin nhắn, hiện nay L cũng không xác định được tài khoản F đã nhắn cho mình là tài khoản nào, do ai nhắn tin. Ngoài lời khai của L không có chứng cứ nào khác nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P không có căn cứ để xác minh, làm rõ.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P đã tiến hành kiểm tra việc sử dụng chất ma túy đối với Lương Tâm L và Dương Minh N1 bằng que thử chất ma túy, kết quả: Lân và Nhất âm tính với các chất ma túy. Tiến hành giám định chất ma túy trong các mẫu nước tiểu thu giữ của L và N1, kết quả: không tìm thấy chất ma túy và sản phẩm chuyển hóa của chất ma túy. Do vậy, không có căn cứ để xử lý đối với N1 về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.
Quá trình điều tra, Lương Tâm L đã khai nhận toàn bộ hình vi phạm tội của mình như đã nêu trên. Lời khai của bị cáo phù hợp với vật chứng đã thu giữ và các tài liệu điều tra thu thập được có trong hồ sơ vụ án.
Xác minh về tài sản, thu nhập của bị cáo: Xác minh tại UBND xã P, huyện P xác định trước khi bị bắt bị cáo làm lao động tự do, thu nhập không ổn định. Bị cáo hiện đang sinh sống cùng bố đẻ tại ngôi nhà cấp 4 trên thửa đất số 99; tờ bản đồ số 20, có diện tích 121,2m² thuộc khu A, xã P, huyện P, tỉnh Phú Thọ. Bị cáo không có tài sản gì.
Tại Bản cáo trạng số 13/CT-VKSPN ngày 07/02/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ đã truy tố bị cáo Lương Tâm L về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự;
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân, huyện P tỉnh Phú Thọ vẫn giữ nguyên Quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
* Về trách nhiệm hình sự:
- Xét xử bị cáo Lương Tâm L tội danh “Mua bán trái phép chất ma túy”;
Đề nghị áp dụng Điều 38; khoản 1, khoản 5 Điều 251; điểm r, s khoản 1; khoản 2 Điều 51 BLHS:
+ Hình phạt chính: xử phạt bị cáo từ 25 đến 28 tháng tù (bị cáo được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 02/10/2024 đến ngày 10/10/2024). Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.
+ Hình phạt bổ sung: tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 3.000.000 đồng là tài sản của bị cáo.
* Về xử lý vật chứng:
Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 1, khoản 2; khoản 3 Điều 106 BLTTHS đề nghị xử lý vật chứng:
- Tịch thu tiêu hủy:
- Lượng ma túy còn lại sau giám định được niêm phong tại Bì số 8646/C09(TT2) của V Bộ C.
- 01 phôi sim số 0559.129.764 do không có giá trị sử dụng.
- Tịch thu sung quỹ Nhà nước:
- Số tiền 270.000 đồng là tiền của bị cáo do phạm tội mà có hiện đang được tạm giữ tại tài khoản tạm giữ của Chi cục thi hành án dân sự huyện Phù Ninh.
- 01 điện thoại di động Iphone 12 màu trắng (đây là điện thoại của bị cáo sử dụng để phạm tội).
- Trả lại cho ông Lương Văn L1, sinh năm 1963, nơi thường trú: Khu A, xã P, huyện P, tỉnh Phú Thọ:
- 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda biển số 19P1-1875 (hiện nay đang là người quản lý và sử dụng).
* Về án phí:
Bị cáo phải chịu 200.000 đồng tiền án phí theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/UBTVQH14 về mức thu, miễn, giảm, thu nộp quản lý và sử dụng án phí lệ phí.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Lương Tâm L đồng ý với bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Ninh.
Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng:
Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện P, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Ninh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Về hành vi cấu thành tội phạm của bị cáo:
Hồi 14 giờ 50 phút ngày 02/10/2024, tại khu A, xã P, huyện P, tỉnh Phú Thọ, bị cáo Lương Tâm L đã có hành vi tàng trữ trên người 15ml ma túy, loại MDMB-BUTICANA; MDMB-FUBINACA (có hàm lượng trung bình là 1,199mg/ml), với mục đích để bán, bị Tổ công tác Công an huyện P phát hiện, thu giữ. Ngoài ra, vào ngày 30/9/2024, tại địa điểm nêu trên, L có hành vi bán trái phép chất ma túy loại MDMB-BUTICANA và MDMB-FUBINACA (không xác định trọng lượng) cho Dương Minh N1 với giá 270.000 đồng.
Như vậy hành vi nêu trên của bị cáo Lương Tâm L đủ yếu tố cấu thành tội Mua bán trái phép chất ma túy theo quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.
Khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự quy định:
“1. Người nào mua bán trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm...”
[3]. Xét tính chất của vụ án:
Xét tính chất của vụ án là nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, thể hiện sự coi thường pháp luật, gây bức xúc trong dư luận quần chúng nhân dân và ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương. Vì vậy cần áp dụng mức hình phạt nghiêm khắc, tương xứng với mức độ phạm tội của bị cáo nhằm cải tạo bị cáo thành người công dân có ích cho xã hội và đáp ứng yều cầu đấu tranh phòng chống tội phạm về ma túy. Tuy nhiên trước khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử xem xét đến nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo như sau:
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và bị cáo tự thú hành vi bán trái phép chất ma túy cho Dương Minh N1 ngày 30/9/2024 vì vậy bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm r,s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Ngoài ra bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự đó là ông ngoại bị cáo là Kiều Duy Đ được tặng Huân chương kháng chiến hạng Ba.
[4]. Về hình phạt bổ sung:
Theo quy định tại khoản 5 Điều 251 của Bộ luật hình sự quy định “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản” do đó bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. Xét thấy bị cáo có tài sản là số tiền 3.000.000₫ (Ba triệu đồng) đã bị cơ quan điều tra Công an huyện P thu giữ. Vì vậy cần áp dụng hình phạt bổ sung là tịch thu một phần tài sản của bị cáo L là số tiền 3.000.000đ (Ba triệu đồng) để sung vào ngân sách nhà nước.
[5]. Về xử lý vật chứng:
Đối với lượng ma túy còn lại sau giám định được niêm phong tại Bì số 8646/C09(TT2) của V Bộ C; 01 sim số 0559129764 lắp trong điện thoại Iphone 12 màu trắng thu giữ của Lương Tâm L là vật chứng của vụ án, là vật nhà nước cấm lưu hành và không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với 01 chiếc điện thoại di động Iphone 12 màu trắng đã qua sử dụng thu giữ của Lương Tâm L là phương tiện bị cáo liên lạc mua bán ma túy nên cần tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước là phù hợp.
Đối với số tiền 270.000đ là tiền bị cáo bán ma túy cho Dương Minh N1, được xác định là khoản tiền do phạm tội mà có nên cần sung vào ngân sách Nhà nước là phù hợp.
Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda biển số 19P1-1875 (xe mô tô đăng ký tên bà Kiều Thị Thu N – mẹ của bị cáo L đã chết) Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an huyện P, tỉnh Phú Thọ đã thu giữ khi bắt bị cáo L. Hiện nay xe mô tô do ông Lương Văn L1 là bố đẻ của L quản lý, cho L mượn làm phương tiện đi lại, ông L1 không biết L sử dụng để đi bán ma túy nên cần trả lại cho ông L1 xe mô tô là phù hợp.
[6]. Về án phí:
Bị cáo phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1, khoản 5 Điều 251; điểm r,s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; điểm a,b,c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a,b,c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
Tuyên bố bị cáo Lương Tâm L phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Lương Tâm L 25 (Hai mươi lăm) tháng tù. Bị cáo được khấu trừ thời gian tạm giữ từ ngày 02/10/2024 đến ngày 10/10/2024. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.
Về hình phạt bổ sung: Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước của bị cáo Lương Tâm L số tiền 3.000.000đ (Ba triệu đồng).
(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 12/02/2025 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Phù Ninh).
Về xử lý vật chứng:
- Tịch thu, tiêu hủy: Bì số 8646/C09(TT2) của V Bộ C; 01 sim số 0559129764.
- Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước của bị cáo Lương Tâm L: số tiền 270.000₫ (Hai trăm bảy mươi nghìn đồng) và 01 chiếc điện thoại di động Iphone 12 màu trắng đã cũ, đã qua sử dụng có số seri: DNPDM5T60DXQ.
- Trả lại cho ông Lương Văn L1 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda biển số 19P1-1875 đã cũ, đã qua sử dụng; số máy: HC12E0028030, số khung: RLHHC12078Y014357 (xe mô tô đăng ký tên bà Kiều Thị Thu N đã chết).
(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 12/02/2025 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Phù Ninh).
Về án phí hình sự sơ thẩm:
Bị cáo Lương Tâm L phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng)
Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Nguyễn Thị Ngọc Lan |
Bản án số 08/2025/HS-ST ngày 28/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÙ NINH, TỈNH PHÚ THỌ về hình sự (sơ thẩm) - mua bán trái phép chất ma túy
- Số bản án: 08/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Sơ thẩm) - Mua bán trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÙ NINH, TỈNH PHÚ THỌ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Mua bán trái phép chất ma túy
