|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN H TỈNH BÌNH THUẬN Bản án số: 08/2025/HNGĐ-ST Ngày 14 tháng 02 năm 2025 V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANHNƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN H, TỈNH BÌNH THUẬN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Dương Nguyên Kim.
Các Hội thẩm nhân dân:
- 1/ Ông Nguyễn Trung Trực;
- 2/ Ông Hoàng Văn Tâm.
Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thanh Nhi – Thư ký Toà án nhân dân huyện H – tỉnh Bình Thuận.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện H – tỉnh Bình Thuận tham gia phiên toà: Bà Cao Thị Nga – Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện H xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 297/2024/TLST-HNGĐ ngày 21 tháng 10 năm 2024 về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 92/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 30 tháng 12 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 06/2025/QÐST-HNGĐ ngày 17 tháng 01 năm 2025, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Bùi Thị Mỹ C, sinh năm 1993 (Có mặt). Địa chỉ: khu phố L, thị trấn T, huyện H, tỉnh Bình Thuận.
Bị đơn: Ông Trần Minh T, sinh năm 1986 (Vắng mặt). Địa chỉ: thôn P, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nguyên đơn bà Bùi Thị Mỹ C trình bày:
Về Hôn nhân: Bà Bùi Thị Mỹ C và ông Trần Minh T tự nguyện yêu nhau, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận vào ngày 25 tháng 5 năm 2022. Sau khi kết hôn vợ chồng sống ở nhà riêng của ông T tại thôn P, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc. Sau một thời gian chung sống thì vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do ông T không lo làm ăn, thường xuyên tụ tập bạn bè nhậu nhẹt về kiếm chuyện chửi bới, xúc phạm bà C. Từ đó, vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, cãi vã. Bà C cũng đã khuyên nhủ và nhiều lần bỏ qua cho ông T nhưng ông T vẫn chứng nào tật nấy, không thay đổi. Do đó, đời sống vợ chồng vì thế mà dần xa cách, không thể hòa giải hàn gắn. Khi mâu thuẫn trở nên trầm trọng thì bà C cùng người con tên là Trần Ngọc T1 D về nhà mẹ ruột ở khu phố L, thị trấn T, huyện H, tỉnh Bình Thuận sống từ ngày 21/10/2024 đến nay. Hiện tại vợ chồng đã ly thân không còn chung sống với nhau và bà C cũng không còn tình cảm gì với ông T.
Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, không thể hàn gắn chung sống hạnh phúc được nên bà Bùi Thị Mỹ C yêu cầu Toà án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Trần Minh T.
Về con chung: Bà Bùi Thị Mỹ C và ông Trần Minh T có 01 (một) con chung tên là Trần Ngọc Trúc D, sinh ngày 30/3/2023. Hiện con chung đang ở với bà Bùi Thị Mỹ C. Nguyện vọng của bà Bùi Thị Mỹ C là được quyền trực tiếp nuôi con chung là Trần Ngọc Trúc D, sinh ngày 30/3/2023.
Về phần cấp dưỡng nuôi con: Bà Bùi Thị Mỹ C không yêu cầu ông Trần Minh T cấp dưỡng nuôi người con chung vì vậy không yêu cầu Toà án giải quyết cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung, nghĩa vụ chung: Bà Bùi Thị Mỹ C không yêu cầu Toà án giải quyết.
Bị đơn ông Trần Minh T trình bày (tại bản tự khai ngày 15/11/2024):
Về hôn nhân: Ông và bà Bùi Thị Mỹ C sống chung với nhau và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận vào ngày 25 tháng 5 năm 2022. Trong quá trình chung sống vợ chồng có cãi nhau về những chuyện riêng tư. Sau đó bà C đã bế con về nhà mẹ ruột ở. Ông cũng đã nhiều lần gọi điện, nhắn tin năn nỉ nhưng bà C vẫn không đồng ý quay về. Vì giữa hai vợ chồng vẫn còn có con chung nên ông T không đồng ý ly hôn với bà Bùi Thị Mỹ C.
Về con chung: Ông Trần Văn T2 và bà Bùi Thị Mỹ C có 01 con chung tên là Trần Ngọc Trúc D, sinh ngày 30/3/2023. Con chung hiện nay đang ở với bà C. Nguyện vọng của ông Trần Văn T2 là đồng ý giao con cho bà Bùi Thị Mỹ C được quyền trực tiếp nuôi dưỡng.
Về phần cấp dưỡng nuôi con: Ông Trần Văn T2 không cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung, nợ chung, nghĩa vũ chung: Ông Trần Văn T2 không yêu cầu Toà án giải quyết.
Tại phiên tòa xét xử sơ thẩm ông Trần Minh T vắng mặt.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến: Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án:
Thẩm phán đã chấp hành đúng quy định tại Điều 48 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, nguyên đơn đã tuân thủ đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, bị đơn không chấp hành đúng và đầy đủ quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Qua lời khai của đương sự và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, có căn cứ để xác định tình trạng của vợ chồng bà Bùi Thị Mỹ C và ông Trần Minh T đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được; xét thấy bà Bùi Thị Mỹ C yêu cầu ly hôn, nuôi con là có căn cứ nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được kiểm tra, xem xét tại phiên tòa, kết quả việc tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của kiểm sát viên, các quy định của pháp luật, Tòa án nhận định:
[1] Đơn khởi kiện đề ngày 15/10/2024 của bà Bùi Thị Mỹ C được gửi trực tiếp đến Tòa án, có hình thức và nội dung theo quy định tại Điều 189 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Bà Bùi Thị Mỹ C yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp ly hôn, nuôi con. Người bị kiện là ông Trần Minh T có địa chỉ tại huyện H, tỉnh Bình Thuận. Vì vậy, Tòa án nhân dân huyện H đã thụ lý và giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[3] Về việc xét xử vắng mặt: Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 92/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 30 tháng 12 năm 2024 thì vụ án trên sẽ được đưa ra xét xử vào ngày 17 tháng 01 năm 2025. Tuy nhiên, ông Trần Minh T vắng mặt nên Hội đồng xét xử quyết định hoãn phiên tòa và ấn định ngày xét xử vào ngày 14/02/2025. Các Quyết định trên đã được Tòa án tống đạt hợp lệ theo quy định của pháp luật. Tại phiên tòa ngày 14/02/2025 ông Trần Minh T vắng mặt lần thứ hai nên căn cứ khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt ông Trần Minh T theo thủ tục quy định của pháp luật.
[4] Về yêu cầu ly hôn: Bà Bùi Thị Mỹ C và ông Trần Minh T tự nguyện yêu nhau có đăng ký kết hôn đúng quy định của pháp luật. Theo trình bày của bà Bùi Thị Mỹ C và ông Trần Minh T đều thừa nhận trong quá trình chung sống với nhau vợ chồng có mâu thuẫn, vợ chồng đã ly thân không còn sống chung với nhau, bà C hiện tại đã về nhà mẹ ruột của bà sống đến nay. Bà Bùi Thị Mỹ C do không còn tình cảm gì với ông Trần Minh T nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn. Tuy nhiên, ông Trần Minh T không đồng ý ly hôn vì lý do vợ chồng còn có con chung.
Trong quá trình giải quyết vụ án đến thời điểm mở phiên tòa xét xử vụ án bà Bùi Thị Mỹ C vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện ly hôn với ông Trần Minh T. Quá trình giải quyết, Tòa án đã tiến hành tống đạt trực tiếp cho ông Trần Minh T giấy triệu tập và toàn bộ văn bản tố tụng. Tuy nhiên, đến thời điểm mở phiên tòa xét xử vụ án ông Trần Minh T vẫn không chấp hành giấy triệu tập của Tòa án, không đến Tòa án để tham gia phiên hòa giải, phiên tòa; thể hiện ông Trần Minh T không có thiện chí mong muốn hàn gắn tình cảm vợ chồng với bà Bùi Thị Mỹ C và từ bỏ quyền, nghĩa vụ tố tụng của mình.
Hội đồng xét xử xét thấy, hai bên đương sự đã không còn sống chung với nhau, không hóa giải được mâu thuẫn để có thể hàn gắn tình cảm vợ chồng. Có căn cứ để xác định tình trạng của vợ chồng bà Bùi Thị Mỹ C và ông Trần Minh T đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Bùi Thị Mỹ C.
[5] Về con chung: Bà Bùi Thị Mỹ C và ông Trần Minh T có 01 (một) con chung tên là Trần Ngọc Trúc D, sinh ngày 30/3/2023. Hiện nay, con chung đang sống với bà Bùi Thị Mỹ C.
Nguyện vọng của bà Bùi Thị Mỹ C là được quyền trực tiếp tiếp tục nuôi người con chung và không yêu cầu ông Trần Minh T cấp dưỡng nuôi con. Theo trình bày của ông T tại bản tự khai ngày 15/11/2024 thì ông cũng đồng ý giao con chung cho bà Bùi Thị Mỹ C tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng và ông không cấp dưỡng nuôi con.
Hội đồng xét xử xét thấy cháu Trần Ngọc Trúc D, sinh ngày 30/3/2023 hiện cháu D đang sống cùng bà C ổn định, cháu D chưa đủ 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp theo quy định tại khoản 3 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình.
Do đó, căn cứ điểm c khoản 3 Điều 6 Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng thẩm phán và Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2024, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu về nuôi con chung của bà Bùi Thị Mỹ C, giao con tên Trần Ngọc Trúc D, sinh ngày 30/3/2023 cho bà Bùi Thị Mỹ C được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.
[6] Về cấp dưỡng nuôi con: Bà Bùi Thị Mỹ C không yêu cầu ông Trần Minh T cấp dưỡng nuôi con; ông Trần Minh T không có nguyện vọng cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện của các bên.
[7] Về án phí: Căn cứ khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội, bà Bùi Thị Mỹ C phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu ly hôn.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 266, Điều 269, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 51, 53, 56, 57, 58, 81, 82, 83, 84 của Luật hôn nhân và Gia đình năm 2014; Điểm c khoản 3 Điều 6 Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về Hướng dẫn một số quy định của pháp luật trong việc giải quyết vụ việc về Hôn nhân gia đình; Luật thi hành án dân sự; Điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Về hôn nhân: Bà Bùi Thị Mỹ C được ly hôn với ông Trần Minh T.
2. Về nuôi con:
2.1. Bà Bùi Thị Mỹ C được quyền trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục 01 (một) con chung tên Trần Ngọc Trúc D, sinh ngày 30/3/2023. Ông Trần Minh T không cấp dưỡng nuôi con chung.
2.2. Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở; không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình và những người khác không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
Cha, mẹ được trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án giải quyết buộc người không trực tiếp nuôi con phải giao con cho cha, mẹ được trực tiếp nuôi con theo Bản án này.
Việc thay đổi người trực tiếp nuôi con và cấp dưỡng nuôi con sau khi ly hôn có thể được thực hiện theo quy định của pháp luật.
3. Về tài sản chung, nợ chung, nghĩa vụ chung: Không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
4. Về án phí:
Bà Bùi Thị Mỹ C phải chịu án phí sơ thẩm đối với yêu cầu ly hôn số tiền là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), được khấu trừ số tiền Bùi Thị Mỹ C nộp tạm ứng án phí là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền số 0014991 ngày 16 tháng 10 năm 2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện H, như vậy bà Bùi Thị Mỹ C đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
5. Quyền kháng cáo: Án xử sơ thẩm công khai, có mặt nguyên đơn báo cho biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (Ngày 14/02/2025). Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án.
|
Nơi nhận:
|
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Dương Nguyên Kim |
Bản án số 08/2025/HNGĐ-ST ngày 14/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN H, TỈNH BÌNH THUẬN về tranh chấp ly hôn, nuôi con
- Số bản án: 08/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 14/02/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN H, TỈNH BÌNH THUẬN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: LY HON NUOI CON
