TAND HUYỆN TÂN UYÊN TỈNH LAI CHÂU Bản án số: 08/2024/HS-ST Ngày 05-11-2024 | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN UYÊN, TỈNH LAI CHÂU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Dương Thanh Bắc.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Nam Giang; Ông Đỗ Đình Cường.
- Thư ký phiên toà: Ông Giang Tiến Hiệp - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu tham gia phiên toà: Bà Lương Thị Vân - Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 11 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Uyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 05/2024/TLST-HS ngày 02 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 08/2024/QĐXXST-HS ngày 23/10/2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Vàng Văn L; giới tính: Nam; sinh ngày 10/7/1997; Nơi sinh: Xã T, huyện T, tỉnh Lai Châu; Nơi cư trú: Bản H, xã T, huyện T, tỉnh Lai Châu; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Thái; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 09/12; Con ông Vàng Văn D, sinh năm 1977 và con bà Hoàng Thị P, sinh năm 1977; Gia đình có 02 anh, em, bị cáo là con thứ nhất trong gia đình. Bị cáo chưa có vợ, con. Tiền án: Không; tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt quả tang, tạm giữ từ hồi 16 giờ 40 phút ngày 19/6/2024, đến ngày 25/6/2024 bị áp dụng biện pháp tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện T, tỉnh Lai Châu. Có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Bà Hoàng Thị P, sinh năm 1977; nơi cư trú: Bản H, xã T, huyện T, tỉnh Lai Châu. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 19/6/2024, Vàng Văn L, sinh năm 1997 điều khiển xe mô tô biển kiểm soát: 36AE-002.79 đi từ nhà tại bản H xã T, huyện T đến bản C, thị trấn T, huyện T mục đích để tìm mua Heroin sử dụng. Khi đến đồi chè ở bản C, L gặp một người đàn ông không rõ nhân thân, lai lịch. Qua trao đổi, L hỏi và mua được của người đàn ông này 01 gói Heroin được gói bằng 01 mảnh giấy bạc một mặt màu vàng, một mặt màu trắng với giá 100.000 đồng. Sau khi mua được H, L cầm ở trong lòng bàn tay trái rồi điều khiển xe mô tô đi về nhà. Đến 12 giờ 30 phút cùng ngày, khi L đang trên đường về thuộc bản C, thị trấn T, huyện T, tỉnh Lai Châu, thì bị công an thị trấn T, huyện T bắt quả tang về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Công an thu giữ trong lòng bàn tay trái của L 01 gói Heroin được gói bằng 01 mảnh giấy bạc một mặt màu vàng, một mặt màu trắng có khối lượng 0,17 gam, mục đích để sử dụng và thu giữ 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, số loại Wave A, biển kiểm soát: 36AE-002.79, màu xanh, số khung: RLHJA3934RY005555, số máy: JA70E0259837, xe đã qua sử dụng.
Ngày 19/6/2024, cơ quan Cảnh sát điều tra công an huyện T đã tiến hành thành lập Hội đồng mở niêm phong, xác định khối lượng, lấy mẫu vật giám định và niêm phong vật chứng. Tại kết luận giám định số 64/KL-TCGĐ ngày 19/6/2024 của người giám định tư pháp theo vụ việc kết luận: Vật chứng nghi là chất ma túy thu giữ của Vàng Văn L có khối lượng là 0,17 gam.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã lấy toàn bộ 0,17 gam chất bột khô, màu trắng thu giữ của Vàng Văn L theo L khai nhận là H gửi giám định. Tại bản kết luận giám định số 814/KL-KTHS ngày 21/6/2024 của Phòng K Công an tỉnh L kết luận: 01 (một) Mẫu chất bột, màu trắng gửi giám định là ma túy, loại Heroine (H1), có tên khoa học là: Diacetylmorphine, được quy định tại Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất ma túy.
Bản Cáo trạng số: 78/CT-VKS-TU ngày 02/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu đã truy tố bị cáo Vàng Văn L về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về bản kết luận điều tra số 75/KLĐT ngày 10/9/2024 của Cơ quan CSĐT Công an huyện T, tỉnh Lai Châu và bản Cáo trạng nêu trên.
Tại phiên tòa, vị đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249;
điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy: 01 mảnh giấy bạc một mặt màu vàng, một mặt màu trắng. Tịch thu, hóa giá sung vào Ngân sách Nhà nước 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, số loại Wave A, biển kiểm soát: 36AE-002.79, màu xanh, số khung: RLHJA3934RY005555, số máy: JA70E0259837, xe đã qua sử dụng; miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo và bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung bản Cáo trạng, không có ý kiến tranh luận đối với quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Uyên.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Hoàng Thị P có ý kiến xin được nhận lại chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, số loại Wave A, biển kiểm soát: 36AE-002.79, màu xanh, số khung: RLHJA3934RY005555, số máy: JA70E0259837, xe đã qua sử dụng.
Tại lời nói sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên,Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Uyên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội:
Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với nội dung vụ án, phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thu thập hợp pháp. Như vậy, có đủ cơ sở để xác định:
Hồi 12 giờ 30 phút, ngày 19/6/2024, tại bản C, thị trấn T, huyện T, tỉnh Lai Châu, Vàng Văn L đang có hành vi tàng trữ trái phép 01 gói Heroin được gói bằng 01 mảnh giấy bạc một mặt màu vàng, một mặt màu trắng có khối lượng 0,17 gam, mục đích để sử dụng thì bị Công an thị trấn T, huyện T phát hiện bắt quả tang. Bị cáo Vàng Văn L là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự.
Bị cáo Vàng Văn L là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự nên hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo nhận thức được việc tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Hành vi đó là nguy hiểm cho xã hội, có tính chất nghiêm trọng, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý các chất ma tuý của Nhà nước, gây mất trật tự trị an trên địa bàn nên cần được xử lý nghiêm minh.
[3] Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:
Về nhân thân: Từ nhỏ đến năm 15 tuổi bị cáo được bố mẹ nuôi ăn học hết lớp 9/12 sau đó nghỉ học làm nghề tự do, sinh sống tại bản Hua Cưởm 1, xã T, huyện T, tỉnh Lai Châu. Từ năm 2023 đến tháng 4 năm 2024 bị cáo làm nghề lao động tự do tại tỉnh Quảng Ninh (không đăng ký tạm trú, tạm vắng). Từ tháng 4 năm 2024 đến nay bị cáo sinh sống tại bản Hua Cưởm 1, xã T, huyện T, tỉnh Lai Châu. Ngày 19/6/2024 bị cáo bị Công an thị trấn T bắt quả tang về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Ngày 24/6/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T khởi tố về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; bị cáo là người đồng bào dân tộc thiểu số, sống ở vùng sâu, vùng xa, nên nhận thức pháp luật còn có phần hạn chế. Do vậy, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Không có.
Trên cơ sở tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo. Xét thấy cần thiết phải có mức hình phạt nghiêm khắc đối với bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để răn đe, giáo dục, cải tạo bị cáo thành công dân có ích cho xã hội. Vì vậy, quan điểm đề nghị về tội danh, mức hình phạt đối với bị cáo của vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là hoàn toàn có cơ sở, đúng pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[4] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền nhưng bị cáo nghề nghiệp tự do, nguồn thu nhập thấp. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[5] Về vật chứng còn lại của vụ án: 01 mảnh giấy bạc một mặt màu vàng, một mặt màu trắng, Hội đồng xét xử xét thấy không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy theo khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, số loại Wave A, biển kiểm soát: 36AE-002.79, màu xanh, số khung: RLHJA3934RY005555, số máy: JA70E0259837, xe đã qua sử dụng. Hội đồng xét xử xét thấy tại phiên tòa bị cáo khai nhận đã mang tiền và trực tiếp đi mua xe hộ cho mẹ của bị cáo là bà Hoàng Thị P. Bà Hoàng Thị P cũng thừa nhận chiếc xe mô tô trên là do bà dùng tiền của gia đình nhờ bị cáo mua hộ nhưng trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không xuất trình được tài liệu, chứng cứ nào thể hiện việc bà Hoàng Thị P đưa tiền cho bị cáo và nhờ bị cáo mua xe hộ. Quá trình điều tra, cơ quan Cảnh sát điều tra cũng đã tiến hành xác minh đối với người bán chiếc xe mô tô trên và xác định bị cáo Vàng Văn L là người trực tiếp giao dịch mua bán xe, nhận xe. Do đó, Hội đồng xét xử xác định chiếc xe mô tô trên là tài sản hợp pháp của bị cáo, bị cáo đã dùng để đi mua Heroin thực hiện hành vi phạm tội, do đó cần thiết phải tịch thu, hóa giá nộp Ngân sách Nhà nước. Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của vị Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Uyên, không chấp nhận yêu cầu của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Hoàng Thị P.
[6] Những vấn đề liên quan:
Về nguồn gốc 0,17 gam Heroin, Vàng Văn L khai do L mua của một người đàn ông không rõ nhân thân, lai lịch ở bản C, thị trấn T, huyện T. Quá trình điều tra, xác minh không xác định được người đàn ông này nên không có căn cứ để xử lý.
Đối với chị Hoàng Thị P, tự khai nhận, bản thân là chủ sở hữu đối với chiếc xe mô tô do Vàng Văn L điều khiển đi mua Heroin. Quá trình điều tra xác định chị P không biết việc L dùng xe đi mua và tàng trữ Heroin, vì vậy cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T không xem xét xử lý đối với chị Hoàng Thị P là đúng quy định.
[7] Về án phí: Bị cáo bị kết án phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 135; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ
Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106; Điều 135; Điều 136; Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự;
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Vàng Văn L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Về hình phạt: Xử phạt bị cáo 01 (Một) năm 06 (S) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 19/6/2024.
- Về vật chứng:
- - Tịch thu tiêu hủy: 01 mảnh giấy bạc một mặt màu vàng, một mặt màu trắng.
- - Tịch thu, hóa giá, nộp vào Ngân sách Nhà nước: 01 xe mô tô biển kiểm soát: 36AE-002.79, màu xanh, số khung: RLHJA3934RY005555, số máy: JA70E0259837, xe đã qua sử dụng.
(Tình trạng vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng vào hồi 09 giờ 20 phút ngày 28/10/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T với Chi Cục thi hành án dân sự huyện Tân Uyên)
- Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Dương Thanh Bắc |
Bản án số 08/2024/HS-ST ngày 05/11/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN UYÊN, TỈNH LAI CHÂU về hình sự sơ thẩm về tội tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 08/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 05/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN UYÊN, TỈNH LAI CHÂU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Xử phạt 01 năm 06 tháng tù
