|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Bản án số: 794/2024/DS – ST Ngày: 19 - 9 - 2024 V/v: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”. |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Viết Hoàng Lâm
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Võ Kim Hường
2. Bà Trần Quang Cảnh
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Kiều Oanh - Thư ký Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú tham gia phiên toà: Bà Đặng Thị Thu Hương – Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án Dân sự thụ lý số 425/2018/TLST-DS ngày 04 tháng 12 năm 2018, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 1016/2024/QĐXXST-DS ngày 05 tháng 8 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 1309/2024/QĐST-DS ngày 28 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP Q; trụ sở: Tầng A, tầng F và tầng 7 Tòa nhà CornerStone, số A P, phường P, quận H, thành phố Hà Nội.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Phan Anh Thoặc bà Võ Đinh Thị Ánh T1 hoặc ông Vương Quốc H; Cùng địa chỉ: Tầng F, Tòa nhà P, số B đường U, Phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh (Văn bản ủy quyền số 07172424 ngày 09/4/2024) – Ông H có mặt.
- Bị đơn: Bà Lê Thị Minh T2, sinh năm 1983; Địa chỉ: C đường Đ, phường S, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh – Vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Công ty cổ phần Đ; Địa chỉ: Số A, đường số A, Khu dân cư V, ấp C, xã T, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Hoàng Ngọc P, sinh năm 1973; Địa chỉ: Số A, đường số A, Khu dân cư V, Ấp C, xã T, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh (Giấy ủy quyền số 08/UQ-NSHC ngày 27 tháng 3 năm 2023) – Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay nguyên đơn Ngân hàng TMCP Q do ông Vương Quốc H làm người đại diện theo ủy quyền trình bày:
Ngày 12/05/2011, Ngân hàng TMCP Q – Chi nhánh H2 - Phòng G (sau đây gọi tắt là V) ký với bà Lê Thị Minh T2 hợp đồng tín dụng số 0057/HĐTD1-VIB639/11 với nội dung: VIB cho bà Lê Thị Minh T2 vay số tiền: 918.720.000 đồng; mục đích vay vốn: Bổ sung vốn mua Căn hộ B2 Chung cư B, T - B thuộc dự án khu dân cư V T- B của bên vay; thời hạn vay 120 tháng kể từ ngày nhận nợ lần đầu tiên. Lãi suất vay: 24%/năm, điều chỉnh 03 tháng/lần bằng lãi suất điều chuyển vốn kinh doanh, kỳ hạn 03 tháng của V tại thời điểm điều chỉnh cộng biên độ 5%/ năm, phù hợp với chính sách lãi suất của V và quy định của pháp luật.
Hình thức giải ngân là chuyển khoản vào tài khoản số 619704068686868 của Công ty CP Đ1 thác CTGT 584 tại V. Trả nợ gốc hàng tháng theo phụ lục hợp đồng 0057/HĐTD1-VIB639/11 cùng ngày trả lãi. Trả lãi hàng tháng vào ngày 16; ngày trả cuối cùng là ngày 16/05/2021. Ngày 16/5/2011, V đã giải ngân cho bà Lê Thị Minh T2 khế ước nhận nợ số 0057/KUNN-VIB639/11, số tiền 918.720.000 đồng, theo đúng yêu cầu của khách hàng.
Biện pháp bảo đảm tiền vay:
Tài sản bảo đảm cho khoản vay trên là Căn hộ B2 Chung cư B, T - B, Thành phố Hồ Chí Minh theo Hợp đồng mua bán Căn hộ số 223/CCB/HĐMB-TKBC ký ngày 15/04/2011 giữa Công ty cổ phần Đ và khai thác công trình giao thông 584 và bà Lê Thị Minh T2. Sau khi nhận bàn giao căn hộ ngày 20/04/2011, bà Lê Thị Minh T2 đã thế chấp tài sản nêu trên cùng toàn bộ vật phụ, trang thiết bị kèm theo và phần giá trị công trình, diện tích cải tạo, đầu tư xây dựng thêm gắn liền với diện tích nhà đất đã thế chấp cho V theo Hợp đồng thế chấp Căn hộ (của khách hàng là cá nhân) số 0057/HĐTC-VIB639/11 ký ngày 12/05/2011. Ngày 16/05/2011, Tổng giám đốc Công ty cổ phần Đ và khai thác công trình giao thông 584 đã ký xác nhận phong tỏa tài sản nêu trên khi nhận được đề nghị số 005/2011/VIB của V. Việc thế chấp và đăng ký giao dịch bảo đảm theo đúng quy định của pháp luật.
Quá trình thực hiện hợp đồng:
Từ ngày 16/05/2011 đến ngày 07/11/2023, bà Lê Thị Minh T2 đã thanh toán cho V tổng số tiền 107.499.192 đồng (bao gồm tiền gốc: 15.000.000 đồng; tiền lãi: 92.499.192 đồng), bà Lê Thị Minh T2 luôn vi phạm nghĩa vụ thanh toán nợ gốc và lãi phát sinh. Bà T2 đã không thực hiện việc trả nợ gốc, lãi đúng cam kết, do đó khoản vay đã quá hạn thanh toán từ ngày 16/11/2011.
Nay Ngân hàng khởi kiện yêu cầu bà Lê Thị Minh T2 phải trả ngay cho Ngân hàng TMCP Q tổng số tiền tạm tính đến ngày 18/9/2024, tổng số tiền là 5.311.281.010 đồng (Năm tỷ ba trăm mười một triệu hai trăm tám mươi mốt nghìn không trăm mười) đồng, trong đó: Nợ gốc 903.720.000 đồng (Chín trăm lẻ ba triệu bảy trăm hai mươi nghìn) đồng, lãi trong hạn 1.130.360.527 (Một tỷ một trăm ba mươi triệu ba trăm sáu mươi nghìn năm trăm hai mươi bảy) đồng, lãi quá hạn 3.277.200.483 (Ba tỷ hai trăm bảy mươi bảy triệu hai trăm nghìn bốn trăm tám mươi ba) đồng.
Bà T2 phải tiếp tục trả lãi từ ngày 19/9/2024 cho đến khi bà Lê Thị Minh T2 thanh toán xong toàn bộ khoản nợ theo quy định tại Hợp đồng tín dụng số 0057/HĐTD1-VIB639/11 và khế ước nhận nợ số 0057/KUNN-VIB639/11.
Trong trường hợp bà Lê Thị Minh T2 không trả được nợ, hoặc trả nợ không đầy đủ thì Ngân hàng TMCP Q được quyền đề nghị các cơ quan có thẩm quyền thực hiện thủ tục kê biên, phát mãi tài sản thế chấp là Căn hộ B2 Chung cư B, T - B, Thành phố Hồ Chí Minh theo Hợp đồng mua bán Căn hộ số 223/CCB/HĐMB-TKBC ký ngày 15/04/2011 giữa Công ty cổ phần Đ và khai thác công trình giao thông 584 và bà Lê Thị Minh T2 cùng toàn bộ vật phụ, trang thiết bị kèm theo và phần giá trị công trình, diện tích cải tạo, đầu tư xây dựng thêm gắn liền với diện tích nhà đất, để thu hồi nợ vay cho Ngân hàng TMCP Q.
Quá trình giải quyết tại Tòa án, V đã tạm ứng nộp chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ số tiền 5.000.000 đồng, đề nghị Tòa án tuyên bị đơn có trách nhiệm hoàn lại cho Ngân hàng số tiền tạm ứng nêu trên. Toàn bộ số tiền thu được từ việc bán và xử lý tài sản bảo đảm được dùng để thanh toán nghĩa vụ trả nợ cho bên vay vốn với V. Trường hợp nếu số tiền thu được từ bán và xử lý tài sản bảo đảm không đủ để thanh toán hết khoản nợ thì bên vay vốn vẫn phải có nghĩa vụ trả hết khoản nợ còn lại cho Ngân hàng TMCP Q.
Đối với ý kiến của Công ty Cổ phần Đ (viết tắt Công ty Đ) về việc thỏa thuận thanh lý Hợp đồng mua bán giữa Công ty Đ với bà Lê Thị Minh T2, V có ý kiến như sau: Ngày 12/05/2011, bà Lê Thị Minh T2 đã ký Hợp đồng số 0057/HĐTC-VIB639/11 thế chấp tài sản cho V là Căn hộ mã số B2 Chung cư B, Tầng trệt, căn hộ số 02, tổng diện tích sử dụng 95.70 m² để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ dân sự đối với V, bao gồm: Tiền vay (nợ gốc), lãi vay, lãi quá hạn, chi phí xử lý tài sản thế chấp, các khoản chi phí khác theo Hợp đồng tín dụng số 0057/HĐTD1-VIB639/11 ngày 12/05/2011. Bà Lê Thị Minh T2 đã thực hiện thanh toán hai đợt cho Công ty cổ phần Đ và khai thác công trình giao thông 584, tổng cộng là 1.378.080.000 đồng (cụ thể: thanh toán 459.360.000 đồng theo Phiếu thu số 00117 ngày 19/04/2011 và 918.720.000 đồng là số tiền bà T2 vay của V để thanh toán tiền mua căn hộ, đã được VIB chuyển khoản cho Công ty cổ phần Đ và khai thác công trình giao thông 584 ngày 16/05/2011). Bà Lê Thị Minh T2 đã thực tế nhận căn hộ như thỏa thuận tại hợp đồng từ Công ty cổ phần Đ và khai thác công trình giao thông 584 theo Biên bản bàn giao căn hộ số 223/CCB/BBBGCH-TKBC ngày 20/04/2011. Căn cứ thỏa thuận tại Điều 3 Hợp đồng mua bán căn hộ số 223/CCB/HĐMB-TKBC ngày 15/04/2011 thì bà T2 được toàn quyền sử dụng căn hộ và có quyền sở hữu về mặt thực tế, phải chịu mọi hư hỏng tổn thất liên quan đến lỗi sử dụng căn hộ của mình kể cả khi có sự kiện bất khả kháng đối với căn hộ. Do vậy, việc bà T2 thế chấp căn hộ này là phù hợp với quy định của pháp luật về thế chấp tài sản hình thành trong tương lai tại khoản 1 Điều 342 Bộ luật Dân sự 2005, Nghị định số 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 của Chính phủ về giao dịch bảo đảm, Nghị định số 11/2012/NĐ-CP ngày 10/04/2012 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 của Chính phủ về giao dịch bảo đảm.
Mặt khác, ngay sau khi Hợp đồng thế chấp căn hộ được ký kết, ba bên gồm bà Lê Thị Minh T2 (khách hàng vay – bên thế chấp), V (bên nhận thế chấp) và Công ty cổ phần Đ và khai thác công trình giao thông 584 (bên bán căn hộ) cùng ký Đề nghị xác nhận phong tỏa số 005/2011/VIB có hiệu lực kể từ ngày 16/05/2011. Tại mục 5 Công văn này, V đề nghị Công ty Đ không xác nhận cho khách hàng (bà T2) chuyển nhượng, thế chấp, cầm cố, tặng cho, mua bán hoặc thực hiện bất kỳ giao dịch nào liên quan đến tài sản thế chấp nếu không có sự chấp thuận bằng văn bản của V trong thời gian nhà hoặc quyền sử dụng đất chưa có nhà ở và các tài sản gắn liền với đất chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và chưa có thông báo giải tỏa bằng văn bản của V và Công ty Đ đã xác nhận theo đề nghị của V.
Theo quy định tại Điểm b khoản 2 Điều 4 Nghị định 102/2017/NĐ-CP ngày 01/09/2017 V đã đăng ký biện pháp bảo đảm theo Hợp đồng thế chấp căn hộ số 0057/HĐTC-VIB639/11 ngày 12/05/2011 là quyền tài sản phát sinh từ Hợp đồng mua bán căn hộ “Dự án: Khu dân cư & T - B” tại Trung tâm đăng ký giao dịch, tài sản tại Thành phố Hồ Chí Minh có hiệu lực từ ngày 08/11/2017, có số đơn đăng ký 1268099412.
Ngày 31/01/2012, bà Lê Thị Minh T2 thỏa thuận ký kết Biên bản thanh lý hợp đồng số 223/BBTLHĐ/CCB-TKBC với Công ty Đ là vi phạm thỏa thuận tại Khoản 4 Điều 3 Hợp đồng thế chấp căn hộ số 0057/HĐTC-VIB639/11 ngày 12/05/2011, cụ thể: “Bên thế chấp không được sử dụng tài sản thế chấp để thế chấp hoặc bảo đảm cho nghĩa vụ khác; không được chuyển nhượng, bán, trao đổi, tặng cho, góp vốn hoặc có bất kỳ hình thức nào làm chuyển dịch quyền sở hữu, quyền sử dụng đối với tài sản thế chấp, trừ trường hợp có văn bản đồng ý của V”.
Như vậy, việc bà Lê Thị Minh T2 và Công ty Đ thỏa thuận ký kết Biên bản thanh lý hợp đồng số 223/BBTLHĐ/CCB-TKBC ngày 31/01/2012 là giao dịch dân sự vô hiệu theo quy định tại Điều 128 Bộ luật dân sự năm 2005 (có hiệu lực tại thời điểm thực hiện giao dịch dân sự), đồng thời vi phạm nguyên tắc tự do, tự nguyện cam kết thỏa thuận quy định tại Điều 4 Bộ luật này. Trong quá trình xử lý khoản vay của bà Lê Thị Minh T2, V đã nhận được Công văn số 358/KT ngày 03/06/2013 của Công ty Đ về việc xử lý nợ quá hạn của Khách hàng Công ty Đ vay tiền tại Ngân hàng V, theo đó Công ty Đ đề nghị mua lại toàn bộ các hợp đồng (trong đó có Hợp đồng của bà Lê Thị Minh T2) bằng đúng với số tiền gốc mà khách hàng đã vay tại Ngân hàng V. Tuy nhiên, hiện nay tài sản là Căn hộ mã số B2 Chung cư B, Tầng trệt, căn hộ số 02, tổng diện tích sử dụng 95.70 m² theo Hợp đồng mua bán căn hộ “Dự án: Khu dân cư & T - B” vẫn đang được thế chấp tại V.
2/ Quá trình giải quyết vụ án bị đơn bà Lê Thị Minh T2 vắng mặt không có lý do nên không có ý kiến trình bày.
3/ Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Công ty cổ phần Đ (gọi tắt là công ty Đ) do ông Hoàng Ngọc P làm người đại diện theo ủy quyền vắng mặt nhưng có bản tự khai có nội dung như sau:
Công ty Đ là chủ đầu tư dự án Khu dân cư T theo quyết định giao đất số: 3309/QĐ-UBND ngày 01/07/2005 của Ủy ban nhân dân Thành phố H. Ngày 15/4/2011, Công ty Đ ký kết hợp đồng mua bán căn hộ số 223/CCB/HĐMB-TKBC với bà Lê Thị Minh T2 (Hợp đồng mua bán Công ty đã cung cấp cho Tòa)
- - Mã căn hộ: B2
- - Diện tích: 95,70m²
- - Đơn giá (đã bao gồm VAT): 16.000.000đ/m²
- - Thành tiền: 1.531.200.000 ₫
- - Thời hạn bàn giao căn hộ: Quý II/2011
Để thanh toán tiền mua căn hộ theo hợp đồng số 223/CCB/HĐMB-TKBC, ngày 19/4/2011 bà Lê Thị Minh T2 mượn Công ty Đ số tiền: 459.360.000 đồng (Bốn trăm năm mươi chín triệu ba trăm sáu mươi nghìn đồng) với thời hạn là 12 tháng (Hợp đồng mượn tiền số 223/KT ngày 19/4/2011 và phiếu chi bà Lê Thị Minh T2 nhận tiền số 000355 ngày 19/4/2011 Công ty đã cung cấp cho Tòa). Số tiền bà Lê Thị Minh T2 nộp tiền cho Công ty Đ để mua căn hộ B2 theo hợp đồng số 223/CCB/HĐMB-TKBC tương ứng với 40% giá trị căn hộ. Sau đó bà Lê Thị Minh T2 vay vốn tại Ngân hàng TMCP Q để thanh toán theo tiến độ của hợp đồng số 223/CCB/HĐMB-TKBC. Từ khi hết thời hạn vay tiền vào ngày 19/4/2012 đến nay, bà Lê Thị Minh T2 chưa trả tiền theo hợp đồng mượn tiền số 223/KT ngày 19/4/2011 cho Công ty Đ. Tính đến ngày 15/5/2021 là 966.799.680 đồng (trong đó nợ gốc: 459.360.000 đồng; nợ lãi 507.439.680 đồng). Do không trả được tiền nên bà T2 đã thỏa thuận thanh lý hợp đồng mua bán căn hộ số 223/CCB/HĐMB-TKBC với Công ty Đ (Biên bản thanh lý hợp đồng số 223/BBTLHĐ/CCB-TKBC ngày 31/01/2012). Theo biên bản thanh lý hợp đồng số 223/BBTLHĐ/CCB-TKBC ngày 31/01/2012 thì hợp đồng mua bán căn hộ số 223/CCB/HĐMB-TKBC ngày 15/4/2011 đã được Công ty Đ và bà T2 thống nhất thanh lý do căn hộ B2 không còn thuộc sở hữu của bà Lê Thị Minh T2.
Đối với yêu cầu khởi kiện Ngân hàng TMCP Q, Công ty Đ có ý kiến như sau :
- - Căn hộ B2 theo hợp đồng mua bán căn hộ số 223/CCB/HĐMB-TKBC đã thanh lý và không còn liên quan đến bà Lê Thị Minh T2.
- - Ngoài ra, bà Lê Thị Minh T2 còn có nghĩa vụ trả cho Công ty Đ số tiền đã mượn để mua căn hộ là: 966.799.680 đồng (Chín trăm sáu mươi sáu triệu bảy trăm chín mươi chín nghìn sáu trăm tám mươi đồng).
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
- + Về việc tuân theo pháp luật: Đương sự, Thư ký và Hội đồng xét xử đều tuân theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.
- + Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu của Ngân hàng Thương mại cổ phần Q.
Buộc bà Lê Thị Minh T2 phải trả ngay cho Ngân hàng số tiền tính đến ngày 18/9/2024 là 5.311.281.010 đồng trong đó nợ gốc là 903.720.000 đồng, tiền lãi là 4.407.525.000 đồng. Bà T2 phải tiếp tục trả lãi quá hạn kể từ ngày 19/9/2024 cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ theo quy định tại Hợp đồng tín dụng số 0057/HĐTD1-VIB639/11 và khế ước nhận nợ số 0057/KUNN-VIB639/11. Trong trường hợp bà T2 không trả nợ hoặc trả nợ chưa đủ thì Ngân hàng có quyền đề nghị cơ quan có thẩm quyền làm thủ tục kê biên phát mại tài sản thế chấp là Căn hộ B2 chung cư B, T - B, Thành phố Hồ Chí Minh theo Hợp đồng mua bán căn hộ số 223/CCB/HĐMB-TKBC ký ngày 15/4/2011 giữa Công ty cổ phần Đ và khai thác công trình giao thông 584 và bà Lê Thị Minh T2 cùng toàn bộ vật phụ, trang thiết bị kèm theo và phần giá trị công trình, diện tích cải tạo, đầu tư xây dựng thêm gắn liền với diện tích nhà đất để thu hồi nợ vay cho Ngân hàng.
Toàn bộ số tiền thu được từ việc bán và xử lý tài sản thế chấp được dùng để thanh toán nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng. Trường hợp số tiền thu được từ bán và xử lý tài sản thế chấp không đủ để thanh toán hết khoản nợ thì bà T2 phải có nghĩa vụ trả hết khoản nợ còn lại cho Ngân hàng.
Bà T2 có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng tiền chi phí xem xét thẩm định tại chỗ là 5.000.000 đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
- [1] Về quyền khởi kiện, quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết:
Căn cứ đơn khởi kiện của Ngân hàng TMCP Q, Hội đồng xét xử xác định đây là vụ án tranh chấp về hợp đồng tín dụng. Do bị đơn bà Lê Thị Minh T2 có hộ khẩu thường trú tại quận T, nên Tòa án nhân dân quận Tân Phú thụ lý giải quyết là phù hợp theo quy định tại khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
- [2] Về thủ tục tố tụng: Bà Lê Thị Minh T2; Công ty Cổ phần Đ đã được Tòa án nhân dân quận Tân Phú tống đạt hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do. Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt bà T2 và Công ty Đ theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.
- [3] Xét yêu cầu của nguyên đơn:
- [3.1] Về nợ gốc:
Căn cứ Hợp đồng tín dụng số 0057/HĐTD-VIB639/11 ngày 12/5/2011, Khế ước nhận nợ và quá trình thanh toán, Hội đồng xét xử có cơ sở xác định bà Lê Thị Minh T2 và Ngân hàng TMCP Q (viết tắt là V) có ký kết hợp đồng tín dụng số 0057/HĐTD-VIB639/11 ngày 12/5/2011, nên buộc các bên phải thực hiện các thỏa thuận theo hợp đồng. Quá trình thực hiện hợp đồng bà T2 chưa thanh toán dư nợ gốc cho V tính đến ngày 18/9/2024 là 903.720.000 đồng.
Tại Điều 4 của Hợp đồng tín dụng 0057/HĐTD-VIB639/11 ngày 12/5/2011 giữa V và bà Lê Thị Minh T2 quy định về thời hạn trả nợ. Theo quy định, khách hàng trả không đầy đủ, đúng hạn khoản cấp tín dụng theo hợp đồng thì coi là sự kiện vi phạm.
Căn cứ khoản 1 Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng quy định: “Tổ chức tín dụng có quyền chấm dứt việc cấp tín dụng, thu hồi nợ trước hạn khi phát hiện khách hàng cung cấp thông tin sai sự thật, vi phạm các quy định trong hợp đồng cấp tín dụng”.
- Xét bị đơn bà Lê Thị Minh T2 đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ, không tiếp tục trả nợ cho VIB mặc dù đã được V thông báo nhắc nợ nhưng phía bị đơn vẫn không thanh toán đầy đủ số tiền nợ gốc cho V là đã vi phạm điều khoản thoản thuận giữa các bên theo các hợp đồng đã ký. Do đó việc Ngân hàng TMCP Q khởi kiện bà Lê Thị Minh T2 yêu cầu thanh toán nợ gốc 903.720.000 đồng là có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
- [3.2] Về yêu cầu thanh toán lãi:
- Theo Hợp đồng tín dụng số 0057/HĐTD-VIB639/11 ngày 12/5/2011 và Khế ước nhận nợ ngày 16/5/2011, ngày thanh toán cuối cùng là ngày 16/05/2021. Đồng thời, ghi nhận thời hạn vay là 120 tháng với lãi suất vay 24%/năm, lãi suất nợ quá hạn là 150% lãi suất cho vay.
Tại khoản 2 Điều 95 Luật Các tổ chức tín dụng quy định: "Trong trường hợp khách hàng không trả được nợ đến hạn thì tổ chức tín dụng có quyền xử lý nợ theo hợp đồng tín dụng", ngoài ra tại khoản 2 Điều 91 Luật Các tổ chức tín dụng quy định: "Tổ chức tín dụng và khách hàng có quyền thỏa thuận về lãi suất, phí cấp tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng theo quy định của pháp luật". Vì Ngân hàng có chức năng hoạt động tín dụng nên lãi suất sẽ do thỏa thuận giữa tổ chức tín dụng và khách hàng. Do đó, nguyên đơn căn cứ vào lãi suất thỏa thuận giữa hai bên tại hợp đồng tín dụng, giấy nhận nợ để tính lãi là phù hợp quy định tại Điều 91 Luật Các tổ chức tín dụng. Xét, do bà Lê Thị Minh T2 vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên Ngân hàng yêu cầu bị đơn trả tiền lãi là có cơ sở, Hội đồng xét xử chấp nhận.
Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử có cơ sở chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, buộc bị đơn bà Lê Thị Minh T2 phải có trách nhiệm thanh toán toàn bộ nợ gốc và lãi theo Hợp đồng tín dụng số 0057/HĐTD-VIB639/11 ngày 12/5/2011 và Khế ước nhận nợ ngày 16/5/2011 tạm tính đến ngày 18/9/2024 là 5.311.281.010 đồng (trong đó nợ gốc là 903.720.000 đồng; nợ lãi trong hạn là 1.130.360.527 đồng; nợ lãi quá hạn là 3.277.200.483 đồng).
- [3.3]. Về thời hạn thanh toán: Xét, Ngân hàng yêu cầu bà Lê Thị Minh T2 phải thanh toán toàn bộ khoản nợ gốc và lãi một lần ngay sau khi án có hiệu lực. Do bà Lê Thị Minh T2 đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo thỏa thuận tại hợp đồng nên yêu cầu của ngân hàng là có cơ sơ chấp nhận.
- [3.1] Về nợ gốc:
- [4] Về yêu cầu xử lý tài sản bảo đảm:
- [4.1] Căn cứ Hợp đồng mua bán căn hộ số 223/CCB/HĐMB-TKBC ngày 15/4/2011, bà Lê Thị Minh T2 mua căn hộ mã B2 chung cư B, tầng trệt căn hộ số 02, tổng diện tích sử dụng là 95,7 m² thuộc Dự án Khu dân cư và căn hộ cao tầng 584 T - B, tại xã T, huyện B từ Công ty Cổ phần Đ với giá 1.531.200.000 đồng (Đã bao gồm tiền sử dụng đất và các khoản thuế, phí, lệ phí mà bên mua được cấp giấy chứng nhận). Theo Biên bản bàn giao căn hộ 223/CCB/BBBGCH-TKBC ngày 20/04/2011 thì bà Lê Thị Minh T2 đã thực tế nhận căn hộ như thỏa thuận của Hợp đồng mua bán nêu trên từ Công ty Đ, đồng thời bên bán không bảo lưu quyền sở hữu đối với căn hộ nêu trên. Nên căn cứ theo Điều 3 của Hợp đồng mua bán căn hộ số 223/CCB/HĐMB-TKBC ngày 15/4/2011 xác định bà Lê Thị Minh T2 được toàn quyền sử dụng căn hộ và có quyền sở hữu về mặt thực tế. Ngày 12/5/2011 bà Lê Thị Minh T2 ký Hợp đồng thế chấp số 0057/HĐTC-VIB639/11 thế chấp căn hộ nêu trên cho V để bảo đảm khoản vay. Biện pháp bảo đảm tài sản tại Hợp đồng thế chấp số 0057/HĐTC-VIB639/11 không đề ngày tháng 5 năm 2011 đã được đăng ký tại Trung tâm đăng ký giao dịch, tài sản tại Thành phố Hồ Chí Minh có hiệu lực từ ngày 08/11/2017, có số đăng ký 1268099412 là phù hợp với quy định tại Điều 298 Bộ luật dân sự, Nghị định 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 và Nghị định số 11/2012/NĐ-CP ngày 10/4/2012 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 về giao dịch đảm bảo. Do đó việc thế chấp căn hộ mã số B2 chung cư B, tầng trệt căn hộ số 2, tổng diện tích sử dụng 95,7 m² của bà Lê Thị Minh T2 là phù hợp với quy định của pháp luật về tài sản hình thành trong tương lai, nên buộc các bên phải có trách nhiệm thực hiện đúng theo thỏa thuận tại Hợp đồng thế chấp và theo quy định của pháp luật.
- [4.2] Tại Điều 1 của Hợp đồng thế chấp có nội dung: “Bên thế chấp đồng ý thế chấp những tài sản của mình để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự đối với V (bên nhận thế chấp), bao gồm tiền vay (nợ gốc), lãi vay, lãi quá hạn, chi phí xử lý tài sản thế chấp, các khoản chi phí khác theo hợp đồng tín dụng...” và Điều 2 của Hợp đồng thế chấp xác định tài sản thế chấp là căn hộ mã B2 chung cư B, tầng trệt căn, hộ số 02, tổng diện tích sử dụng là 95,7 m². Ngoài ra, tại Điều 4 của Hợp đồng thế chấp quy định về quyền và nghĩa vụ các bên thể hiện ngân hàng được quyền xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ theo quy định của pháp luật.
- [4.3] Tại xác minh của Công an xã T, huyện B cho biết: “Hiện nay tại căn hộ B, chung cư B, tầng trệt hiện tại không có người cư trú”. Như vậy hiện nay không có ai cư ngụ tại hai địa chỉ trên, tài sản bảo đảm này thuộc quyền sở hữu của bà Lê Thị Minh T2 cũng là người thế chấp tài sản bảo đảm. Tại Điều 299 Bộ luật Dân sự quy định:
“Điều 299. Các trường hợp xử lý tài sản bảo đảm
- Đến hạn thực hiện nghĩa vụ được bảo đảm mà bên có nghĩa vụ không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ.
- Bên có nghĩa vụ phải thực hiện nghĩa vụ được bảo đảm trước thời hạn do vi phạm nghĩa vụ theo thỏa thuận hoặc theo quy định của luật.
- Trường hợp khác do các bên thỏa thuận hoặc luật có quy định.”
Tại khoản 6 Điều 320 Bộ luật Dân sự quy định:
“Điều 320. Nghĩa vụ của bên thế chấp
6. Giao tài sản thế chấp cho bên nhận thế chấp để xử lý khi thuộc một trong các trường hợp xử lý tài sản bảo đảm quy định tại Điều 299 của Bộ luật này.”
- [4.4] Xét, theo quy định trên thì bên thế chấp bà Lê Thị Minh T2 là người thế chấp và đang giữ tài sản thế chấp có nghĩa vụ giao tài sản thế chấp cho bên nhận thế chấp là VIB để xử lý theo quy định pháp luật. Vì vậy, yêu cầu của V về việc phát mãi tài sản bảo đảm là căn hộ mã B2 chung cư B, tầng trệt căn, hộ số 02, tổng diện tích sử dụng là 95,7 m² thuộc Dự án Khu dân cư và căn hộ cao tầng 584 T - B, tại xã T, huyện B, nếu đến hạn mà bà Lê Thị Minh T2 không thực hiện nghĩa vụ thanh toán là có cơ sở, phù hợp quy định tại Điều 299, khoản 6 Điều 320 Bộ luật Dân sự, Hội đồng xét xử chấp nhận.
- [4.5] Trong trường hợp sau khi phát mãi tài sản bảo đảm là căn hộ mã B2 chung cư B, tầng trệt căn, hộ số 02, tổng diện tích sử dụng là 95,7 m² thuộc Dự án Khu dân cư và căn hộ cao tầng 584 T - B, tại xã T, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh mà vẫn chưa đủ trả khoản nợ trên, thì bà Lê Thị Minh T2 phải tiếp tục trả số tiền chưa được thanh toán cho VIB theo quy định khoản 3 Điều 307 Bộ luật Dân sự: “3. Trường hợp số tiền có được từ việc xử lý tài sản cầm cố, thế chấp sau khi thanh toán chi phí bảo quản, thu giữ và xử lý tài sản cầm cố, thế chấp nhỏ hơn giá trị nghĩa vụ được bảo đảm thì phần nghĩa vụ chưa được thanh toán được xác định là nghĩa vụ không có bảo đảm, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận bổ sung tài sản bảo đảm. Bên nhận bảo đảm có quyền yêu cầu bên có nghĩa vụ được bảo đảm phải thực hiện phần nghĩa vụ chưa được thanh toán.”.
Trường hợp giá trị tài sản đảm bảo sau khi phát mãi lớn hơn nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng TMCP Q thì bà Lê Thị Minh T2 được quyền nhận lại số tiền chênh lệch theo quy định tại khoản 2 Điều 307 Bộ luật dân sự năm 2015.
- [5] Xét Hợp đồng mua bán căn hộ số 223/CCB/HĐMB-TKBC ngày 15/4/2011 thì tại thời điểm bán giá căn hộ bà Lê Thị Minh T2 đã thanh toán 1.454.640.000 đồng tương đương 95% căn hộ và 5% giá trị căn hộ còn lại, tương đương 76.560.000 đồng được thanh toán khi bên bán giao giấy chứng nhận sở hữu căn hộ cho bên mua. Căn cứ tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ thể hiện bà Lê Thị Minh T2 đã thanh toán hai đợt cho Công ty Cổ phần Đ công trình giao thông 584 tổng số tiền là 1.378.080.000 đồng (đợt 1 là 459.360.000 đồng, đợt 2 là 918.720.000 đồng). Quá trình giải quyết vụ án Công ty Cổ phần Đ không có ý kiến liên quan đến nghĩa vụ thanh toán phần còn lại của bên mua. Do đó, giành cho Công ty Cổ phần Đ và Khai thác Công trình Giao thông 584 quyền khởi kiện đối với vấn đề này khi có yêu cầu.
- [6] Về ý kiến trình bày của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Công ty Cổ phần Đ và khai thác công trình giao thông 584:
- [6.1] Về nội dung trình bày căn hộ B2 theo hợp đồng mua bán căn hộ số 223/CCB/HĐMB-TKBC đã thanh lý và không còn liên quan đến bà Lê Thị Minh T2.
Như nhận định nêu trên, kể từ thời điểm Công ty Đ bàn giao căn hộ theo biên bản bàn giao ngày 20/4/2011 thì bà Lê Thị Minh T2 đã thực tế nhận căn hộ như thỏa thuận trong hợp đồng, bên bán không bảo lưu quyền sở hữu đối với căn hộ nêu trên, nên được toàn quyền sử dụng căn hộ và có quyền sở hữu về mặt thực tế. Do đó ý kiến của Công ty Đ không phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên không chấp nhận.
- [6.2] Tại các Bản trình bày ý kiến, bản tự khai và Đơn yêu cầu độc lập không đề ngày, tháng 6 năm 2023 của Công ty Cổ phần Đ yêu cầu bà Lê Thị Minh T2 có nghĩa vụ trả cho Công ty Đ số tiền đã mượn để mua căn hộ là: 966.799.680 đồng. Ngày 07/6/2023 Tòa án nhân dân quận Tân Phú ra Thông báo số 425-1/TB-TA về việc nộp tiền tạm ứng án phí đối với yêu cầu độc lập của Công ty Đ và đã tống đạt hợp lệ. Tuy nhiên, hết thời hạn theo thông báo nêu trên mà Công ty Đ vẫn không đóng tiền tạm ứng án phí, nên Tòa án không thụ lý các yêu cầu theo đơn yêu cầu độc lập của Công ty Đ. Giành cho Công ty Cổ phần Đ và Khai thác công trình giao thông 584 quyền khởi kiện khi có yêu cầu.
- [6.1] Về nội dung trình bày căn hộ B2 theo hợp đồng mua bán căn hộ số 223/CCB/HĐMB-TKBC đã thanh lý và không còn liên quan đến bà Lê Thị Minh T2.
- [7] Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ: Nguyên đơn yêu cầu Tòa án buộc bị đơn phải chịu chi phí xem xét tại chỗ là 5.000.000 đồng. Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên buộc bị đơn phải chịu chi phí xem xét thẩm định tại chỗ là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 157 Bộ luật Tố tụng dân sự.
- [8] Xét ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
- [9] Về án phí:
Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bà Lê Thị Minh T2 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 113.311.281 đồng.
H1 lại toàn bộ số tiền tạm ứng án phí là 22.764.136 đồng cho Ngân hàng TMCP Q.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- - Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 36; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 157; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- - Điều 91; Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010;
- - Điều 229; Điều 320; Điều 307 Bộ luật Dân sự năm 2015;
- - Nghị quyết số 326/2016/NQUBTVQH14 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội;
- Luật Thi hành án dân sự.
Tuyên xử
- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP Q.
- Buộc bà Lê Thị Minh T2 phải có trách nhiệm thanh toán cho Ngân hàng TMCP Q số nợ theo Hợp đồng tín dụng số 0057/HĐTD-VIB639/11 ngày 12/5/2011 và Khế ước nhận nợ ngày 16/5/2011, tính đến ngày 18/9/2024 số tiền là 5.311.281.010 (Năm tỷ ba trăm mười một triệu hai trăm tám mươi mốt nghìn không trăm mười) đồng, trong đó nợ gốc là 903.720.000 (Chín trăm lẻ ba triệu bảy trăm hai mươi nghìn) đồng; nợ lãi trong hạn là 1.130.360.527 (Một tỷ một trăm ba mươi triệu ba trăm sáu mươi nghìn năm trăm hai mươi bảy) đồng; nợ lãi quá hạn là 3.277.200.483 (Ba tỷ hai trăm bảy mươi bảy triệu hai trăm nghìn bốn trăm tám mươi ba) đồng. Thanh toán một lần, ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.
- Kể từ ngày 19/9/2024 bà Lê Thị Minh T2 còn phải tiếp tục trả tiền lãi phát sinh trên nợ gốc chưa trả, theo mức lãi suất thỏa thuận tương ứng với Hợp đồng tín dụng số 0057/HĐTD-VIB639/11 ngày 12/5/2011 và Khế ước nhận nợ ngày 16/5/2011 cho đến khi trả xong toàn bộ khoản nợ. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ thì lãi suất tiếp tục thanh toán sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng.
- Sau khi bà Lê Thị Minh T2 trả hết số nợ nêu trên cho Ngân hàng TMCP Q thì Ngân hàng phải giải chấp tài sản đảm bảo là căn hộ mã B2 chung cư B, tầng trệt căn, hộ số 02, tổng diện tích sử dụng là 95,7 m² thuộc Dự án Khu dân cư và căn hộ cao tầng 584 T - B, tại xã T, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định của pháp luật.
- Khi bản án có hiệu lực pháp luật, bà Lê Thị Minh T2 không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng TMCP Q có quyền yêu cầu phát mãi tài sản thế chấp là căn hộ mã B2 chung cư B, tầng trệt căn, hộ số 02, tổng diện tích sử dụng là 95,7 m² thuộc Dự án Khu dân cư và căn hộ cao tầng 584 T - B, tại xã T, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh (Hợp đồng mua bán căn hộ số 223/CCB/HĐMB-TKBC ngày 15/4/2011) theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và nhà ở số 0057/HĐTC-VIB639/11 không ghi ngày, tháng 5/2011, việc đăng ký thế chấp được thực hiện hoàn tất tại Trung tâm đăng ký giao dịch tài sản Thành phố Hồ Chí Minh, để thu hồi nợ. Nếu giá trị tài sản bảo đảm sau khi phát mãi không đủ để thực hiện nghĩa vụ thanh toán thì bà Lê Thị Minh T2 tiếp tục thực hiện nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng TMCP Q theo Hợp đồng tín dụng số Hợp đồng tín dụng số 0057/HĐTD-VIB639/11 ngày 12/5/2011 cho đến khi thực hiện xong nghĩa vụ. Trường hợp giá trị tài sản đảm bảo sau khi phát mãi nhiều hơn nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng TMCP Q thì bà Lê Thị Minh T2 được quyền nhận lại số tiền chênh lệch.
- Buộc bà Lê Thị Minh T2 phải trả cho Ngân hàng TMCP Q số tiền xem xét thẩm định tại chỗ là 5.000.000 (Năm triệu) đồng.
- Về án phí dân sự sơ thẩm:
- Bà Lê Thị Minh T2 phải chịu án phí là 113.311.281 đồng (Một trăm mười ba triệu ba trăm mười một nghìn hai trăm tám mươi mốt) đồng.
- Hoàn trả toàn bộ số tiền tạm ứng án phí là 22.764.136 (Hai mươi hai triệu bảy trăm sáu mươi bốn nghìn một trăm ba mươi sáu) đồng cho Ngân hàng TMCP Q theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số AA/2017/0010724 ngày 07/3/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Tân Phú.
- Thi hành tại Chi cục Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
- Quyền kháng cáo:
Đương sự có mặt có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày Tòa tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc tống đạt hợp lệ.
Trường hợp Bản án, Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014) thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014).
|
Nơi nhận:
|
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Viết Hoàng Lâm |
Bản án số 794/2024/DS – ST ngày 19/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 794/2024/DS – ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/09/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: HĐ tín dụng NH - Minh Tâm
