|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 798/2024/HNGĐ-ST Ngày: 09-9-2024 V/v: Ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Hoàng Thị Thanh Mai
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Võ Kim Hường
- Bà Nguyễn Thị Mỹ Linh
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Vinh – Thư ký Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Đặng Thị Thu Hương – Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 09 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 832/2023/TLST-HNGĐ ngày 02 tháng 10 năm 2023 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 890/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 24 tháng 7 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 1134/2024/QĐST-HNGĐ ngày 14 tháng 8 năm 2023, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Thanh Q, sinh năm 1985; Địa chỉ: A chung cư P, phường P, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.
Bị đơn: Ông Trương Văn S, sinh năm 1980; Địa chỉ: A chung cư P, phường P, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.
(Các đương sự có mặt tại phiên tòa)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 04/7/2023 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thanh Q trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông Trương Văn S tự nguyện chung sống năm 2011, có tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Quảng Nam theo Giấy chứng nhận kết hôn số 27, quyển số 01/2011 ngày 12/7/2011.
Trong quá trình chung sống, bà và ông S phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng có nhiều bất đồng trong cuộc sống, trong giáo dục con. Vợ chồng không có sự chia sẻ trong tình cảm, kinh tế, không có tiếng nói chung, lâu dần tình cảm ngày càng phai nhạt, bà không còn cảm xúc cũng như tình cảm với ông S. Trong năm 2023, bà đã nộp đơn ly hôn nhưng sau đó rút đơn về để vợ chồng hàn gắn nhưng không thay đổi nên bà nộp đơn ly hôn lại. Nay bà xác nhận không còn tình cảm với ông S nên bà yêu cầu ly hôn để ổn định cuộc sống.
Về quan hệ con chung: Bà và ông S có một con chung tên Trương Phúc K, sinh ngày 15/4/2013. Khi ly hôn, bà yêu cầu nuôi con chung, yêu cầu ông S cấp dưỡng 6.000.000 đồng/tháng.
Về quan hệ tài sản chung: Bà và ông S tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết
Về nợ chung : Không có
Bị đơn ông Trương Văn S trình bày:
- Ông xác nhận lời trình bày của bà Q về quá trình kết hôn và chung sống là đúng.
Trong quá trình chung sống, vợ chồng có ít mâu thuẫn nhỏ. Ông xác nhận ông vẫn còn tình cảm với bà Q. Trước đây do áp lực về kinh tế nên ông còn chưa quan tâm đến bà Q nay ông biết mình sai. Ông mong muốn bà Q tha thứ, cùng nhau xây dựng gia đình và chăm sóc con chung. Nay bà Q yêu cầu ly hôn thì ông không đồng ý ly hôn.
Về con chung: Ông và bà Q có một con chung là tên Trương Phúc K, sinh ngày 15/4/2013. Trong trường hợp Tòa án chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Q thì ông yêu cầu nuôi con chung, không yêu cầu bà Q cấp dưỡng nuôi con.
Về quan hệ tài sản chung: Ông không có ý kiến, yêu cầu gì.
Về nợ chung: Không có.
Toà án đã tổ chức cho các bên hoà giải nhưng không thành nên đưa vụ án ra xét xử theo luật định.
Tại phiên toà hôm nay:
- Nguyên đơn bà Q vẫn giữ nguyên yêu cầu ly hôn. Khi ly hôn, bà Q yêu cầu nuôi con chung, không yêu cầu ông S cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung: Hai bên tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về nợ chung: Không có.
- Bị đơn ông S không đồng ý ly hôn. Nếu Tòa án chấp nhận yêu cầu của bà Q thì ông yêu cầu được nuôi con chung, không yêu cầu bà Q cấp dưỡng nuôi con, đồng thời, ông yêu cầu Tòa án giải quyết tài sản chung giữa ông và bà Q trong vụ án này. Ông và bà Q không có nợ chung.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú có ý kiến:
- Về việc tuân theo pháp luật: Đương sự, Thư ký và Hội đồng xét xử đều tuân theo pháp luật được qui định tại Điều 48, Điều 51, Điều 63, Điều 203, Từ Điều 239 đến Điều 267 Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về nội dung vụ án: Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự và Điều 56, Điều 57, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, đề nghị Hội đồng xét xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cụ thể: Bà Q được ly hôn với ông S; Giao trẻ Trương Phúc K cho bà Q trực tiếp nuôi dưỡng. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho ông S do bà Q không yêu cầu. Về quan hệ tài sản chung: Hai bên tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về nợ chung: Không có.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, sau khi nghe phát biểu của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:
Căn cứ Giấy chứng nhận kết hôn số 27, quyển số 01/2011 ngày 12/7/2011 do Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Quảng Nam cấp cho bà Q và ông S thì quan hệ hôn nhân giữa bà Q và ông S là quan hệ hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận. Ông S có nơi cư trú tại quận T, Thành phố Hồ Chí Minh. Nay bà Q yêu cầu ly hôn, Toà án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh thụ lý giải quyết là phù hợp với khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về yêu cầu của đương sự:
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Q yêu cầu ly hôn. Ông S không đồng ý ly hôn. Đây là vấn đề tranh chấp cần xem xét.
Xét, bà Q yêu cầu ly hôn do vợ chồng bất đồng quan điểm, không có sự quan tâm, chia sẻ nhau trong cuộc sống. Ông S thừa nhận còn chưa quan tâm đến bà Q, ông mong muốn bà Q tha thứ, cùng nhau xây dựng gia đình. Xét, trong quá trình giải quyết cũng như tại phiên tòa, ông S đưa ra giải pháp hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng không được bà Q chấp nhận. Bà Q đã từng nộp đơn ly hôn nhưng sau đó rút đơn về để vợ chồng hàn gắn nhưng không có kết quả, nay bà xác nhận không còn tình cảm và không muốn tiếp tục chung sống với ông S. Hội đồng xét xử xét thấy, nguyên tắc cơ bản của hôn nhân là tự nguyện, mục đích hôn nhân là “vợ chồng cùng nhau xây dựng gia đình hạnh phúc”, trong trường hợp này giữa bà Q và ông S đã xảy ra mâu thuẫn trầm trọng, không còn khả năng hàn gắn. Căn cứ khỏan 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Q.
- Về quan hệ con chung: Bà Q và ông S có một con chung tên Trương Phúc K, sinh ngày 15/4/2013. Khi ly hôn, bà Q và ông S cùng có yêu cầu được nuôi con chung.
Xét, Tòa án đã yêu cầu bà Q, ông S cung cấp các chứng cứ chứng minh điều kiện nuôi con. Phía bà Q có nộp bản trình bày yêu cầu nuôi con kèm theo các chứng cứ chứng minh điều kiện nuôi con về thời gian, tài chính, điều kiện chỗ ở....Phía ông S không cung cấp chứng cứ. Tại bản khai ngày 12/4/2024 thì trẻ Phúc K có nguyện vọng muốn ở với mẹ. Xét, việc giao con chung cho ai là người trực tiếp nuôi dưỡng phải đảm bảo lợi ích mọi mặt của trẻ, do đó, để tránh xáo trộn cuộc sống của con chung cũng như phù hợp với nguyện vọng của con chung, nên giao trẻ Phúc K cho bà Q trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp quy định tại khoản 2, khoản 3 Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 nên có cơ sở chấp nhận.
- Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Ghi nhận sự tự nguyện của bà Q không yêu cầu ông S cấp dưỡng nuôi con nên tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho ông S.
- Về quan hệ tài sản chung: Bà Q không yêu cầu giải quyết, do đó, Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Xét, tại phiên tòa, ông S yêu cầu giải quyết tài sản chung trong vụ án ly hôn. Xét Đơn khởi kiện đề ngày 04/7/2023 bà Q không yêu cầu giải quyết tài sản chung. Trong quá trình giải quyết, ông S không yêu cầu giải quyết tài sản chung. Nay tại phiên tòa ông S yêu cầu giải quyết tài sản chung là không phù hợp quy định tại Điều 5 Bộ luật tố tụng dân sự, do đó, tách yêu cầu giải quyết tài sản chung của ông S thành vụ án dân sự khác khi đương sự có yêu cầu.
- Các vấn đề khác: Bà Q và ông S xác nhận không có nợ chung.
[3] Về án phí
Căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án thì bà Q phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng, số tiền án phí trên được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng mà bà Q đã nộp theo Biên lai thu tiền số AA/2023/0006637 ngày 29/9/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Tân Phú. Bà Q đã nộp đủ án phí.
Vì các lẽ nêu trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84, Điều 107, Điều 110, Điều 116 và Điều 117 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; Căn cứ khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Thanh Q.
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Thanh Q được ly hôn với ông Trương Văn S.
Quan hệ hôn nhân giữa bà Q và ông S theo Giấy chứng nhận kết hôn số 27, quyển số 01/2011 ngày 12/7/2011 do Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Quảng Nam cấp cho bà Q và ông S chấm dứt kể từ ngày bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật.
- Về quan hệ con chung: Giao con chung tên Trương Phúc K, sinh ngày 15/4/2013 cho bà Q trực tiếp nuôi dưỡng. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho ông S do bà Q không yêu cầu.
- + Khi có lý do chính đáng, mức cấp dưỡng và phương thức cấp dưỡng có thể thay đổi. Việc thay đổi mức cấp dưỡng và phương thức cấp dưỡng do các bên tự thỏa thuận. Nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu tòa giải quyết.
- + Ông S được quyền thăm nom con, không ai được cản trở.
- + Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của cha mẹ hoặc cá nhân, tổ chức (người thân thích, cơ quan quản lý nhà nước về gia đình, cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em, Hội L), Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.
- Về quan hệ tài sản chung: Hai bên tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Các vấn đề khác: Hai bên xác nhận không có nợ chung.
2. Về án phí:
Bà Q chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng, số tiền án phí trên được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng mà bà Q đã nộp theo Biên lai thu tiền số AA/2023/0006637 ngày 29/9/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Tân Phú. Bà Q đã nộp đủ án phí.
Thi hành tại Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền.
3. Quyền kháng cáo:
Bà Nguyễn Thị Thanh Q và ông Trương Văn S được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Hoàng Thị Thanh Mai |
Bản án số 798/2024/HNGĐ-ST ngày 09/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về ly hôn
- Số bản án: 798/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 09/09/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: ly hôn
