Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO
TẠI HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 797/2023/HC-PT

Ngày: 06/11/2023

“Khiếu kiện Quyết định hành chính trong
lĩnh vực quản lý đất đai”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Bích Hải;
Các Thẩm phán: Ông Thái Duy Nhiệm;
Ông Phạm Đình Khánh.

Thư ký phiên tòa: Ông Phan Nhật Phong, Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội tham gia phiên toà: Bà Khúc Thị Hoàng Hạnh, Kiểm sát viên cao cấp.

Ngày 06 tháng 11 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội mở phiên tòa công khai xét xử phúc thẩm vụ án hành chính thụ lý số 669/2023/TBTL-HC ngày 19 tháng 9 năm 2023 về việc “Khiếu kiện Quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai” do có kháng cáo của người khởi kiện đối với Bản án hành chính sơ thẩm số 157/2023/HC-ST ngày 17 tháng 7 năm 2023 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 11754/2023/QĐ-PT ngày 21 tháng 10 năm 2023, giữa:

  • * Người khởi kiện:

    Ông Nguyễn Trọng T, sinh năm 1958; Địa chỉ: Thôn D, xã D, huyện G, thành phố Hà Nội (Có mặt).

    Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người khởi kiện: Ông Trần Thu N và bà Trần Thị H – Luật sư Văn phòng L và cộng sự thuộc Đoàn Luật sự thành phố Hà Nội (Có mặt).

  • * Người bị kiện:

    1. Chủ tịch UBND huyện G, thành phố Hà Nội.

      Người đại diện theo ủy quyền: Ông Trương Văn H1, chức vụ: Phó Chủ tịch huyện G, thành phố Hà Nội (Có đơn xin xét xử vắng mặt).

    2. Chủ tịch và UBND xã D, huyện G, thành phố Hà Nội.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Tô Hữu V, chức vụ: Chủ tịch UBND xã D, huyện G, thành phố Hà Nội (Có đơn xin xét xử vắng mặt).

  • * Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

    1. Bà Nguyễn Thị A, sinh năm 1972 (Vắng mặt);

      Người giám hộ cho bà A là ông Nguyễn Trọng T, sinh năm 1958 (Có mặt).

    2. Anh Nguyễn Trọng T1, sinh năm 1997 (Có đơn xin xét xử vắng mặt);

      Cùng địa chỉ: Thôn D, xã D, huyện G, Thành phố Hà Nội.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo Bản án sơ thẩm và các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ, người khởi kiện ông Nguyễn Trọng T trình bày:

Hộ gia đình ông Nguyễn Trọng T tại thời điểm giao đất nông nghiệp theo Nghị định số 64/NĐ-CP gồm có 04 nhân khẩu là: Cụ Nguyễn Thị V1, ông Nguyễn Trọng T, bà Nguyễn Thị A và anh Nguyễn Trọng T1, do cụ Nguyễn Thị V1 làm chủ hộ. Toàn bộ diện tích đất nông nghiệp được giao đã được Ủy ban nhân dân huyện G cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số Q 870203 cho hộ gia đình cụ Nguyễn Thị V1 ngày 12/01/2001 tại địa chỉ: Thôn D, xã D, huyện G, thành phố Hà Nội với tổng diện tích đất là 1.636m² gồm: thửa 68B (6), tờ bản đồ số 383-CIII, diện tích 419m²; thửa số 10B (1), tờ bản đồ số 23-AI, diện tích 412m²; thửa số 6A (2), tờ bản đồ số 22-BI, diện tích 143m²; thửa số 112, tờ bản đồ số 383-CIV, diện tích 215m² và thửa số 98 (21), tờ bản đồ số 383-CIV diện tích 100m².

Đối với thửa số 8A (2), tờ bản đồ số 22-BII, diện tích 191m² và thửa số 206, tờ bản đồ số 383-CII, diện tích 156m² đã bị Nhà nước thu hồi để thực hiện dự án. Tổng diện tích đất nông nghiệp còn lại hiện nay của gia đình cụ V1 đang quản lý và sử dụng là 1.289m².

Theo ông T việc gia đình ông được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào năm 2001 là do UBND xã D tự ý làm, gia đình ông hoàn toàn không biết gì, không được hướng dẫn làm tờ khai, Ủy ban nhân dân xã không lấy chữ ký của các hộ liền kề nên gia đình ông không biết diện tích thực gia đình ông được giao và sử dụng là bao nhiêu.

Ngày 24/6/2021, Ủy ban nhân dân xã D đã tiến hành lập biên bản vi phạm hành chính về lĩnh vực đất đai số 06/BB-VPHC đối với ông vì cho rằng ông có hành vi xây dựng 01 đoạn tường bằng gạch chỉ đỏ 220mm, dài 13,7m, cao 0,7m lấn chiếm đất nông nghiệp không phải đất trồng lúa, đất rừng đặc dụng, đất rừng phòng hộ, đất rừng sản xuất tại khu vực nông thôn. Diện tích đất lấn, chiếm dưới 0,05ha.

Ngày 02/7/2021, Chủ tịch UBND xã D ban hành Quyết định số 194/QĐ- XPVPHC về việc xử phạt vi phạm hành chính đối với ông; cụ thể: Phạt tiền: 4.000.000 đồng và buộc khôi phục lại tình trạng ban đầu của đất trước khi vi phạm (tháo dỡ phần tường xây dài 13,7m; cao 0,7m). Thời hạn thực hiện các biện pháp khắc phục hậu quả là 10 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định này.

Ông T cho rằng việc ông xây dựng bức tường dài 13,7m; cao 0,7m là nằm trên phần diện tích của gia đình có nguồn gốc do ông cha để lại, đã sử dụng ổn định, trên thửa đất đã xây dựng tường bao quanh 03 mặt. Nay gia đình ông chỉ xây nối 02 đầu tường với nhau, không có việc ông lấn, chiếm vào đất của ai nên ông không tự tháo dỡ phần công trình đã xây dựng. Vì vậy, ông không đồng ý với các quyết định của UBND xã D và Quyết định giải quyết khiếu nại của UBND huyện G. Ông khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội hủy các quyết định sau:

  • - Quyết định số 194/QĐ- XPVPHC ngày 02/7/2021 của Chủ tịch UBND xã D về việc xử phạt vi phạm hành chính;
  • - Quyết định số 578/QĐ-CCXP ngày 31/12/2021 của Chủ tịch UBND xã D về việc cưỡng chế buộc thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả;
  • - Quyết định số 363/QĐ-UBND ngày 05/10/2021 của Chủ tịch UBND xã D về việc giải quyết khiếu nại của ông Nguyễn Trọng T (lần đầu);
  • - Quyết định số 149/QĐ-UBND ngày 03/3/2022 của Chủ tịch UBND xã D về việc giải quyết khiếu nại của ông Nguyễn Trọng T (lần đầu);
  • - Quyết định 2037/QĐ-CTUB ngày 25/01/2022 của Chủ tịch UBND huyện G về việc giải quyết khiếu nại của ông Nguyễn Trọng T (lần hai).

Ngày 20/6/2023, ông T có đơn khởi kiện bổ sung:

  • - Yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với riêng thửa đất số 112, tờ bản đồ số 383-CIV chứ không yêu cầu hủy toàn bộ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của 04 thửa còn lại.
  • - Yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội buộc UBND huyện G cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo đúng quy định pháp luật của toàn bộ 05 thửa đất.

Quá trình giải quyết vụ án, đại diện hợp pháp của người bị kiện là Chủ tịch UBND huyện G có quan điểm:

  • - Về nguồn gốc đất: Hộ gia đình cụ Nguyễn Thị V1 (là mẹ đẻ ông Nguyễn Trọng T) được giao đất theo Nghị định số 64/NĐ-CP với diện tích 1.636m² đất. Ngày 12/01/2001, gia đình cụ V1 đã được UBND huyện G cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nông nghiệp số Q870203. Trong đó có thửa đất số 112, tờ bản đồ số 383-CIV, diện tích 215m² (thuộc xứ đồng H, thôn D, xã D), là thửa đất ông T đang đề nghị giải quyết.
  • - Về hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất:

Tại số thứ tự 40 của phương án giao đất cho hộ gia đình, cá nhân thôn D, xã D, gia đình cụ Nguyễn Thị V1 được giao 1.638m² đất cho 04 nhân khẩu.

Tại Biên bản họp ngày 25/10/2000 của Hội đồng giao đất nông nghiệp xã D thống nhất thông qua phương án giao đất nông nghiệp cho 229 hộ gia đình cá nhân thôn D với số nhân khẩu là 775,5 đủ điều kiện, trong đó có hộ gia đình cụ Nguyễn Thị V1.

Ngày 05/6/2000, UBND xã D ban hành Thông báo số 45/TB-UB về việc công khai hồ sơ và phương án giao đất nông nghiệp thôn D đã được Hội đồng giao đất xã D xét duyệt.

Ngày 20/6/2000, UBND xã D lập biên bản kết thúc công khai và không nhận được đơn thư khiếu nại về việc giao đất nông nghiệp cho hộ gia đình, cá nhân sử dụng lâu dài.

Ngày 26/10/2000, UBND xã D có Tờ trình số 33/TT-UB về việc xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các hộ gia đình, cá nhân tại thôn D, xã D, trong đó có hộ gia đình cụ Nguyễn Thị V1.

Ngày 18/12/2000, UBND huyện G ban hành Quyết định số 1145/QĐ-UB về việc phê duyệt phương án giao đất nông nghiệp cho hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định lâu dài vào mục đích sản xuất nông nghiệp theo Nghị định số 64/NĐ-CP của Chính phủ.

Ngày 19/12/2000, UBND huyện G ban hành Quyết định số 1150/QĐ-UB về việc phê duyệt cấp chứng nhận quyền sử dụng đất nông nghiệp cho 229 hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định lâu dài vào mục đích sản xuất nông nghiệp theo Nghị định số 64/NĐ-CP cho thôn D, xã D.

- Quá trình lập hồ sơ xử lý:

Ngày 03/6/2003, UBND xã D lập Biên bản xác định mốc giới thửa đất, ông T đã ký nhận vào Biên bản với các mốc giới như sau:

Cạnh 1-2 = 10,9m giáp ngõ vào nhà ông D; cạnh 2-3 = 7,0m giáp đường đi vào xã cạnh ao; cạnh 3-4 = 13,7m giáp đường đi phục vụ sx cạnh ao; cạnh 4-5 = 9,3m giáp bờ mương tiêu nước; cạnh 5-1 = 22,5m giáp nhà bà B.

Năm 2021, ông T đã có hành vi lấn, chiếm đất (xây dựng 01 đoạn tường bằng gạch chỉ đỏ 220mm, dài 13,7m, cao 0,7m) tại vị trí phía giáp sân bê tông do nhân dân xóm Chồi đổ bê tông tháng 4/2021 (thửa số 122, tờ bản đồ số 24, diện tích 1.978m²).

Việc lấn, chiếm đất của ông Nguyễn Trọng T đã được UBND xã D lập Biên bản xử phạt vi phạm hành chính ngày 24/6/2021 và ngày 02/7/2021, Chủ tịch UBND xã D đã ban hành Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 194/QĐ-XPVPHC. Tuy nhiên, UBND xã không xác định cụ thể diện tích đất lấn, chiếm của hộ ông T vì hiện trạng ông T không khép kín thửa đất và chưa thực hiện việc sử dụng đất (phần đất từ tường ông T mới xây năm 2021 đến phần ranh giới đất của gia đình ông T được xác định bằng tường xây năm 2003, bỏ hoang, chưa được sử dụng vào mục đích gì).

- Quá trình giải quyết:

Ngày 21/10/2021, ông Nguyễn Trọng T có đơn khiếu nại gửi UBND huyện G về việc không nhất trí với Quyết định số 363/QĐ- UBND ngày 05/10/2021 của UBND xã D về việc giải quyết đơn khiếu nại (lần đầu).

Ngày 03/11/2021, UBND huyện G ban hành Quyết định số 6849/QĐ-CT về việc giao nhiệm vụ xác minh nội dung khiếu nại của ông Nguyễn Trọng T đối với Quyết định số 363/QĐ-UBND ngày 05/10/2021 của UBND xã D.

Ngày 15/11/2021, Thanh tra huyện đã tiến hành làm việc với ông Nguyễn Trọng T về việc xác minh nội dụng khiếu nại. Ngày 22/11/2021, Thanh tra huyện đã làm việc với UBND xã D về việc xác minh đơn khiếu nại của ông Nguyễn Trọng T. Ngày 09/12/2021, Thanh tra huyện lập biên bản kiểm tra hiện trạng sử dụng đất của ông Nguyễn Trọng T.

Ngày 20/01/2022, UBND huyện G đã tổ chức đối thoại với ông T. Ngày 25/01/2022, UBND huyện G ban hành Quyết định số 2037/QĐ- UBND về việc giải quyết khiếu nại của ông Nguyễn Trọng T (lần hai).

UBND huyện G đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông T và giữ nguyên các quyết định hành chính đã ban hành.

Quan điểm của UBND xã D: UBND xã D nhất trí với ý kiến của UBND huyện G.

Tại Bản án hành chính sơ thẩm số 157/2023/HC-ST ngày 17 tháng 7 năm 2023 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội đã quyết định:

Áp dụng khoản 2 Điều 3, Điều 30, Điều 32, điểm a khoản 2 Điều 193, Điều 204, Điều 206 Luật Tố tụng hành chính; Điều 98 Luật Tổ chức HĐND-UBND; Điều 28 Luật Tổ chức chính quyền địa phương; Điều 18, Điều 21, Điều 31, Điều 40 Luật Khiếu nại; Nghị định 43/2014/NĐ-CP; Nghị định 47/2014/NĐ-CP; Quyết định số 10/2017/QĐ- UBND ngày 29/3/2017; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016. Xử:

  1. Bác yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Trọng T về việc hủy các quyết định hành chính sau:
    • - Quyết định số 194/QĐ-XPVPHC ngày 02/7/2021 của Chủ tịch UBND xã D về việc xử phạt vi phạm hành chính.
    • - Quyết định số 578/QĐ-CCXP ngày 03/3/2022 của Chủ tịch UBND xã D về việc cưỡng chế buộc thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả.
  • - Quyết định số 363/QĐ-UBND ngày 05/10/2021 của Chủ tịch UBND xã D về việc giải quyết khiếu nại của ông Nguyễn Trọng T (lần đầu).
  • - Quyết định số 149/QĐ-UBND ngày 03/3/2022 của Chủ tịch UBND xã D về việc giải quyết khiếu nại của ông Nguyễn Trọng T (lần đầu).
  • - Quyết định 2037/QĐ-CTUB ngày 25/01/2022 của Chủ tịch UBND huyện G về việc giải quyết khiếu nại của ông Nguyễn Trọng T (lần hai).
  1. Bác yêu cầu hủy một phần Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nông nghiệp số Q870203 ngày 12/01/2001 mang tên cụ Nguyễn Thị V1 liên quan đến thửa đất số 112, tờ bản đồ số 383-CIV, diện tích 215m².

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về án phí và thông báo quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Sau khi xét xử sơ thẩm, người khởi kiện ông Nguyễn Trọng T có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.

Tại phiên tòa phúc thẩm, người khởi kiện giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và nội dung kháng cáo.

Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khởi kiện đề nghị Hội đồng xét xử tạm ngừng phiên tòa để thu thập các tài liệu liên quan đến nguồn gốc thửa đất và cho rằng giữa trích lục thửa đất và giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho hộ ông T có sự chênh lệch 10m². Trường hợp nếu Hội đồng xét xử không tạm ngừng phiên tòa để xác minh, thu thập chứng cứ thì đề nghị hủy bản án sơ thẩm để xét xử lại.

Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội: Sau khi đánh giá tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án và kết quả tranh tụng tại phiên tòa; Xét thấy: Tòa án cấp sơ thẩm đã căn cứ vào các quy định pháp luật và xử bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Trọng T là có căn cứ, đúng pháp luật. Tại phiên tòa phúc thẩm, người khởi kiện không cung cấp được tài liệu, chứng cứ gì mới để bảo vệ cho quan điểm của mình nên không có căn cứ chấp nhận nội dung kháng cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 241 Luật Tố tụng hành chính 2015, không chấp nhận kháng cáo của người khởi kiện và giữ nguyên Bản án hành chính sơ thẩm số 157/2023/HC-ST ngày 17 tháng 7 năm 2023 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi xem xét, đánh giá khách quan toàn diện những tài liệu chứng cứ được thẩm tra tại phiên tòa. Căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa, lời trình bày của đương sự, quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về tố tụng:

  • - Tại phiên tòa, người bị kiện là Chủ tịch UBND huyện G, Chủ tịch UBND và UBND xã D; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Nguyễn Trọng T1 vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ Điều 225 Luật Tố tụng hành chính, Hội đồng xét xử quyết định tiến hành xét xử vụ án vắng mặt các đương sự trên.
  • - Đơn kháng cáo của người khởi kiện ông Nguyễn Trọng T gửi đến Tòa án đảm bảo đúng thời hạn, hình thức, nội dung phù hợp với quy định tại các Điều 204, 205 và Điều 206 Luật Tố tụng hành chính; do đó được chấp nhận xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
  • - Về thẩm quyền, đối tượng khởi kiện và thời hiệu giải quyết vụ án: Ngày 13/6/2022, ông Nguyễn Trọng T có đơn khởi kiện gửi đến Tòa án yêu cầu hủy các quyết định hành chính về quản lý đất đai của UBND xã D và Chủ tịch UBND huyện G, thành phố Hà Nội. Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội đã căn cứ vào khoản 2 Điều 3, Điều 30, Điều 32, khoản 2 Điều 116 Luật Tố tụng hành chính thụ lý và giải quyết vụ án, xác định còn thời hiệu khởi kiện là đúng quy định pháp luật.

[2]. Về nội dung: Xét kháng cáo của người khởi kiện ông Nguyễn Trọng T, Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy:

[2.1]. Về thẩm quyền, trình tự, thủ tục ban hành các Quyết định:

  • - Quyết định số 194/QĐ-XPVPHC ngày 02/7/2021 của Chủ tịch UBND xã D về việc xử phạt vi phạm hành chính.
  • - Quyết định số 363/QĐ-UBND ngày 05/10/2021 của Chủ tịch UBND xã D về việc giải quyết khiếu nại của ông Nguyễn Trọng T (lần đầu).
  • - Quyết định số 578/QĐ-CCXP ngày 03/3/2022 của Chủ tịch UBND xã D về việc cưỡng chế buộc thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả.
  • - Quyết định số 149/QĐ-UBND ngày 03/3/2022 của Chủ tịch UBND xã D về việc giải quyết khiếu nại của ông Nguyễn Trọng T (lần đầu).
  • - Quyết định 2037/QĐ-CTUB ngày 25/01/2022 của Chủ tịch UBND huyện G về việc giải quyết khiếu nại của ông Nguyễn Trọng T (lần hai).

Căn cứ khoản 2 Điều 38, Điều 86, Điều 87 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 và khoản 2 Điều 31 Nghị định số 102/2014/NĐ-CP ngày 10/11/2014 của Chính phủ; Điều 18, Điều 21 Luật Khiếu nại 2011; Điều 19, Điều 29 Luật Tổ chức chính quyền địa phương; Chủ tịch UBND xã D và Chủ tịch UBND huyện G ban hành các quyết định là đúng trình tự, thủ tục, thẩm quyền.

[2.2]. Xét nội dung các quyết định

[2.2.1]. Đối với Quyết định số 194/QĐ-XPVPHC ngày 02/7/2021 của Chủ tịch UBND xã D về việc xử phạt vi phạm hành chính:

Ngày 24/6/2021, UBND xã D đã tiến hành lập biên bản vi phạm hành chính đối với ông Nguyễn Trọng T về hành vi vi phạm hành chính “lấn, chiếm đất nông nghiệp không phải đất trồng lúa, đất rừng đặc dụng, đất rừng phòng hộ, đất rừng sản xuất tại khu vực nông thôn. Diện tích đất lấn, chiếm dưới 0,05ha. Chủ đầu tư đã xây dựng 01 đoạn tường bằng gạch chỉ đỏ 220mm dài 13,7m; cao 0,7m”.

Ngày 02/7/2021, Chủ tịch UBND xã D ban hành Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 194/QĐ-XPVPHC và ngày 31/12/2021, Chủ tịch UBND xã D ban hành Quyết định số 578/QĐ-CCXP về việc cưỡng chế buộc thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả đối với hộ ông T.

Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án thể hiện: Hộ gia đình cụ Nguyễn Thị V1 là mẹ đẻ ông Nguyễn Trọng T được giao đất nông nghiệp theo Nghị định 64/NĐ-CP với diện tích 1636m² đất, được UBND huyện G, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nông nghiệp số Q870203 ngày 12/01/2001. Trong đó có thửa đất số 112, tờ bản đồ số 3883-CIV, diện tích 215m² thuộc xứ đồng Hải Tâm, thôn D, xã D là thửa đất ông Nguyễn Trọng T đã thực hiện hành vi lấn, chiếm và bị UBND xã D xử phạt vi phạm hành chính.

Ngày 03/6/2003, UBND xã D lập Biên bản xác định mốc giới thửa đất số 112, diện tích 215m², tờ bản đồ số F48-104 (383-CIV) của hộ gia đình cụ Nguyễn Thị V1 theo hiện trạng khi ông Nguyễn Trọng T xây dựng tường bao quanh thửa đất, ông T đã ký xác nhận vào Biên bản đo đạc xác định mốc giới thửa đất.

Trên thửa đất này, gia đình ông T đã trồng một số cây xoan, vối... và xây tường bao quanh thửa đất (xây 03 phía; một phía chưa xây do giáp ao) từ nhiều năm trước.

Tháng 4/2021, nhân dân trong xóm lấp ao, đổ sân, gia đình ông T đã xây dựng 01 đoạn tường bằng gạch chỉ đỏ 220mm, dài 13,7m, cao 0,7m tại vị trí giáp sân bê tông do nhân dân xóm C đổ bê tông.

Ngày 09/12/2021, khi kiểm tra hiện trạng sử dụng đất: Thửa đất của hộ gia đình cụ Nguyễn Thị V1 có sự chênh lệch kích thước ở cạnh giáp đường đi (tăng 4,85m) và cạnh giáp mương tiêu nước (tăng 5,9m), tăng về phía thửa đất ao do UBND xã D quản lý.

Ông T cho rằng ông chỉ xây nối 02 đầu tường đã xây trước đây, gia đình vẫn giữ nguyên diện tích đang sử dụng, không lấn, chiếm đất. Tuy nhiên, ông không cung cấp được tài liệu chứng minh về việc thay đổi diện tích và xây dựng tường gạch nằm trong phần diện tích của gia đình ông.

Như vậy, ông Nguyễn Trọng T đã thực hiện hành vi lấn, chiếm đất nông nghiệp không phải là đất trồng lúa tại khu vực xứ đồng Hải Tâm, xã D; UBND xã D lập Biên bản vi phạm hành chính đối với ông T là đúng quy định. Căn cứ Điều 21, Điều 23, Điều 28 và Điều 66 Luật Xử lý vi phạm hành chính, Chủ tịch UBND xã ban hành Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 194/QĐ-XPVPHC ngày 02/7/2021 là đúng pháp luật.

[2.2.2]. Đối với Quyết định số 578/QĐ-CCXP ngày 31/12/2021 của UBND xã D về việc cưỡng chế buộc thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả:

Sau khi nhận được Quyết định xử phạt vi phạm hành chính của UBND xã D; trong thời hạn quy định, ông Nguyễn Trọng T không tự nguyện chấp hành Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 194/QĐ-XPVPHC ngày 02/7/2021 nên Chủ tịch UBND xã D ban hành Quyết định số 578/QĐ-CCXP ngày 31/12/2021 về việc cưỡng chế thi hành Quyết định 194/QĐ-UBND là cần thiết và đảm bảo đúng theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm d khoản 1 Điều 38, điểm a khoản 1 Điều 87 Luật Xử phạt vi phạm hành chính và điểm d khoản 1 Điều 31 Nghị định số 102/2014/NĐ-CP ngày 10/11/2014 của Chính phủ.

[2.2.3]. Đối với các Quyết định giải quyết khiếu nại:

Ngày 24/6/2021, ông Nguyễn Trọng T có hành vi lấn chiếm đất nông nghiệp không phải là đất trồng lúa, đất rừng đặc dụng, đất rừng phòng hộ, đất rừng sản xuất tại khu vực nông thôn; diện tích đất lấn chiếm dưới 0,05ha và UBND xã D ban hành Quyết định xử phạt vi phạm hành chính và quyết định cưỡng chế buộc thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả đối với ông T là có căn cứ. Ông T không đồng ý với quyết định xử phạt vi phạm hành chính và quyết định cưỡng chế nên đã khiếu nại, Chủ tịch UBND xã D và Chủ tịch UBND huyện G đã căn cứ nguồn gốc, diện tích đất hộ ông T được cấp và các quy định pháp luật ban hành các quyết định giải quyết khiếu nại là đúng quy định pháp luật. Do đó, không có căn cứ chấp nhận nội dung kháng cáo của ông T về việc đề nghị hủy Quyết định số 149/QĐ-UBND ngày 03/3/2022 của Chủ tịch UBND xã D về việc giải quyết khiếu nại của ông Nguyễn Trọng T (lần đầu) và Quyết định số2037/QĐ-CTUB ngày 25/01/2022 của Chủ tịch UBND huyện G về việc giải quyết khiếu nại của ông Nguyễn Trọng T (lần hai).

[3]. Đối với yêu cầu hủy một phần Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nông nghiệp số Q870203 ngày 12/01/2001 mang tên cụ Nguyễn Thị V1, cụ thể: hủy phần giấy chứng nhận liên quan đến thửa đất số 112, tờ bản đồ số 3883-CIV, diện tích 215m²:

Tại số thứ tự 40 của phương án giao đất cho hộ gia đình, cá nhân thôn D, xã D thì gia đình cụ Nguyễn Thị V1 được giao 1.638m² đất cho 04 nhân khẩu. Tại biên bản họp ngày 25/10/2000 của Hội đồng giao đất nông nghiệp xã D, thống nhất thông qua phương án giao đất nông nghiệp cho 229 hộ gia đình, xác nhận đủ điều kiện, trong đó có hộ gia đình cụ V1.

Ngày 05/6/2000, UBND xã D ban hành Thông báo số 45/TB-UB về việc công khai hồ sơ và phương án giao đất nông nghiệp thôn D đã được Hội đồng giao đất xã xét duyệt.

Ngày 20/6/2000, kết thúc công khai, không hộ dân nào có ý kiến, khiếu nại. Ngày 26/10/2000, UBND xã ban hành Tờ trình số 33/TT-UB về việc xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các hộ gia đình, cá nhân trong đó có hộ cụ V1.

Ngày 18/12/2000, UBND huyện G ban hành Quyết định số 1145/QĐ-UB về việc phê duyệt phương án giao đất nông nghiệp cho hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định lâu dài vào mục đích sản xuất nông nghiệp theo Nghị định 64/NĐ-CP của Chính phủ.

Ngày 19/12/2000, UBND huyện G ban hành Quyết định số 1150/QĐ-UB về việc phê duyệt cấp chứng nhận quyền sử dụng đất cho 229 hộ gia đình, cá nhân.

Ngày 12/01/2001, UBND huyện G cấp giấy chứng nhân cho hộ gia đình cụ V1.

Việc UBND huyện G thực hiện cấp giấy chứng nhận cho hộ gia đình cụ V1 là đúng thẩm quyền và trình tự thủ tục theo quy định tại Điều 36 Luật Đất đai 1993, Thông tư số 346/1998/TT-TCĐC ngày 16/3/1998 của Tổng cục địa chính về hướng dẫn thủ tục đăng ký đất đai, lập hồ sơ địa chính và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Do đó yêu cầu hủy một phần giấy chứng nhận trên của ông T là không có cơ sở chấp nhận.

[4]. Từ những phân tích, nhận định nêu trên, xét thấy: Tòa án cấp sơ thẩm đã căn cứ vào các quy định của pháp luật không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Trọng T là có căn cứ. Tại phiên tòa phúc thẩm, người khởi kiện ông Nguyễn Trọng T kháng cáo nhưng không xuất trình thêm tài liệu, chứng cứ mới bảo vệ cho quan điểm của mình. Do đó, không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Trọng T, cần giữ nguyên bản án sơ thẩm như ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội tham gia phiên tòa.

[5].Về án phí: Kháng cáo không được chấp nhận nên ông T phải chịu án phí hành chính phúc thẩm. Tuy nhiên, ông T là người cao tuổi và có đơn xin miễn án phí nên thuộc trường hợp miễn án phí hành chính phúc thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 241 Luật Tố tụng hành chính; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Bác kháng cáo của người khởi kiện ông Nguyễn Trọng T. Giữ nguyên các quyết định của Bản án hành chính sơ thẩm số 157/2023/HC-ST ngày 17 tháng 7 năm 2023 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội.
  2. Về án phí: Ông Nguyễn Trọng T được miễn án phí hành chính phúc thẩm.

3. Các quyết định khác của bản án hành chính sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

* Nơi nhận:

  • - VKSNDCC tại Hà Nội;
  • - TAND thành phố Hà Nội;
  • - VKSND thành phố Hà Nội;
  • - Cục THADS thành phố Hà Nội;
  • - Các đương sự (theo địa chỉ);
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hoàng Thị Bích Hải

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 797/2023/HC-PT ngày 06/11/2023 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI về khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai

  • Số bản án: 797/2023/HC-PT
  • Quan hệ pháp luật: Khiếu kiện Quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 06/11/2023
  • Loại vụ/việc: Hành chính
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: NKK: Nguyễn Trọng T - NBK: Chủ tịch UBND huyện G, Thành phố Hà Nội vụ án "Khiếu kiện Quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai"
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger