Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN HÓC MÔN

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 796/2024/DS-ST

Ngày: 18/9/2024

V/v “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN – TP. HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Chương.

Các hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Huỳnh Văn Đẹp
  2. Bà Nguyễn Thị Kim Liên

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Thu Huyền, là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hiền - Kiểm sát viên.

Trong ngày 18 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 144/2024/TLST- DS ngày 05/3/2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 506/2024/QĐXXST-DS ngày 05/8/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 360/2024/QÐST-DS ngày 26/8/2024 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Công ty T (Việt Nam)

Địa chỉ: I P, phường B, quận A, Thành phố Hồ Chí Minh

Đại diện theo uỷ quyền: Bà Nguyễn Phước Quỳnh G, sinh năm 2001 (có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt)

Địa chỉ: phòng D, tầng D, tòa nhà số G T, phường T, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh

Bị đơn: Ông Nguyễn Kim H, sinh năm 1986 (vắng mặt)

Địa chỉ: 1 ấp A, xã N, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 11/7/2023, bản tự khai, biên bản về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, biên bản về việc không tiến hành hòa giải được, nguyên đơn có người đại diện theo uỷ quyền là bà Nguyễn Phước Quỳnh G trình bày:

Ngày 26/04/2022 Công ty T (VIỆT NAM) (sau đây gọi tắt là Công ty T) ký Hợp đồng tín dụng số: 3106507 (sau đây gọi tắt là Hợp đồng tín dụng) về việc cấp tín dụng cho ông Nguyễn Kim H với khoản vay trị giá 31.980.000 đồng. Sau khi ký kết, Công ty T đã giải ngân theo đúng quy định trong Hợp đồng tín dụng cho ông Nguyễn Kim H.

Theo Hợp đồng tín dụng, ông Nguyễn Kim H có nghĩa vụ thanh toán hàng tháng với số tiền là 1.615.350 đồng trong kỳ hạn 36 tháng kể từ ngày 25/05/2022 đến ngày 25/04/2025.

Tuy nhiên, sau khi được giải ngân, từ ngày 16/11/2022 ông Nguyễn Kim H đã không thanh toán/ thanh toán không đầy đủ theo nghĩa vụ hợp đồng đối với khoản vay mà phía Công ty T đã giải ngân. Công ty T đã tiến hành liên hệ qua điện thoại đề nghị ông Nguyễn Kim H thực hiện nghĩa vụ thanh toán của mình theo hợp đồng. Đồng thời, Công ty T cũng đã gửi thư đề nghị thực hiện nghĩa vụ thanh toán để thông báo trực tiếp cho ông Nguyễn Kim H biết về việc hoàn thành nghĩa vụ thanh toán theo hợp đồng. Tuy nhiên, ông Nguyễn Kim H vẫn không có bất kỳ hành động thực tế nào thực hiện nghĩa vụ thanh toán theo hợp đồng cho phía Công ty T. Tính đến ngày 18/9/2024 ông H cò nợ Công ty T tổng số tiền 63.144.246 đồng. Nay Công ty T yêu cầu cá nhân ông Nguyễn Kim H thanh toán toàn bộ khoản vay cho Công ty T với tổng số tiền tính đến ngày 18/9/2024 là 63.144.246 đồng (trong đó nợ gốc là 30,077,458 đồng, số tiền lãi trong hạn là 19.610.754 đồng, số tiền lãi quá hạn là 11.171.885 đồng, số tiền lãi chậm trả là 2.284.149 đồng). Đồng thời thanh toán lãi, phí phát sinh từ ngày 19/9/2024 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ nói trên.

Bị đơn ông Nguyễn Kim H vắng mặt, không giao nộp tài liệu, chứng cứ, không cung cấp lời khai, không đưa ra ý kiến, yêu cầu.

Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tiến hành điều tra, xác minh, tống đạt thông báo về việc thụ lý vụ án, tống đạt giấy triệu tập, tống đạt thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, tống đạt Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên tòa hợp lệ nhưng bị đơn ông Nguyễn Kim H đều vắng mặt không có lý do nên vụ án được đưa ra xét xử theo quy định.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn phát biểu quan điểm về phần thủ tục tố tụng dân sự: Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt đầy đủ các văn bản tố tụng dân sự theo quy định pháp luật. Tại phiên tòa, Thẩm phán, Hội đồng xét xử áp dụng, tuân thủ đúng trình tự thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Những người tham gia phiên tòa chấp hành đúng nội quy phiên tòa.

Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: đây là tranh chấp hợp đồng vay tài sản mà bị đơn đang cư ngụ tại huyện H, nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh theo các qui định tại khoản 3, Điều 26; điểm a, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Toà án đã tống đạt thông báo về việc thụ lý vụ án, tống đạt giấy triệu tập, tống đạt thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp chứng cứ, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, tống đạt Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên tòa hợp lệ nhưng bị đơn ông Nguyễn Kim H đều vắng mặt không lý do. Ngoài ra, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn bà Nguyễn Phước Q Giao có đơn xin xét xử vắng mặt. Vì vậy, Toà án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn, nguyên đơn theo quy định tại Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

[3] Do bị đơn ông H không đến tòa án để cung cấp lời khai, giao nộp tài liệu, chứng cứ để chứng minh, không trình bày ý kiến hay đưa ra yêu cầu, không phản đối với yêu cầu của nguyên đơn nên Hội đồng xét xử căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án để giải quyết vụ án.

[4] Về yêu cầu của đương sự, phía Công ty T yêu cầu cá nhân ông Nguyễn Kim H phải trả tổng số nợ còn thiếu tính đến ngày 18/9/2024 là 63.144.246 đồng (trong đó nợ gốc là 30,077,458 đồng, số tiền lãi trong hạn là 19.610.754 đồng, số tiền lãi quá hạn là 11.171.885 đồng, số tiền lãi chậm trả là 2.284.149 đồng). Đồng thời thanh toán lãi, phí phát sinh từ ngày 19/9/2024 cho đến khi ông H trả hết số dư nợ cho Công ty T. Hội đồng xét xử xét thấy:

[5] Xét yêu cầu của Công ty T buộc bị đơn ông H phải trả tổng số tiền nợ là 63.144.246 đồng (trong đó nợ gốc là 30,077,458 đồng, số tiền lãi trong hạn là 19.610.754 đồng, số tiền lãi quá hạn là 11.171.885 đồng, số tiền lãi chậm trả là 2.284.149 đồng). Căn cứ vào Giấy đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng số 3106507 ngày 22/4/2022 và cùng các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử xét thấy, Công ty T đã cấp tín dụng cho ông Nguyễn Kim H với khoản vay trị giá 31.980.000 đồng với mục đích tiêu dùng cá nhân. Tuy nhiên trong quá trình thực hiện hợp đồng, ông H đã không thanh toán đầy đủ số tiền nợ cho Công ty T theo thông báo giao dịch hàng tháng như vậy ông H đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán, nên ngày 25/9/2022, Công ty T đã chuyển toàn bộ số nợ vay còn thiếu của ông H sang nợ quá hạn và Công ty T yêu cầu ông H phải trả tổng số tiền nợ là 63.144.246 đồng. Xét thấy yêu cầu của phía Công ty T là phù hợp với quy định pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[6] Xét yêu cầu của Công ty T buộc ông H phải trả tiền lãi quá hạn tính từ ngày 25/9/2022 đến hết ngày 18/9/2024 số tiền lãi trong hạn là 19.610.754 đồng, số tiền lãi quá hạn là 11.171.885 đồng, số tiền lãi chậm trả là 2.284.149 đồng) và tiền lãi phát sinh kể từ ngày 19/9/2024 theo hợp đồng tín dụng cho đến khi ông B trả dứt nợ cho Công ty T. Hội đồng xét xử nhận thấy, đối với lãi suất quá hạn, tại khoản 2 Điều 91 Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010 quy định: “ Tổ chức tín dụng và khách hàng có quyền thỏa thuận về lãi suất, phí cấp tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng theo quy định của pháp luật”. Tại các Điều 466, Điều 468 Bộ luật dân sự 2015 quy định bên vay có nghĩa vụ trả lãi đối với số tiền chậm trả và lãi suất quá hạn được tính theo sự thỏa thuận về lãi suất trong hợp đồng giữa các bên. Vì vậy, trường hợp này cần áp dụng lãi suất do các bên thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng và sự thỏa thuận này phải phù hợp với quy định, hướng dẫn của Ngân hàng N. Xét thấy kể từ ngày 25/9/2022 Công ty T đã chuyển toàn bộ số nợ vay còn thiếu của ông H sang nợ quá hạn, đến nay ông H vẫn không thực hiện việc thanh toán nợ gốc và lãi cho Công ty T theo như cam kết trong hợp đồng tín dụng. Do đó Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu của nguyên đơn là phù với quy định của pháp luật nên chấp nhận.

[7] Từ nhận định trên Hội đồng xét xử buộc ông H phải trả cho Công ty T tổng số tiền nợ gốc và lãi tính đến ngày 18/9/2024 là 63.144.246 đồng (trong đó nợ gốc là 30,077,458 đồng, số tiền lãi trong hạn là 19.610.754 đồng, số tiền lãi quá hạn là 11.171.885 đồng, số tiền lãi chậm trả là 2.284.149 đồng) làm một lần ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật. Đồng thời ông H còn phải thanh toán khoản lãi phát sinh từ ngày 19/9/2024 cho đến khi trả dứt nợ vay theo theo lãi suất quy định tại hợp đồng.

[8] Về án phí: Án phí dân sự sơ thẩm được tính là 3.157.212 đồng, buộc ông Nguyễn Kim H phải chịu, nộp tại Chi cục thi hành án dân sự có thẩm quyền.

Hoàn trả lại cho nguyên đơn số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 1.050.635 đồng theo Biên lai thu số 0024135 ngày 29/02/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Hóc Môn.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 26, 35, 39, 186, 203, 207, 227, 228, 235, 264, 266 và Điều 267, 271, 272 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ các Điều 463, 466 và 468 của Bộ luật dân sự năm 2015;

Căn cứ khoản 2 Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017);

Căn cứ Luật thi hành án dân sự năm 2008 (được sửa đổi, bổ sung năm 2014);

Căn cứ Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty T (Việt Nam) theo đơn khởi kiện ghi ngày 11/7/2023
  2. Buộc ông Nguyễn Kim H trả cho Công ty T (Việt Nam) số tiền nợ tính đến ngày 18/9/2024 là 63.144.246 đồng (sáu mươi ba triệu một trăm bốn mươi bốn nghìn hai trăm bốn mươi sáu đồng), bao gồm nợ gốc là 30,077,458 đồng (ba mươi triệu không trăm bảy mươi bảy nghìn bốn trăm năm mươi tám đồng), nợ lãi trong hạn là 19.610.754 đồng (mười chín triệu sáu trăm mười nghìn bảy trăm năm mươi bốn đồng), nợ lãi quá hạn là 11.171.885 đồng (mười một triệu một trăm bảy mươi mốt nghìn tám trăm tám mươi lăm đồng), lãi chậm trả 2.284.149 đồng (hai triệu hai trăm tám mươi bốn nghìn một trăm bốn mươi chín đồng) thi hành một lần ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật. Việc trả tiền thực hiện tại Chi Cục Thi hành án dân sự có thẩm quyền.

Ngoài ra ông Nguyễn Kim H còn phải trả cho Công ty T (Việt Nam) tiền lãi phát sinh từ ngày 19/9/2024 cho đến khi trả hết nợ vay theo lãi suất quy định tại hợp đồng.

5/ Về án phí dân sự sơ thẩm

Ông Nguyễn Kim H phải chịu án phí sơ thẩm là 3.157.212 đồng (ba triệu, một trăm năm mươi bảy nghìn, hai trăm mười hai đồng), nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự có thẩm quyền.

Trả lại cho Công ty T (Việt Nam) số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 1.050.635 đồng (một triệu không trăm năm mươi nghìn, sáu trăm ba mươi lăm đồng) theo Biên lai thu số 0024135 ngày 29/02/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hóc Môn.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7,7a,7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án để xin xét xử phúc thẩm tại Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh trong hạn mười lăm ngày kể từ ngày được giao bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - TANDTP.Hồ Chí Minh;
  • - VKSND huyện Hóc môn;
  • - Chi cục THA Dân sự huyện Hóc Môn;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu VP, hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Đình Chương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 796/2024/DS-ST ngày 18/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 796/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/09/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: 1/ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty T (Việt Nam) theo đơn khởi kiện ghi ngày 11/7/2023 2/ Buộc ông Nguyễn Kim H trả cho Công ty T (Việt Nam) số tiền nợ tính đến ngày 18/9/2024 là 63.144.246 đồng (sáu mươi ba triệu một trăm bốn mươi bốn nghìn hai trăm bốn mươi sáu đồng), bao gồm nợ gốc là 30,077,458 đồng (ba mươi triệu không trăm bảy mươi bảy nghìn bốn trăm năm mươi tám đồng), nợ lãi trong hạn là 19.610.754 đồng (mười chín triệu sáu trăm mười nghìn bảy trăm năm mươi bốn đồng), nợ lãi quá hạn là 11.171.885 đồng (mười một triệu một trăm bảy mươi một nghìn tám trăm tám mươi lăm đồng), lãi chậm trả 2.284.149 đồng (hai triệu hai trăm tám mươi bốn nghìn một trăm bốn mươi chín đồng) thi hành một lần ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật. Việc trả tiền thực hiện tại Chi Cục Thi hành án dân sự có thẩm quyền. Ngoài ra ông Nguyễn Kim H còn phải trả cho Công ty T (Việt Nam) tiền lãi phát sinh từ ngày 19/9/2024 cho đến khi trả hết nợ vay theo lãi suất quy định tại hợp đồng
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger