Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CỦ CHI

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 795/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 28/6/2024.

V/v: Ly hôn.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Hùng Vương.

Các Hội thẩm nhân dân: 1/ Ông Nguyễn Văn Vân.

2/ Ông Võ Văn Dương.

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Thanh Thi – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh không tham gia phiên tòa.

Ngày 28 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Củ Chi xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 1143/2023/TLST-HNGĐ ngày 17 tháng 10 năm 2023 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 276/2024/QĐST-HNGĐ ngày 03/6/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 296/2024/QĐST-HNGĐ ngày 14/6/2024, giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Cẩm G, sinh năm 1997. (có mặt)
  • Thường trú: ấp Q, xã H, V, tỉnh Đồng Tháp.
  • Địa chỉ liên hệ: 624 L, phường T, quận T, thành phố Hồ Chí Minh.
  • - Bị đơn: Ông Nguyễn Văn C, sinh năm 1990; (vắng mặt)
  • Thường trú: đường A, tổ C, ấp B, xã B, huyện C, thành phố Hồ Chí Minh.
  • Địa chỉ liên hệ: 157 Đ, phường A, quận C, thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo nội dung đơn xin ly hôn và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Cẩm G trình bày:

Bà và ông Nguyễn Văn C tìm hiểu nhau thời gian khoảng 03 năm thì tự nguyện tiến tới hôn nhân, cưới nhau năm 2019, có tổ chức cưới, sau khi cưới hai vợ chồng ở nhà mẹ chồng tại thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu một thời gian. Đến khoảng tháng 10/2020 mẹ chồng bán nhà, hai vợ chồng ra khu xưởng nhà thuê để ở, lúc này hai vợ chồng bắt đầu xảy ra mâu thuẩn, ông C thường xuyên đánh bà,... do không chịu nổi, bà bỏ về thành phố Hồ Chí Minh sống. Khoảng giữa năm 2021, ông C vô thành phố Hồ Chí Minh tìm bà xin tha thứ và hàn gắng tình cảm, bà đồng ý. Hai vợ chồng ra thuê nhà trọ ở đến khoảng tháng 6/2023, ông C lại đánh đập bà, quậy phá nơi làm việc của bà,..., từ đó bà quyết định ly hôn với ông C và không ở cùng ông C nữa. Khoảng tháng 9/2023, ông C về quê bà và còn đánh cả mẹ của bà, bà đã báo Công an ở quê, nhưng đến nay vẫn chưa thấy giải quyết. Bà nhận thấy tình cảm không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, không thể hàn gắn nên nay bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Nguyễn Văn C.

Về con chung: có 02 con chung tên Nguyễn Châu Ngọc T, sinh ngày: 03/01/2019 và Nguyễn Châu Uyên V, sinh ngày: 26/5/2022. Bà yêu cầu được quyền trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục con chung tên Nguyễn Châu Uyên V; Giao con chung

là trẻ Nguyễn Châu Ngọc T cho ông C trực tiếp nuôi dưỡng vì hiện trẻ đang ở với ông C; Không ai cấp dưỡng nuôi con cho ai.

Về tài sản chung: tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Nợ chung: không có.

Các tài liệu, chứng cứ mà nguyên đơn cung cấp để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình gồm: Chứng minh nhân dân + Sổ hộ khẩu, khai sinh con (sao y) + giấy chứng nhận kết hôn.

Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn Nguyễn Văn C trình bày:

Hai vợ chồng kết hôn năm 2018 và đã đăng ký kết hôn sau đó, vợ chồng ông hoàn toàn tự nguyện đến với nhau. Sau khi kết hôn vợ chồng ông sống riêng tại thành phố V, cuộc sống hôn nhân vẫn tốt đẹp. Mâu thuẩn vợ chồng ông xảy ra từ năm 2023, nguyên nhân dẫn đến mâu thuẩn hôn nhân là tài chính, kinh tế khó khăn xảy ra từ sau dịch bệnh. Nguyện vọng riêng tôi luôn muốn các con có một gia đình hạnh phúc, đầy đủ và trọn vẹn như bao đứa trẻ khác. Hiện tại gia đình ông có hai con là Nguyễn Châu Ngọc T, sinh ngày: 03/01/2019 và Nguyễn Châu Uyên V, sinh ngày: 26/5/2022. Ông không yêu cầu bất cứ gì về vấn đề nuôi con, nếu quyết định đi tới ly hôn ông xin vợ đừng làm ảnh hưởng tới cuộc sống của cha con ông và đừng tới lui, qua lại làm ảnh hưởng tới cuộc sống và tâm lý của con trong quá trình ông nuôi dạy như những gì mà ngày vợ ông đã tự ý ra riêng và đã viết giấy cho ông.

Tài sản chung hiện là xe CRV đã mua vay ngân hàng, hiện tại ông đứng tên. Về vấn đề tài sản chung ông có thể thương lượng khi gặp nhau.

Ngày 17/5/2024, ông C trình bày thêm: Về vấn đề ly hôn giữa ông và bà Nguyễn Thị Cẩm G, ông đồng thuận và việc nuôi con không có vấn đề gì tranh luận. Ông mong muôn xem xét về vấn đề tài sản chung xe CRV 51G – 89211 hiện đang vay tại Ngân hàng S từ năm 2019, tổng dư nợ hiện tại là gần 800.000.000 đồng (Tám trăm triệu đồng). Nay ông muốn trước khi ly hôn, Hội đồng xét xử xem xét xử lý phần nợ, tài sản chung của hai vợ chồng. Mong muốn của ông là rõ ràng về phần nợ, giải quyết kết thúc tốt đẹp nhất có thể.

Tại phiên tòa:

Nguyên đơn vẫn giữ nguyên ý kiến như đã trình bày, không thay đổi hay bổ sung gì thêm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Theo nội dung đơn khởi kiện có cơ sở xác định quan hệ pháp luật tranh chấp về ly hôn được quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, bị đơn có nơi cư trú tại xã B, huyện C nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, thành phố Hồ Chí Minh.

Ông C đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Quyết định đưa vụ án ra xét xử; Quyết định hoãn phiên tòa, nhưng ông C vẫn không đến Tòa án. Do vậy, Hội đồng xét

xử tiến hành xét xử vắng mặt ông C và căn cứ theo các tài liệu, chứng cứ mà phía nguyên đơn cung cấp; chứng cứ mà Tòa thu thập được để giải quyết vụ kiện theo quy định tại khoản 4 Điều 91; các điều 227, 228, 264, 266, 267 của Bộ luật Tố tụng dân sự là có cơ sở.

Trong quá trình giải quyết vụ kiện, ông C có trình bày nội dung: “...hai vợ chồng có tài sản chung là 01 xe CRV biển số 51G – 89211 và còn nợ Ngân hàng là 800.000.000 đồng (T1 trăm triệu đồng) tiền mua xe”. Tòa án có lập biên bản yêu cầu ông C cung cấp tài liệu, chứng cứ, chứng minh tài sản chung và nợ chung của hai vợ chồng cho Tòa án trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày 17/5/2024, nhưng ông C không thực hiện. Hội đồng xét xử xét thấy không có thông tin, tài liệu, chứng cứ để xác định có hay không việc ông C, bà G có nợ chung, cũng như chủ thể cụ thể là ai, do đó Hội đồng xét xử không xét là có cơ sở.

[2] Về nội dung:

Quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Cẩm G và ông Nguyễn Văn C tự nguyện tiến tới hôn nhân, có đăng ký kết hôn và đã được Ủy ban nhân dân Phường H, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu cấp giấy chứng nhận kết hôn số 31, ngày 11/3/2019 nên là hôn nhân hợp pháp.

Xét yêu cầu của bà G xin ly hôn với ông C là có căn cứ chấp nhận. Bởi lẽ: Theo lời trình bày của bà G thì mâu thuẩn giữa bà với ông C là trầm trọng và không thể hàn gắn. Cuộc sống vợ chồng của ông bà không hạnh phúc, nguyên nhân do bất đồng quan điểm về nhiều mặt, ông C thường xuyên đánh đập bà,...và hai vợ chồng không còn chung sống với nhau đến nay hơn 01 năm. Vì vậy, có cơ sở xác định tình cảm vợ chồng giữa bà G và ông C không còn, tình trạng hôn nhân mâu thuẩn trầm trọng, đời sống chung của hai người không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được theo quy định tại khoản 1 Điều 56, khoản 1 Điều 57, Điều 58 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử xét thấy có cơ sở nên chấp nhận.

Về con chung: có 02 con chung tên Nguyễn Châu Ngọc T, sinh ngày: 03/01/2019 và Nguyễn Châu Uyên V, sinh ngày: 26/5/2022. Xét yêu cầu của bà G là được quyền trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục con chung tên Nguyễn Châu Uyên V; Trẻ V1 chưa tròn 36 tháng tuổi và hiện do bà G trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục. Để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp cho trẻ, Hội đồng xét xử xét thấy giao trẻ Nguyễn Châu Uyên V cho bà G trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục là phù hợp. Trẻ Nguyễn Châu Ngọc T hiện ông C đang trực tiếp nuôi dưỡng; Bà G đồng ý để cho ông C tiếp tục nuôi dưỡng, giáo dục do đó Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện của bà G là giao con chung là trẻ Nguyễn Châu Ngọc T cho ông C trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục. Bà G không yêu cầu ông C cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

Ông C không tham dự phiên tòa và cũng không có ý kiến, yêu cầu gì về việc cấp dưỡng nuôi con; Bà G không cấp dưỡng nuôi con cho ông C, do đó Hội đồng xét xử không xem xét.

Về tài sản chung: tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Nghĩa vụ dân sự chung: Bà G xác định không có nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Căn cứ khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Căn cứ Luật phí và Lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015; Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14

ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; Cần buộc bà G phải nộp án phí dân sự sơ thẩm về việc xin ly hôn là phù hợp.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

- Căn cứ khoản 1 Điều 56; khoản 1 Điều 57; Điều 58; Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84, Điều 107, Điều 110, Điều 116, Điều 117, Điều 118 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014;

- Căn cứ Luật phí và Lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban T2;

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Cẩm G.

1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Cẩm G được ly hôn với ông Nguyễn Văn C.

Giấy chứng nhận kết hôn số 31, ngày 11/3/2019 của Ủy ban nhân dân Phường H, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu cấp cho bà Nguyễn Thị Cẩm G và ông Nguyễn Văn C không còn giá trị pháp lý.

2. Về con chung: có 02 con chung tên Nguyễn Châu Ngọc T, sinh ngày: 03/01/2019 và Nguyễn Châu Uyên V, sinh ngày: 26/5/2022. Bà G được quyền trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục con chung tên Nguyễn Châu Uyên V. Ghi nhận sự tự nguyện của bà G là không yêu cầu ông C cấp dưỡng nuôi con. Ông C được quyền trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục con chung tên Nguyễn Châu Ngọc T.

Khi có lý do chính đáng việc cấp dưỡng nuôi con có thể thay đổi. Việc thay đổi cấp dưỡng nuôi con do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.

Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Nếu người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người không trực tiếp nuôi con.

3. Về tài sản chung: tự thỏa thuận, không yêu cầu tòa án giải quyết.

4. Nghĩa vụ dân sự chung: không có.

5. Án phí dân sự sơ thẩm về việc xin ly hôn: là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) buộc bà Nguyễn Thị Cẩm G phải nộp nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai số AA/2023/0018303 ngày 17/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Củ Chi; B đã nộp đủ tiền án phí dân sự sơ thẩm.

Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn không có mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày được tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

4

Nơi nhận:

  • - TAND Tp. Hồ Chí Minh;
  • - VKSND H. Củ Chi;
  • - Chi cục THADS H. Củ Chi;
  • - UBND xã nơi đăng ký kết hôn;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: Vp, hồ sơ (12b).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phan Hùng Vương

5

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 795/2024/HNGĐ-ST ngày 28/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về ly hôn

  • Số bản án: 795/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger