TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 795/2024/DS-ST
Ngày: 27-9-2024
V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH,
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Ngô Thị Thùy Dương
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Đặng Văn Ấn
- Ông Phan Hoàng Nam.
- Thư ký phiên tòa:
Tại điểm cầu trung tâm: Ông Phan Trọng Tường – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh.
Tại điểm cầu thành phần: Ông Lê Hoàng – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh tham gia phiên tòa: Ông Trần Văn Đang – Kiểm sát viên.
Trong ngày 27 tháng 9 năm 2024 tại phòng xử án của Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 563/2024/TLST-DS ngày 02 tháng 7 năm 2024, về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo hình thức trực tuyến tại:
Điểm cầu trung tâm: Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh;
Điểm cầu thành phần: Trụ sở Ủy ban nhân dân Phường Tân Hưng, Quận 7, Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 841/2024/QĐXXST-DS ngày 16 tháng 8 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 690/2024/QĐST-DS ngày 06 tháng 9 năm 2024 giữa:
- Nguyên đơn: Công ty tài chính trách nhiệm hữu hạn một thành viên XYZ(Việt Nam)
- Bị đơn: Bà Lê Thị Cẩm T, sinh năm: 1984
Địa chỉ: Số X PT, Phường N, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Jin S, sinh năm: 1983 – Chức danh: Chủ tịch Hội đồng thành viên.
Ông Jin S ủy quyền cho: Ông Ko Sung J – Chức vụ: Giám đốc kinh doanh (Giấy ủy quyền số 896/2023/QĐ-MAFC ngày 29/12/2023)
Ông Ko Sung J ủy quyền lại cho: Công ty luật trách nhiệm hữu hạn một thành viên ABC.
Địa chỉ: Phòng 401, tầng A, tòa nhà B Trần Xuân S, phường T, Quận X, Thành phố Hồ Chí Minh.
(Giấy ủy quyền số 04/2024/GUQ-MAFC ngày 01/01/2024)
Công ty luật trách nhiệm hữu hạn một thành viên ABC ủy quyền cho: Bà Nguyễn Thị Lan A, sinh năm: 2000 – Chuyên viên pháp lý của Công ty luật
Địa chỉ liên hệ: Phòng 401, tầng A, tòa nhà B Trần Xuân S, phường T, Quận X, Thành phố Hồ Chí Minh.
(Giấy ủy quyền lập ngày 19/7/2024, bà Nguyễn Thị Lan A có mặt tại phiên tòa tại điểm cầu thành phần)
Địa chỉ: A13/12 ấp X, xã T, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh.
(Bà Lê Thị Cẩm T vắng mặt tại phiên tòa)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 15/3/2024, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn có người đại diện theo ủy quyền là bà Nguyễn Thị Lan A trình bày:
Ngày 18/04/2022 Công ty tài chính trách nhiệm hữu hạn một thành viên XYZ(VIỆT NAM) (sau đây gọi tắt là Công ty) ký Hợp đồng tín dụng số: 3074019 (gọi tắt là HĐTD) về việc cấp tín dụng cho Ông/Bà Lê Thị Cẩm T với khoản vay trị giá 42.640.000 đồng, lãi suất 45%/năm. Sau khi hợp đồng được ký kết, Công ty đã giải ngân theo đúng quy định trong HĐTD cho Ông/Bà Lê Thị Cẩm T, số tiền giải ngân được Công ty chuyển vào tài khoản cá nhân của Ông/Bà Lê Thị Cẩm T. Theo HĐTD, Ông/Bà Lê Thị Cẩm T có trách nhiệm, nghĩa vụ thanh toán là trả góp hàng tháng với số tiền là 2.191.382 đồng trong kỳ hạn 36 tháng, kể từ ngày 10/05/2022 đến ngày 10/04/2025 cho Công ty.
Kể từ ngày được giải ngân đến nay Ông/Bà Lê Thị Cẩm T chỉ mới thanh toán trả góp cho Công ty được 14 kỳ với tổng số tiền đã thanh toán là 30.668.205 đồng. Từ ngày 22/09/2023 đến nay Ông/Bà Lê Thị Cẩm T không tiếp tục thực hiện nghĩa vụ thanh toán trả góp theo HĐTD đã ký kết với Công ty.
Công ty đã liên hệ nhắc nợ qua điện thoại rất nhiều lần để yêu cầu Ông/Bà Lê Thị Cẩm T thực hiện nghĩa vụ thanh toán theo HĐTD. Đồng thời, Công ty cũng đã gửi thư đề nghị thanh toán để thông báo trực tiếp cho Ông/Bà Lê Thị Cẩm T biết về việc đã quá hạn thanh toán. Tuy nhiên, Ông/Bà Lê Thị Cẩm T vẫn không thực hiện nghĩa vụ thanh toán theo HĐTD cho phía Công ty.
Do đó, Công ty đã nộp đơn khởi kiện ra Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh yêu cầu Ông/Bà Lê Thị Cẩm T thanh toán cho Công ty tổng cộng số tiền tạm tính đến ngày 27/09/2024 là: 53.209.255 đồng. Trong đó:
- Số dư nợ gốc còn lại chưa thanh toán: 31.528.981 đồng.
- Số tiền lãi trong hạn: 13.166.550 đồng.
- Số tiền lãi quá hạn: 7.569.049 đồng.
- Số tiền lãi chậm trả: 944.675 đồng.
Diễn giải công thức tính lãi:
Lãi trong hạn = Tổng số tiền lãi chưa trả mỗi kỳ (tính đến thời điểm tính lãi)
- Lãi quá hạn: (Quy định tại khoản 8.3 Điều 8 của HĐTD)
a) Số tiền lãi quá hạn từng kỳ = 150% x Lãi suất% x Số tiền gốc chưa trả mỗi kỳ x Số ngày quá hạn : 365 ngày
b) Số tiền lãi quá hạn = Tổng số tiền lãi quá hạn từng kỳ (tính đến thời điểm tính lãi
- Lãi chậm trả: (Quy định tại khoản 8.3 Điều 8 của HĐTD)
a) Số tiền lãi chậm trả từng kỳ = 10% x Số tiền lãi chưa trả mỗi kỳ x Số ngày quá hạn : 365 ngày
b) Số tiền lãi chậm trả = Tổng số tiền lãi chậm trả từng kỳ (tính đến thời điểm tính lãi)
Cách tính lãi trên được căn cứ tại khoản 2 Điều 91 Luật tổ chức tín dụng năm 2010 về Lãi suất, phí trong hoạt động kinh doanh của tổ chức tín dụng, và Khoản 4 Điều 13, Khoản 5 Điều 14 Thông tư 39/2016/TT-NHNN về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng.
Ngoài ra Công ty còn yêu cầu Ông/Bà Lê Thị Cẩm T phải thanh toán lãi phát sinh kể từ ngày 28/9/2024 cho đến khi thi hành xong bản án có hiệu lực pháp luật.
Tại phiên tòa sơ thẩm, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn có bà Nguyễn Thị Lan A vẫn giữ những yêu cầu trên, không nộp bổ sung tài liệu, chứng cứ.
Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa sơ thẩm, bị đơn Bà Lê Thị Cẩm T vắng mặt, không thể hiện ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, không cung cấp tài liệu, chứng cứ.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh tham gia phiên toà có ý kiến phát biểu như sau:
Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã thực hiện đầy đủ các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Các đương sự đã thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
- Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:
- Công ty tài chính trách nhiệm hữu hạn một thành viên XYZ Việt Nam khởi kiện tranh chấp hợp đồng tín dụng với Bà Lê Thị Cẩm T. Đây là tranh chấp về hợp đồng nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân theo quy định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Theo kết quả trả lời xác minh của Công an xã Tân Kiên, huyện Bình Chánh xác định “Đương sự Lê Thị Cẩm T, sinh năm 1984, hộ khẩu thường trú tại A13/12 ấp X, xã T, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh, Thành phố Hồ Chí Minh”. Căn cứ theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Về sự vắng mặt của bị đơn: Bà Lê Thị Cẩm T đã được Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai để tham gia phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt không lý do nên Hội đồng xét xử đưa vụ án ra xét xử vắng mặt bà T theo quy định tại khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về áp dụng pháp luật: Do giao dịch giữa các đương sự được xác lập vào thời điểm Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 và Bộ luật dân sự năm 2015 có hiệu lực pháp luật. Do đó, Hội đồng xét xử áp dụng các văn bản pháp luật này để làm cơ sở giải quyết vụ án.
- Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, Hội đồng xét xử xét thấy như sau:
- Tòa án triệu tập Bà Lê Thị Cẩm T đến Tòa án để ghi nhận ý kiến, giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và tham gia phiên tòa giải quyết vụ án tranh chấp hợp đồng tín dụng với nguyên đơn nhưng bà T không đến Tòa để giải quyết vụ án. Vì vậy, bà T đã tự tước bỏ quyền được chứng minh của mình và phải chịu hậu quả của việc không chứng minh theo quy định tại Điều 91 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Mặt khác, theo quy định tại khoản 2 Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 quy định: “Một bên đương sự thừa nhận hoặc không phản đối những tình tiết, sự kiện, tài liệu, văn bản, kết luận của cơ quan chuyên môn mà bên đương sự kia đưa ra thì bên đương sự đó không phải chứng minh”. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ yêu cầu khởi kiện, lời trình bày, các tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp và các tài liệu, chứng do Tòa án thu thập để làm chứng cứ giải quyết vụ án.
- Theo Giấy phép số 73/GP-NHNN ngày 12/11/2021 thì Công ty tài chính trách nhiệm hữu hạn một thành viên XYZ Việt Nam được thực hiện các hoạt động của công ty tài chính tín dụng tiêu dùng theo quy định của pháp luật và của Ngân hàng nhà nước Việt Nam.
- Xét Đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng số 3074019 ngày 18/4/2022 giữa Công ty tài chính trách nhiệm hữu hạn một thành viên XYZ Việt Nam và Bà Lê Thị Cẩm T được lập trên cơ sở sự tự nguyện của hai bên, mục đích của hợp đồng không vi phạm điều cấm của luật. Hình thức và nội dung hợp đồng phù hợp với quy định tại Điều 117, Điều 119 và Điều 463 của Bộ luật dân sự năm 2015 nên làm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa các bên và có giá trị ràng buộc giữa các bên để thực hiện hợp đồng, là cơ sở pháp lý để mỗi bên xác định quyền và nghĩa vụ của mình.
- Căn cứ vào Phiếu báo nợ ngày giao dịch 18/4/2022; Giấy chứng nhận bảo hiểm lập ngày 18/4/2022 do Công ty tài chính trách nhiệm hữu hạn một thành viên XYZ Việt Nam cung cấp có cơ sở xác định Bà Lê Thị Cẩm T đã được Công ty cấp hạn mức tín dụng với số tiền 40.000.000 (bốn mươi triệu) đồng và tiền bảo hiểm 2.640.000 (hai triệu sáu trăm bốn mươi nghìn) đồng. Số tiền trên đã được Công ty chuyển khoản trực tiếp vào tài khoản đứng tên Bà Lê Thị Cẩm T.
- Theo thỏa thuận tại hợp đồng tín dụng thì bà T có trách nhiệm trả góp hàng tháng trong thời hạn 36 tháng kể từ ngày 10/5/2022 đến ngày 10/4/2025. Căn cứ Báo cáo lịch sử thanh toán hợp đồng tín dụng; Báo cáo thu hồi nợ vay hợp đồng tín dụng thì trong quá trình thực hiện hợp đồng, Bà Lê Thị Cẩm T đã thanh toán cho Công ty được 14 kỳ với tổng số tiền là 30.668.205 (ba mươi triệu sáu trăm sáu mươi tám nghìn hai trăm lẻ năm) đồng. Bà Lê Thị Cẩm T đã ngưng việc thanh toán trả góp hàng tháng cho Công ty từ ngày 22/9/2023 cho đến nay. Tạm tính đến ngày 27/9/2024 Bà Lê Thị Cẩm T còn phải thanh toán cho Công ty số tiền là 53.209.255 (năm mươi ba triệu hai trăm lẻ chín nghìn hai trăm năm mươi lăm) đồng, trong đó: Số dư nợ gốc còn lại chưa thanh toán là 31.528.981 đồng, số tiền lãi trong hạn là 13.166.550 đồng, số tiền lãi quá hạn là 7.569.049 đồng, số tiền lãi chậm trả là 944.675 đồng.
- Xét yêu cầu của nguyên đơn về lãi suất: Hội đồng xét xử xét thấy:
- Tại Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 quy định: “1. Tổ chức tín dụng được quyền ấn định và phải niêm yết công khai mức lãi suất huy động vốn, mức phí cung ứng dịch vụ trong hoạt động kinh doanh của tổ chức tín dụng.
2. Tổ chức tín dụng và khách hàng có quyền thỏa thuận về lãi suất, phí cấp tín dụng trong hoạt động Công ty tài chính của tổ chức tín dụng theo quy định của pháp luật...".
- Tại khoản 4 Điều 13 Thông tư 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng nhà nước quy định: “4. Khi đến hạn thanh toán mà khách hàng không trả hoặc trả không đầy đủ nợ gốc và/hoặc lãi tiền vay theo thỏa thuận, thì khách hàng phải trả lãi tiền vay như sau:
- Lãi trên nợ gốc theo lãi suất cho vay đã thỏa thuận tương ứng với thời hạn vay mà đến hạn chưa trả;
- Trường hợp khách hàng không trả đúng hạn tiền lãi theo quy định tại điểm a khoản này, thì phải trả lãi chậm trả theo mức lãi suất do tổ chức tín dụng và khách hàng thỏa thuận nhưng không vượt quá 10%/năm tính trên số dư lãi chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả;
- Trường hợp khoản nợ vay bị chuyển nợ quá hạn, thì khách hàng phải trả lãi trên dư nợ gốc bị quá hạn tương ứng với thời gian chậm trả, lãi suất áp dụng không vượt quá 150% lãi suất cho vay trong hạn tại thời điểm chuyển nợ quá hạn.”
- Tại Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 quy định: “1. Tổ chức tín dụng được quyền ấn định và phải niêm yết công khai mức lãi suất huy động vốn, mức phí cung ứng dịch vụ trong hoạt động kinh doanh của tổ chức tín dụng.
- Tại Mục 8.3 Hợp đồng tín dụng của Công ty tài chính quy định về trách nhiệm thanh toán: “... khi đến hạn thanh toán mà khách hàng không trả hoặc trả không đầy đủ nợ gốc và/hoặc lãi theo thỏa thuận thì ngoài việc trả lãi trên nợ gốc theo lãi suất đã thỏa thuận thì khách hàng còn phải chịu tiền lãi trên dư nợ gốc bị quá hạn và tiền lãi chậm trả...”.
- Từ những căn cứ trên, Hội đồng xét xử xét thấy sự thỏa thuận về mức lãi suất vay của các bên là phù hợp với quy định của pháp luật. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận mức lãi suất mà các bên đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng mà không cần phải điều chỉnh.
- Việc bị đơn ngưng trả tiền vốn và lãi hàng tháng cho nguyên đơn là đã vi phạm điều khoản thanh toán của của hợp đồng tín dụng. Công ty tài chính trách nhiệm hữu hạn một thành viên XYZ Việt Nam khởi kiện yêu câu bị đơn trả số tiền gốc và lãi là có cơ sở theo quy định tại các Điều 91, Điều 95 và Điều 98 của Luật các tổ chức tín dụng năm 2010.
- Về nghĩa vụ chậm thi hành án: Theo Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán thì: Đối với trường hợp chậm thực hiện nghĩa vụ trong hợp đồng mà các bên có thỏa thuận về việc trả lãi thì quyết định kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận nhưng phải phù hợp với quy định của pháp luật; nếu không có thỏa thuận về mức lãi suất thì quyết định theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
- Từ những căn cứ đã viện dẫn, Hội đồng xét xử xét thấy có cơ sở chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty tài chính trách nhiệm hữu hạn một thành viên XYZ Việt Nam đối với bị đơn Bà Lê Thị Cẩm T. Buộc Bà Lê Thị Cẩm T có trách nhiệm thanh toán cho Công ty tài chính trách nhiệm hữu hạn một thành viên XYZ Việt Nam số tiền tạm tính đến ngày 27/9/2024 là 53.209.255 (năm mươi ba triệu hai trăm lẻ chín nghìn hai trăm năm mươi lăm) đồng, trong đó: số dư nợ gốc còn lại chưa thanh toán là 31.528.981 đồng, số tiền lãi trong hạn là 13.166.550 đồng, số tiền lãi quá hạn là 7.569.049 đồng, số tiền lãi chậm trả là 944.675 đồng; đồng thời bị đơn Bà Lê Thị Cẩm T còn có nghĩa vụ trả tiền lãi trên số tiền nợ gốc chưa thanh toán cho nguyên đơn theo mức lãi suất quy định tại Đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng số 3074019 ngày 18/4/2022 cho đến khi bị đơn trả nợ xong.
- Về án phí: Theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án thì bị đơn Bà Lê Thị Cẩm T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 2.660.463 (hai triệu sáu trăm sáu mươi nghìn bốn trăm sáu mươi ba) đồng; nguyên đơn Công ty tài chính trách nhiệm hữu hạn một thành viên XYZ Việt Nam được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp.
- Xét lời đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh là có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 91, khoản 2 Điều 92, khoản 1 Điều 147, Điều 227, Điều 228 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ các Điều 117, Điều 119, Điều 463, Điều 466 của Bộ luật dân sự năm 2015;
Căn cứ khoản 2 Điều 3, Điều 91, Điều 95 và Điều 98 của Luật các tổ chức tín dụng năm 2010;
Căn cứ Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm;
Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty tài chính trách nhiệm hữu hạn một thành viên XYZ Việt Nam về việc tranh chấp hợp đồng tín dụng với bị đơn Bà Lê Thị Cẩm T.
Buộc Bà Lê Thị Cẩm T có trách nhiệm thanh toán cho Công ty tài chính trách nhiệm hữu hạn một thành viên XYZ Việt Nam số tiền tạm tính đến ngày 27/9/2024 là 53.209.255 (năm mươi ba triệu hai trăm lẻ chín nghìn hai trăm năm mươi lăm) đồng, trong đó: Số dư nợ gốc còn lại chưa thanh toán là 31.528.981 đồng, số tiền lãi trong hạn là 13.166.550 đồng, số tiền lãi quá hạn là 7.569.049 đồng, số tiền lãi chậm trả là 944.675 đồng.
Kể từ ngày 28/9/2024, Bà Lê Thị Cẩm T còn phải tiếp tục trả khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận tại Đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng số 3074019 ngày 18/4/2022 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc nêu trên. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Công ty tài chính trách nhiệm hữu hạn một thành viên XYZ Việt Nam thì lãi suất mà Bà Lê Thị Cẩm T phải tiếp tục thanh toán cho Công ty tài chính trách nhiệm hữu hạn một thành viên XYZ Việt Nam theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Công ty tài chính trách nhiệm hữu hạn một thành viên XYZ Việt Nam.
- Về án phí dân sự sơ thẩm:
2.1. Bà Lê Thị Cẩm T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 2.660.463 (hai triệu sáu trăm sáu mươi nghìn bốn trăm sáu mươi ba) đồng.
2.2. Hoàn lại cho Công ty tài chính trách nhiệm hữu hạn một thành viên XYZ Việt Nam số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 1.016.893 (một triệu không trăm mười sáu nghìn tám trăm chín mươi ba) đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0004238 ngày 26 tháng 6 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày được giao bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết công khai theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án Dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Ngô Thị Thùy Dương |
2ΑΑΚΚΒΝ*ηδαχαγ+
Bản án số 795/2024/DS-ST ngày 27/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 795/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/09/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: CÔNG TY TÀI CHÍNH TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN MỘT THÀNH VIÊN XYZ (VIỆT NAM)-LÊ THỊ CẨM T
