|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HÀ ĐÔNG THÀNH PHỐ HÀ NỘI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 794/2024/HNGĐ - ST Ngày: 18 tháng 11 năm 2024 V/v: Tranh chấp Ly hôn |
NHÂN DANH |
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HÀ ĐÔNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thanh Thủy
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Lê Thị Huyền
2. Bà Nguyễn Thị Hạnh
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Kim Hoa là Thư ký Tòa án nhân dân quận Hà Đông, thành phố Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Kiều Trang – Kiểm sát viên.
Trong ngày 18 tháng 11 năm 2024 tại phòng xét xử trụ sở Tòa án nhân dân quận Hà Đông xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 466/2024/TLST- HNGĐ ngày 16 tháng 7 năm 2024 về việc: Tranh chấp ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 71/2024/QĐXX-ST ngày 21 tháng 10 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số : 65/2024/QĐHPT –ST ngày 05/11/2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị N, sinh năm 1977
HKTT và chỗ ở: Số D, Liền kề 12 Khu đô thị X, phường P, quận H, thành phố Hà Nội. Có mặt
-Bị đơn: Anh Nguyễn Văn C, sinh năm 1961
HKTT và chỗ ở: Số D, Liền kề 12 Khu đô thị X, phường P, quận H, thành phố Hà Nội. Vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
*Theo đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn chị Nguyễn Thị N trình bày: Chị và anh Nguyễn Văn C chung sống với nhau từ năm 2000 trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện và có đăng ký kết hôn vào ngày 17 tháng 8 năm 2000 tại Ủy ban nhân dân xã V, huyện Â, tỉnh Hưng Yên. Sau khi kết hôn vợ chồng về chung sống tại: Số A, ngách A đường L, phường K, quận T, thành phố Hà Nội, đến năm 2009 thì vợ chồng chuyển về ở tại địa chỉ: Số D, L Khu đô thị X, phường P, quận H, thành phố Hà Nội. Quá trình chung sống vợ chồng đã nhiều lần phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do anh C làm ăn bị thua lỗ, mất mát, dẫn đến bị áp lực về tinh thần thường xuyên bị ốm ảnh hưởng về thần kinh nên anh hay nghĩ ngợi, mất ngủ nói chuyện suốt đêm. Do sức khoẻ của anh C như vậy nên chị phải thường xuyên chăm sóc cho anh, vất vả là vậy nhưng chị cũng không muốn ly hôn vì nghĩ đến chồng, đến con. Việc chị hy sinh vì chồng như vậy, nhưng anh C không cảm thông mà còn có những lời nói ghen tuông chị với anh T hàng xóm, theo dõi chị vì cho rằng chị theo băng nhóm lừa đảo nên nhiều năm chị phải sống trong căng thẳng, mệt mỏi về tinh thần. Do không chịu đựng nổi anh C nên chị và anh C đã sống riêng không ngủ chung cùng nhau từ tháng 5 năm 2024 và đến tháng 10 năm 2024 thì đã chuyển hẳn ra ngoài sống và vợ chồng sống ly thân nhau từ đó cho đến nay. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt nên cương quyết xin ly hôn anh C.
-Về con chung: Chị N xác nhận chị và anh Nguyễn Văn C có 03 con chung là Nguyễn Thiên T1(nữ), sinh ngày 06/06/2001, Nguyễn Hà Ngọc N1 (nữ), sinh ngày 27/3/2005 và Nguyễn Đình B (nam), sinh ngày 31/12/2015. Hiện cháu T1 và cháu N1 đang trưởng thành nên chị không yêu cầu Tòa án giải quyết còn đối với cháu Nguyễn Đình B còn nhỏ nên ly hôn chị đề nghị Toà án giải quyết để chị là người trực tiếp nuôi dưỡng cháu và không yêu cầu cầu anh C cấp dưỡng nuôi cháu B.
-Về tài sản chung : ( động sản, bất động sản): Chị N xác nhận không yêu cầu Tòa án giải quyết.
-Về công nợ C1: Chị N xác nhận không yêu cầu tòa án giải quyết
Về án phí: Chị N đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.
Ngoài các yêu cầu trên chị N không còn yêu cầu nào khác.
*Tại bản tự khai và trong quá trình giải quyết vụ án anh Nguyễn Văn C trình bày:
Anh C xác nhận về thời gian kết hôn và địa chỉ chung sống của vợ chồng như chị N trình bầy là đúng. Còn về mâu thuẫn vợ chồng thì là do chị N có quan hệ với 1 nhóm người có những biểu hiện không bình thường nên anh đã căn ngăn chị N không quan hệ với nhóm người này nữa nhưng chị N dứt khoát không nghe và chị N đã đưa đơn ra tòa đòi ly hôn với anh. Hiện nay anh và chị N đã sống ly thân nhau từ tháng 4 năm 2024 cho đến nay. Nay chị N xin ly hôn anh thì quan điểm của anh là không đồng ý ly hôn với lý do là anh vẫn còn tình cảm với chị N và muốn con có cả bố và mẹ. Trường hợp chị N vẫn cương quyết ly hôn thì đề nghị Toà án giải quyết theo quy định của pháp luật.
-Về con chung: Anh C xác nhận anh và chị N có 03 con chung là Nguyễn Thiên T1 (nữ), sinh ngày 06/06/2001, Nguyễn Hà Ngọc N1 ( nữ), sinh ngày 27/3/2005 và Nguyễn Đình B (nam), sinh ngày 31/12/2015. Hiện cháu T1 và cháu N1 đang trưởng thành đủ 18 tuổi nên anh không yêu cầu Tòa án giải quyết, còn đối với cháu Nguyễn Đình B nếu trường hợp phải ly hôn thì anh đồng ý để chị N là người trực tiếp nuôi dưỡng cháu B và tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con chung cho anh.
-Về tài sản chung : ( động sản, bất động sản): Anh C xác nhận không yêu cầu Tòa án giải quyết.
-Về công nợ C1: Anh C xác nhận không yêu cầu Tòa án giải quyết
- Về án phí ly hôn : Anh C đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật
Tại phiên tòa:
Nguyên đơn chị Nguyễn Thị N vẫn giữ nguyên các yêu cầu nêu trên và không yêu cầu Tòa án giải quyết vấn đề gì khác.
Bị đơn anh Nguyễn Văn C đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Quyết định hoãn phiên tòa; Giấy triệu tập phiên tòa, nhưng vắng mặt.
Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến: Trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án ngày hôm nay Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã tiến hành tố tụng theo đúng các trình tự thủ tục mà bộ luật tố tụng dân sự quy định. Nguyên đơn đã chấp hành đúng các quy định của pháp luật. Bị đơn không chấp hành các quy định của pháp luật. Về thời hạn chuẩn bị xét xử vụ án theo đúng quy định của pháp luật.
Về nội dung vụ án: Sau khi phát biểu đánh giá các tình tiết của vụ án. Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông có ý kiến đề nghị Hội đồng xét xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị N đối với anh Nguyễn Văn C. Chị Nguyễn Thị N được ly hôn anh Nguyễn Văn C.
- Về con chung : Giao cho chị N là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung Nguyễn Đình B (nam), sinh ngày 31/12/2015 kể từ khi ly hôn đến khi con chung trưởng thành đủ 18 tuổi hoặc khi có sự thay đổi khác. Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con cho anh C. Còn đối với con Nguyễn Thiên T1 (nữ), sinh ngày 06/06/2001, Nguyễn Hà Ngọc N1 ( nữ), sinh ngày 27/3/2005 đã trưởng thành đủ 18 tuổi nên không xem xét giải quyết.
- Về tài sản chung ( động sản, bất động sản: Chị N, anh C xác nhận không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.
- Về nợ chung: Chị N, anh C xác nhận không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.
- Về án phí: Chị N phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1]. Về thủ tục tố tụng:
Tại phiên toà hôm nay Toà án đã tống đạt hợp lệ Quyết định hoãn phiên toà và Giấy triệu tập phiên toà của Tòa án cho bị đơn anh Nguyễn Văn C để thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình, nhưng anh C vắng mặt không có lý do, vì vậy Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành giải quyết và xét xử vụ án vắng mặt anh C.
Đây là vụ án Hôn nhân và gia đình về việc ly hôn, bị đơn là anh Nguyễn Văn C. Anh C hiện đang cư trú tại: Số D, L Khu đô thị X, phường P, quận H, thành phố Hà Nội. Nên căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 Tòa án nhân dân quận Hà Đông thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền.
[2].Về nội dung:
[2.1].Về quan hệ hôn nhân:
Chị Nguyễn Thị N và anh Nguyễn Văn C chung sống với nhau từ năm 2000 trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã V, huyện Â, tỉnh Hải Dương chứng nhận kết hôn ngày 17/8/2000. Hôn nhân của chị N và anh C là hôn nhân hợp pháp.
Xét yêu cầu xin ly hôn của chị N Hội đồng xét xử thấy: Theo quy định của Điều 19 của Luật hôn nhân và gia đình “ vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia xẻ, thực hiện các công việc gia đình, có nghĩa vụ chung sống với nhau...”. Căn cứ vào các lời khai của chị N, anh C và qua xác minh tại tổ dân phố nơi chị N, anh C chung sống thể hiện: Trong cuộc sống hôn nhân của chị N, anh C đã xẩy ra mâu thuẫn, vợ chồng không còn chung sống cùng nhau. Quá trình giải quyết vụ án anh C cũng xác nhận vợ chồng đã sống ly thân nhau từ tháng 4 năm 2024 cho đến nay, nhưng anh vẫn mong muốn chị N suy nghĩ lại rút đơn về vợ chồng đoàn tụ để các con có cả bố và mẹ. Trường hợp chị N vẫn cương quyết ly hôn thì đề nghị Toà án giải quyết theo quy định của pháp luật. Từ đó thấy rằng bản thân anh C cũng nhận thức được hôn nhân của anh C và chị N đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy yêu cầu xin ly hôn của chị N đối với anh C là có căn cứ nên chấp nhận phù hợp với Điều 19, Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình.
[2.2]. Về con chung:
Chị N và anh C đều xác nhận vợ chồng có có 03 con chung là Nguyễn Thiên T1 (nữ), sinh ngày 06/06/2001, Nguyễn Hà Ngọc N1 ( nữ), sinh ngày 27/3/2005 và Nguyễn Đình B (nam), sinh ngày 31/12/2015. Hiện cháu T1 và cháu N1 đã trưởng thành đủ 18 tuổi chị N, anh C không yêu cầu Tòa án giải quyết nên HĐXX không xem xét giải quyết. Quá trình giải quyết vụ án chị N, anh C đã thống nhất thoả thuận: Để chị N là người trực tiếp nuôi dưỡng con chung Nguyễn Đình B và tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con cho anh C nên cần ghi nhận sự thống nhất thoả thuận của chị N, anh C như sau: Giao cho chị N là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung Nguyễn Đình B kể từ khi ly hôn đến khi con chung trưởng thành đủ 18 tuổi hoặc khi có sự thay đổi khác.Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con cho anh C.
[2.3]. Về tài sản chung (động sản và bất động sản):
Chị N, anh C xác nhận không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.
[2.4]. Về nợ chung:
Chị N, anh C xác nhận không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.
[3]. Về án phí:
Chị N phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
[4]. Về quyền kháng cáo:
Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Từ nhận định trên!
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào Điều 19, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình, Luật số 52/2014/QH13 ngày 19/6/2014.
Căn cứ vào Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 146; Điều 147; khoản 2 Điều 227; các Điều 271; 273; 278; 280 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử:
1.Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị N đối với anh Nguyễn Văn C.
Chị Nguyễn Thị N được ly hôn anh Nguyễn Văn C.
2.Về con chung:
Xác nhận chị Nguyễn Thị N và anh Nguyễn Văn C có 03 con chung là Nguyễn Thiên T1 (nữ), sinh ngày 06/06/2001, Nguyễn Hà Ngọc N1 ( nữ), sinh ngày 27/3/2005 và Nguyễn Đình B (nam), sinh ngày 31/12/2015. Hiện cháu T1 và cháu N1 đã trưởng thành đủ 18 tuổi nên không xem xét giải quyết . Ghi nhận sự thống nhất thỏa thuận của chị N, anh C về người trực tiếp nuôi cháu Nguyễn Đình B sau ly hôn như sau: Giao cho chị N là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung Nguyễn Đình B kể từ khi ly hôn đến khi con chung trưởng thành đủ 18 tuổi hoặc khi có sự thay đổi khác. Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con cho anh C.
Anh Nguyễn Văn C có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
3. Về tài sản chung (gồm động sản và bất động sản):
Chị N, anh C xác nhận không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
4. Về công nợ:
Chị N, anh C xác nhận không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
5. Về án phí:
Chị N phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm. Chị N đã nộp 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm tại biên lai thu tiền tạm ứng án phí lệ phí Tòa án số 0044003 ngày 15/7/2024 của Chi cục thi hành án dân sự quận Hà Đông.
Án xử công khai sơ thẩm, có mặt chị N, vắng mặt anh C. Chị N được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh C được quyền kháng cáo kể từ khi nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
| Thành viên Hội đồng xét xử | Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa |
|
Nguyễn Thị Hạnh Lê Thị Huyền |
Nguyễn Thanh Thủy |
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Nguyễn Thanh Thủy |
Bản án số 794/2024/HNGĐ - ST ngày 18/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HÀ ĐÔNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 794/2024/HNGĐ - ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/11/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HÀ ĐÔNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị N xin ly hôn Nguyễn Văn C
