|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Bản án số: 794/2024/DS-PT Ngày: 11 - 9 - 2024 V/v Tranh chấp hợp đồng mua bán căn hộ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: | Bà Phan Thị Út |
| Các Thẩm phán: | Bà Doãn Thị Kim Thúy |
| Ông Nguyễn Tiến Dũng |
Thư ký phiên tòa: Bà Lâm Hỷ Ngọc - Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh: Ông Nguyễn Trí Dũng - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Trong các ngày 29 tháng 8 và ngày 11 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, số A N, phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh đã xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 571/2024/TLPT-DS ngày 22/7/2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng mua bán căn hộ”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 312/2024/DS-ST ngày 31/5/2024 của Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 4831/2024/QĐPT-DS ngày 26/8/2024 và Quyết định tạm ngừng phiên tòa phúc thẩm số 13193/2024/QĐ-PT ngày 29/8/2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Công ty cổ phần đầu tư Việt Tâm
Trụ sở tại: 9A, Chung cư C, xã B, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Thanh L, sinh năm 1983; Địa chỉ: 1 Lầu A phía sau T, Phường A, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo ủy quyền:
- 1/ Bà Nguyễn Thị Thùy L1, sinh năm 1987 (có mặt);
- 2/ Ông Lê Hồng D (vắng mặt).
Cùng địa chỉ liên hệ: A N, Phường V, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh (Theo Giấy ủy quyền ngày 26/8/2024 của Công ty cổ phần Đ).
Bị đơn: Bà Trần Thị Kim H, sinh năm: 1967; Cư trú tại: Ấp D, xã H, huyện C, tỉnh Long An.
Người đại diện theo uỷ quyền:
- Bà Phạm Bùi Diễm S, sinh năm 1995 (có mặt);
- Ông Nguyễn Sơn L2, sinh năm 1981 (vắng mặt);
- Bà Phan Quỳnh N, sinh năm 1955 (vắng mặt);
- Ông Nguyễn Sơn D1, sinh năm 1996 (vắng mặt).
Cùng địa chỉ liên hệ: 91 T, thị trấn T, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh (Theo Giấy uỷ quyền số công chứng 4730 ngày 25/03/2024 tại Văn phòng C, Thành phố Hồ Chí Minh).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Công ty Trách nhiệm hữu hạn Đ1
Trụ sở tại: B N, Phường V, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện hợp pháp: Ông Đỗ Bá P, sinh năm 1987; bà Lâm Ngọc P1, sinh năm 1961; Liên hệ tại: B N, Phường V, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Hoàng Văn T, sinh năm 1982; Liên hệ tại: B N, Phường F, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh (Theo Giấy uỷ quyền số 156/UQ-TL/2024 ngày 15/5/2024 của Công ty Trách nhiệm hữu hạn Đ1)(xin vắng mặt)
Người kháng cáo: Nguyên đơn là Công ty cổ phần Đ.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nguyên đơn Công ty cổ phần Đ và đại diện theo ủy quyền là bà Nguyễn Thị Thùy L1 trình bày:
Công ty cổ phần Đ (sau đây gọi tắt là Công ty Đ) là đơn vị trúng đấu giá tài sản phát mãi để thu hồi nợ cho vay của Ngân hàng N1 (sau đây gọi tắt là Ngân hàng A) đối với Công ty Trách nhiệm hữu hạn Đ1 (sau đây gọi tắt là Công ty Đ1), cụ thể: Một phần tài sản được bán đấu giá bao gồm công trình nhà chung cư chậm tiến độ thi công trong thời gian kéo dài là Chung cư C.TS (Cao ốc T2), đường số I, xã B, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh (Dự án Chung cư L, 4 Cụm A thuộc tổng thể Dự án Khu dân cư Trung Sơn 6,57 ha - Khu C Đô thị N, xã B, huyện B do Công ty Đ1 là Chủ đầu tư trước đây gọi tắt là “Dự án” bao gồm 14 tầng và 169 căn hộ. Công ty Đ đã hoàn thành thủ tục mua tài sản bán đấu giá nêu trên và được Ủy ban nhân dân Thành phố H chấp thuận cho nhận chuyển nhượng Dự án theo Quyết định số 6296/QĐ-UBND ngày 30/11/2015. Theo đó, Công ty Đ tiếp tục thực hiện thi công xây dựng hoàn thiện Dự án để bàn giao căn hộ cho khách hàng đã mua căn hộ thuộc Dự án từ Công ty Đ1. Bà Trần Thị Kim H là bên mua 02 căn hộ mã số B3-1101 và căn hộ M Chung cư C.TS theo Hợp đồng mua bán căn hộ cao ốc T2 (Block C, 4) ngày 13/9/2011 với bên bán là Công ty Đ1 với giá 3.772.560.000 đồng. Theo đó, tổng số tiền mà bà H đã thanh toán cho Công ty Đ1 là 3.429.600.000 đồng.
Sau khi nhận chuyển nhượng và tiếp tục triển khai thực hiện Dự án từ Công ty Đ1, Công ty Đ đã nhiều lần gửi thư mời bà H lên làm việc để ký chuyển tiếp Hợp đồng mua bán căn hộ từ Công ty Đ1 sang Công ty Đ theo quy định để các bên có cơ sở thực hiện các quyền và nghĩa vụ còn lại theo hợp đồng mua bán căn hộ giữa bà H và Công ty Đ1, tuy nhiên Công ty Đ không nhận được sự hợp tác cũng như ý kiến phản hồi của bà H. Đến ngày 18/6/2019, một lần nữa Công ty Đ tiếp tục gửi Thư mời bà H làm việc để thực hiện chuyển tiếp Hợp đồng mua bán, thực hiện nghĩa vụ thanh toán giá trị hợp đồng mua bán căn hộ, các chi phí phát sinh liên quan (nếu có) và nhận bàn giao căn hộ, đồng thời theo đó nếu đến ngày 09/7/2019 nếu bà H vẫn không liên hệ Công ty Đ để hoàn tất các công việc trên thì xem như bà H đã từ chối nhận bàn giao Căn hộ và từ bỏ quyền của bên mua theo Hợp đồng mua bán. Đến nay, bà H vẫn không liên hệ, không có ý kiến phản hồi đến Công ty Đ. Dự án Chung cư C. TS đã nghiệm thu đưa công trình vào sử dụng theo Thông báo số 93/GĐ-GDD1 của Cục G về chất lượng công trình xây dựng về kết quả kiểm tra công tác nghiệm thu hoàn thành công trình xây dựng. Ban quản trị nhà chung cư đã được thành lập theo quy định. Việc không thực hiện chuyển tiếp hợp đồng mua bán căn hộ, thực hiện nghĩa vụ thanh toán và nhận bàn giao căn hộ của bà H không chỉ gây thiệt hại cho Công ty Đ mà còn ảnh hưởng đến quyền lợi hợp pháp của những khách hàng đã nhận bàn giao căn hộ đưa vào sử dụng.
Do đó, Công ty Đ khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết:
- Tuyên chấm dứt hiệu lực Hợp đồng mua bán căn hộ cao ốc Thảo Loan P (Block 3, 4) ngày 13/9/2011 giữa Công ty Trách nhiệm hữu hạn Đ1 và bà Trần Thị Kim H.
- Buộc bà Trần Thị Kim H phải bồi thường thiệt hại cho Công ty cổ phần Đ số tiền lãi trên số tiền bà H chưa thanh toán theo Hợp đồng mua bán căn hộ tính đến ngày vụ án được đưa ra xét xử, tạm tính từ ngày 29/5/2018 đến ngày 29/05/2020, cụ thể: 342.960.000 đồng x 1,5%/tháng x 24 tháng = 123.465.600 đồng.
- Buộc bà H thanh toán phí quản lý vận hành chung cư đối với 02 căn hộ mã số B3- 1101 và căn hộ M Tầng A Chung cư C. TS tạm tính từ tháng 6/2018 đến tháng 05/2020 là 27.084.540 đồng.
- Công ty Đ sẽ hoàn lại số tiền 3.429.600.000 đồng mà bà H đã thanh toán cho Công ty Đ1 sau khi trừ đi khoản tiền bồi thường thiệt hại, chi phí quản lý vận hành, các chi phí phát sinh liên quan và sau khi Công ty Đ bán được căn hộ cho bên thứ ba.
- Công ty Đ được toàn quyền sở hữu, sử dụng căn hộ mã số B3-1101 và căn hộ M S Chung cư C ngay sau khi bản án có hiệu lực.
Bị đơn bà Trần Thị Kim H có người đại diện theo ủy quyền là bà Phạm Bùi Diễm S, bà Phan Quỳnh N, ông Nguyễn Sơn L2, ông Nguyễn Sơn D1 trình bày:
Vào ngày 13/9/2011, bà Trần Thị Kim H ký Hợp đồng mua bán căn hộ chung cư C số .../2011/HĐMB-TL với Công ty Đ1 gồm 02 căn hộ số: B3-1101, B (sàn 11) với tổng diện tích 02 căn hộ là 171,48m² tại Chung cư Đ, xã B, huyện B với tổng giá trị 02 căn hộ là 3.772.560.000 đồng bao gồm VAT, đơn giá 22.000.000 đồng/m². Bà Trần Thị Kim H đã thanh toán cho Công ty Đ1 tổng số tiền là 3.429.600.000 đồng theo Phiếu thu tiền ngày 13/9/2011. Số tiền còn lại là 342.960.000 đồng sẽ được bà H thanh toán ngay khi Công ty Đ1 xuất hóa đơn giá trị gia tăng (VAT) và bàn giao 02 căn hộ cho bà H sử dụng. Thời hạn bàn giao căn hộ theo Hợp đồng là Quý 2/2012. Theo quy định tại Điều 39 Luật Nhà ở 2005; Điều 9 Nghị định 71/2010/NĐ-CP; Điều 18 Mục 3 Thông tư 16/2010/TT-BXD thì Hợp đồng mua bán căn hộ ký giữa bà H với Công ty Đ1 là hình thức mua bán nhà ở hình thành trong tương lai đáp ứng đầy đủ điều kiện có hiệu lực của hợp đồng theo quy định pháp luật, ràng buộc trách nhiệm pháp lý giữa các bên. Do đó, các bên phải thực hiện đúng các nội dung đã được thỏa thuận ghi nhận trong Hợp đồng. Tuy nhiên, Công ty Đ1 không có khả năng thanh toán nợ nên tài sản thế chấp là Khu C Plaza bị đem ra đấu giá và đơn vị trúng đấu giá là Công ty Đ. Căn cứ theo Quyết định số 6296/QĐUB của Ủy ban nhân dân Thành phố H ngày 30/11/2015 về việc chấp thuận cho chuyển nhượng một phần dự án Chung cư L, Lô D cụm I thuộc tổng thể Dự án Khu dân cư Trung Sơn 6,57ha – Khu C Đô thị N, xã B, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh thì Công ty Đ phải có trách nhiệm kế thừa và thực hiện quyền, nghĩa vụ của Công ty Đ1, thực hiện đúng các nghĩa vụ trong hợp đồng mà Công ty Đ1 đã ký kết với bà H. Công ty Đ đã xây dựng hoàn thiện các căn hộ. Ngày 29/5/2018, Cục giám định nhà nước về Chất lượng công trình xây dựng ra Thông báo số 93/GĐ-GĐ1 xác định công trình đã hoàn thành và đủ điều kiện để đưa vào sử dụng nhưng phía Công ty Đ không bàn giao căn hộ cho bà H là vi phạm nghĩa vụ đã thỏa thuận.
Căn cứ theo thỏa thuận tại khoản 1, Điều 4 Hợp đồng mua bán căn hộ có quy định:
“l) Nếu Bên bán không giao nhà cho bên Mua sau 12 (mười hai) tháng kể từ ngày đến hạn giao nhà mà không do lỗi của Bên Mua, thì Bên Bán phải: (i) thanh toán lãi phát sinh trên số tiền mà Bên Bán đã nhận theo mức lãi suất bằng 150% (một trăm năm mươi phần trăm) của mức lãi suất cho vay ngắn hạn do Ngân hàng N2 (V) Thành phố Hồ Chí Minh công bố tại thời điểm Bên Bán chậm bàn giao căn hộ”.
Bà H chấp nhận thời điểm chậm bàn giao nhà có lợi cho Công ty Đ là từ tháng 6 năm 2018. Trung bình lãi suất cho vay ngắn hạn do Ngân hàng V công bố vào thời điểm tháng 6 năm 2018 là 9%/năm, các bên thỏa thuận 150% lãi suất = 9 x 150% = 13.5%/năm; tương đương 1.125%/tháng. Cho đến thời điểm hiện tại, Công ty Đ đã vi phạm hợp đồng, chậm bàn giao nhà. Căn cứ theo thỏa thuận trên thì Công ty Đ phải có trách nhiệm thanh toán tiền lãi phát sinh trên số tiền 3.429.600.000 đồng mà bà H đã thanh toán tính từ thời điểm tháng 6/2018 với mức lãi suất 1.125%/tháng là phù hợp với thỏa thuận giữa các bên, phù hợp với quy định của pháp luật. Căn cứ khoản 7 Điều 3 Thông tư 26/2015/TT-BTC hướng dẫn quy định về hóa đơn bán hàng hóa có quy định “Người bán phải lập hóa đơn khi bán hàng hóa....”, căn cứ Quyết định số 6296/QĐUB ngày 30/11/2015 của Ủy ban nhân dân thành phố H và Căn cứ Thông báo số 3348/CCT-THNVDT-TTHT ngày 29/4/2016 của Chi cục Thuế huyện B thì Công ty Đ là bên trúng đấu giá, có đầy đủ hồ sơ và biết rõ tình trạng pháp lý cũng như nghĩa vụ của Công ty Đ1 nhưng vẫn cố tình không thực hiện lập hóa đơn, nộp thuế cho cơ quan nhà nước là vi phạm quy định của pháp luật, làm ảnh hưởng đến nguồn thu ngân sách nhà nước, cũng như làm ảnh hưởng đến quyền lợi chính đáng của khách hàng.
Do đó, bà H không đồng ý với toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và yêu cầu Tòa án:
- Buộc Công ty Đ tiếp tục thực hiện Hợp đồng mua bán căn hộ chung cư C số .../2011/HĐMB-TL ký giữa bà Trần Thị Kim H và Công ty Đ1 ngày 13/9/2011 và bàn giao cho bà H 02 căn hộ số B3-1101, B3-1102 (S) thuộc Chung cư L, Lô D cụm I thuộc tổng thể Dự án Khu dân cư Trung Sơn 6,57ha – Khu C Đô thị N, xã B, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Buộc Công ty Đ phải liên hệ với Chi cục thuế có thẩm quyền để phát hành hóa đơn giá trị gia tăng đối với hai căn hộ trên theo quy định pháp luật.
- Buộc Công ty Đ phải bồi thường cho bà Trần Thị Kim H tiền lãi trên số tiền đã thanh toán 3.429.600.000 đồng từ thời điểm chậm bàn giao căn hộ từ tháng 6 năm 2018 đến khi bà H nhận được 02 căn hộ. Tạm tính tiền lãi từ tháng 06 năm 2018 đến tháng 03 năm 2024 (70 tháng) là 3.429.600.000 đồng x 1.125%/tháng x 70 tháng = 2.700.810.000 đồng.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Công ty Trách nhiệm hữu hạn Đ1 có người đại diện theo ủy quyền là ông Hoàng Văn T trình bày: Công ty Đ1 là chủ đầu tư thực hiện dự án căn hộ C, theo đó, ngày 13/09/2011 Công ty Đ1 có ký Hợp đồng mua bán hai (02) căn hộ mã B3 1101, B3 -1102 (sàn – tầng 11) với bà Trần Thị Kim H (sau đây viết tắt là Hợp đồng B3 1101 và B3 1102). Theo đó, bà H ký hợp đồng để mua hai căn hộ (02) căn hộ mã B3 1101, B3 -1102 (sàn – tầng 11) dự án Thảo Loan P (sau này đổi tên gọi là Chung cư C), đường I, xã B, huyện B. Tổng giá trị hai căn hộ là: 3.772.650.000 đồng. Cùng này 13/09/2011, bà H đã thanh toán cho Công ty Đ1 3.429.600.000 đồng.
Vào thời điểm cuối năm 2011 và năm 2012 do tình hình khủng hoảng kinh tế thế giới trầm trọng, Việt Nam cũng bị ảnh hưởng rất lớn, các doanh nghiệp trong nước cũng rất khó khăn, lãi suất ngân hàng tăng đột biến đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến việc hoạt động đầu tư xây dựng dự án trong lĩnh vực bất động sản nói chung và các dự án của Công ty Đ1 nói riêng. Trước bối cảnh đó các ngân hàng tăng lãi suất và siết chặt thu hồi nợ, Công ty Đ1 rơi vào tình trạng rất khó khăn về tài chính chưa thể tiếp tục triển khai và hoàn thiện ngay dự án. Cũng trong năm 2012, Công ty Đ1 thay đổi thành viên góp vốn và thay đổi người đại diện pháp luật, việc thay đổi đó dẫn đến Công ty Đ1 càng rơi vào tình trạng khó khăn trầm trọng hơn, dự án T Plaza do Ngân hàng N1 - Chi nhánh S1 tài trợ vốn, Công ty Đ1 không trả được các khoản nợ nên Ngân hàng A yêu cầu phát mãi tài sản để xử lý nợ, thu hồi vốn. Trước tình hình vô cùng khó khăn, Công ty Đ1 không đủ khả năng thanh toán các khoản nợ cho Ngân hàng A. Vì buộc phải thu hồi vốn, Ngân hàng A đã bán khoản nợ có tài sản bảo đảm trong đó có dự án Thảo Loan P của Công ty Đ1 cho Công ty Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên Q của các tổ chức tín dụng (sau đây gọi tắt là “VAMC”). Ngày 15/07/2015, tại Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản Thành phố H, VAMC (bên bán đấu giá) và các bên liên quan đã bán đấu giá thành công các tài sản thế chấp của Công ty Đ1 trong đó tài sản đấu giá gồm 07 thửa đất và 02 Block chung cư tại xã B, huyện B và 13 tài sản riêng lẽ khác (trong đó có Dự án căn hộ T). Công ty Đ trúng đấu giá, sau đó Công ty Đ ký kết các hợp đồng mua bán đấu giá tài sản với bên bán (các hợp đồng này có công chứng). Công ty Đ nhận tài sản và có nghĩa vụ tiếp tục hoàn thiện dự án Thảo Loan P để bàn giao nhà cho các hộ dân đã mua theo các hợp đồng mua bán mà Công ty Đ1 đã ký với các cá nhân khác, trong có bà H.
Ngày 30/11/2015, tại Quyết định số 6296/QĐ-UBND của Ủy ban nhân dân Thành phố H về việc chấp thuận cho chuyển nhượng một phần dự án Chung cư L, Lô D cụm I thuộc tổng thể dự án Khu dân cư T 6.57ha – Khu chức năng 6A Đô thị Nam Thành phố, xã B, huyện B (trong đó có dự án Thảo Loan P). Theo đó, Công ty Đ là bên nhận chuyển nhượng có trách nhiệm kế thừa và thực hiện quyền và nghĩa vụ của bên chuyển nhượng (Công ty Đ1). Tiếp tục triển khai, đầu tư xây dựng theo đúng thiết kế đã được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt. Xây dựng hoàn chỉnh hạ tầng kỹ thuật công trình theo đúng quy hoạch, thiết kế được phê duyệt để bàn giao cho khách hàng mà bên chuyển nhượng đã ký kết. Như vậy, quyền và nghĩa vụ của Công ty Đ1 đối với những khách hàng mà Công ty Đ1 ký kết Hợp đồng mua bán căn hộ (trong đó có bà H) đã chính thức chuyển giao sang cho Công ty Đ từ thời điểm Công ty Đ trúng đấu giá, Công chứng hợp đồng mua bán tài sản đấu giá, được sự phê duyệt, chấp thuận của Ủy ban nhân dân Thành phố H. Công ty Đ1 không còn nghĩa vụ thực hiện Hợp đồng B3-1101 và B3-1102 đối với bà H mà nghĩa vụ đó đã được chuyển giao sang cho Công ty Đ. Từ năm 2016 Công ty Đ1 có sự tranh chấp giữa các thành viên góp vốn, đến tháng 11/2016, Công ty Đ1 lại thay đổi thành viên góp vốn và người đại diện theo pháp luật. Công ty rơi vào tình trạng vô cùng khó khăn về tài chính, khoản nợ lãi từ ngân hàng và các nghĩa vụ tài chính khác đang rất nặng nề; các thành viên góp vốn mới của công ty đang cố gắng để tiếp tục duy trì hoạt động và xử lý các tồn đọng trước đó. Tuy nhiên tình hình không có gì khả thi, đến nay Công ty Đ1 gần như không còn hoạt động kinh doanh.
Đối với các yêu cầu khởi kiện của Công ty Đ, Công ty Đ1 cho rằng đó là những yêu cầu không có căn cứ pháp lý và thực tế. Công ty Đ là bên nhận chuyển nhượng dự án có trách nhiệm kế thừa và thực hiện quyền và nghĩa vụ của bên chuyển nhượng. Tiếp tục triển khai, đầu tư xây dựng theo đúng thiết kế được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt, xây dựng hoàn chỉnh hạ tầng kỹ thuật công trình theo đúng quy hoạch, thiết kế được phê duyệt để bàn giao cho khách hàng mà bên chuyển nhượng đã ký kết. Công ty Đ không có căn cứ để yêu cầu chấm dứt hiệu lực của Hợp đồng mua bán căn hộ, các bên phải tiếp tục thực hiện hợp đồng. Công ty Đ không thể hoàn trả lại tiền cho bà H và cũng không thể có quyền sở hữu, sử dụng 02 căn hộ nêu trên. Hợp đồng mua bán căn hộ cần phải được các bên tiếp tục thực hiện. Công ty Đ yêu cầu bà H phải bồi thường thiệt hại là không có cơ sở. Khi yêu cầu bồi thường, Công ty Đ phải chứng minh được bà H đã có hành vi vi phạm Hợp đồng. Tuy nhiên, những chứng cứ mà Công ty Đ cung cấp, Công ty Đ1 chưa thấy bà H có hành vi vi phạm nào liên quan đến Hợp đồng mua bán căn hộ.
Do vậy, yêu cầu của Công ty Đ không thể chấp nhận. Công ty Đ không bàn giao căn hộ cho bà H mà lại yêu cầu bà H thanh toán phí quản lý vận hành tòa nhà đối với hai căn hộ mã B3 1101 và B3 1102 (sàn 11) chung cư Citizen TS thì quả là rất vô lý. Bà H không được sử dụng căn hộ, không được hưởng các tiện tích của tòa nhà, không sử dụng các dịch vụ công cộng liên quan đến tòa nhà thì không thể yêu cầu bà H phải thanh toán tiền cho các danh mục đó.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 312/2024/DS-ST ngày 31/5/2024 của Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh tuyên xử:
- Đình chỉ xét xử toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty cổ phần Đ về việc yêu cầu:
- Tuyên chấm dứt hiệu lực Hợp đồng mua bán căn hộ cao ốc Thảo Loan P (Block 3, 4) ngày 13/9/2011 giữa Công ty TNHH Đ1 và bà Trần Thị Kim H.
- Buộc bà Trần Thị Kim H phải bồi thường thiệt hại cho Công ty Cổ phần Đ số tiền lãi trên số tiền bà H chưa thanh toán theo Hợp đồng mua bán căn hộ tính đến ngày vụ án được đưa ra xét xử, tạm tính từ ngày 29/5/2018 đến ngày 29/05/2020, cụ thể: 342.960.000 đồng x 1,5%/tháng x 24 tháng = 123.465.600 đồng (Một trăm hai mươi ba triệu bốn trăm sáu mươi lăm nghìn sáu trăm đồng).
- Buộc bà H thanh toán phí quản lý vận hành chung cư đối với 02 căn hộ mã số B3- 1101 và căn hộ M Tầng A Chung cư C. TS tạm tính từ tháng 6/2018 đến tháng 05/2020 là 27.084.540 đồng (Hai mươi bảy triệu không trăm tám mươi tư nghìn năm trăm bốn mươi đồng).
- Công ty cổ phần Đ sẽ hoàn lại số tiền 3.429.600.000 đồng (Ba tỷ bốn trăm hai mươi chín triệu sáu trăm nghìn đồng) mà bà H đã thanh toán cho Công ty TNHH Đ1 sau khi trừ đi khoản tiền bồi thường thiệt hại, chi phí quản lý vận hành, các chi phí phát sinh liên quan và sau khi Công ty cổ phần Đ bán được căn hộ cho bên thứ ba.
- Công ty cổ phần Đ được toàn quyền sở hữu, sử dụng căn hộ mã số B3-1101 và căn hộ M Tầng A Chung cư C ngay sau khi bản án có hiệu lực.
- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu phản tố của bị đơn bà Trần Thị Kim H.
- Buộc Công ty cổ phần Đ tiếp tục thực hiện Hợp đồng mua bán căn hộ chung cư C số .../2011/HĐMB-TL ký ngày 13/9/2011 giữa bà Trần Thị Kim H và Công ty TNHH Đ1;
- Buộc Công ty Cổ phần Đ có trách nhiệm bàn giao cho bà Trần Thị Kim H 02 căn hộ có mã số B3-1101, B3-1102 (sàn 11) thuộc Dự án Chung cư L, Lô D cụm I thuộc tổng thể Dự án Khu dân cư Trung Sơn 6,57ha – Khu C Đô thị N, xã B, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh (Căn cứ Bản vẽ hiện trạng nhà do Trung tâm đo đạc Bản đồ Thành phố H lập ngày 08/11/2021 (Số hợp đồng: 130058/TTĐĐBĐ-VPTT).
- Buộc Công ty cổ phần Đ có trách nhiệm thanh toán tiền lãi phát sinh do chậm bàn giao căn hộ cho bà Trần Thị Kim H với số tiền là 2.777.976.000 đồng (Hai tỷ bảy trăm bảy mươi bảy triệu chín trăm bảy mươi sáu nghìn đồng).
- Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ: Công ty Cổ phần Đ có trách nhiệm hoàn trả lại cho bà Trần Thị Kim H số tiền 6.437.904 đồng (Sáu triệu bốn trăm ba mươi bảy nghìn chín trăm lẻ bốn đồng).
Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo của các đương sự.
Ngày 15/6/2024, nguyên đơn có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm, đề nghị Toà án cấp phúc thẩm sửa án sơ thẩm theo hướng bác toàn bộ yêu cầu phản tố của bị đơn.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Nguyên đơn Công ty cổ phần Đ có người đại diện theo uỷ quyền là bà Nguyễn Thị Thùy L1 trình bày: Đề nghị Hội đồng xét xử hủy hoặc sửa toàn bộ bản án sơ thẩm, bác toàn bộ yêu cầu phản tố của bị đơn. Đề nghị giải quyết theo đúng quy định pháp luật.
Bị đơn bà Trần Thị Kim H có người đại diện theo uỷ quyền là bà Phạm Bùi Diễm S trình bày: Bị đơn bà H không kháng cáo bản án sơ thẩm, đề nghị Toà án cấp phúc thẩm giữ nguyên bản án sơ thẩm.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm:
Về tố tụng: Thẩm phán và Hội đồng xét xử thực hiện đúng quy định của pháp luật tố tụng. Các đương sự thực hiện quyền, nghĩa vụ theo đúng quy định pháp luật. Đơn kháng cáo của đương sự nằm trong hạn luật định nên hợp lệ.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn. Căn cứ vào khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 312/2024/DS-ST ngày 31/5/2024 của Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định.
[1]. Về tố tụng:
Kháng cáo của nguyên đơn Công ty Cổ phần Đ trong hạn luật định phù hợp khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự nên được chấp nhận.
Xét sự có mặt của các đương sự: Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Công ty Trách nhiệm hữu hạn Đ1 có người đại diện theo uỷ quyền là ông Hoàng Văn T có đơn xin vắng mặt nên căn cứ vào Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt Công ty Trách nhiệm hữu hạn Đ1.
[2]. Về nội dung:
- Tại phiên tòa phúc thẩm nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo:
Hội đồng xét xử xét thấy:
Ngày 13/9/2011, bà Trần Thị Kim H ký Hợp đồng mua bán căn hộ chung cư C số .../2011/HĐMB-TL với Công ty Đ1 gồm 02 căn hộ số: B3-1101, B (sàn 11) với tổng diện tích 02 căn hộ là 171,48m² tại Chung cư Đ, xã B, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh với tổng giá trị 02 căn hộ là 3.772.560.000 đồng. Bà Trần Thị Kim H đã thanh toán cho Công ty Đ1 tổng số tiền là 3.429.600.000 đồng Số tiền còn lại là 342.960.000 đồng sẽ được bà H thanh toán ngay khi Công ty Đ1 xuất hóa đơn giá trị gia tăng (VAT) và bàn giao 02 căn hộ cho bà H sử dụng. Thời hạn bàn giao căn hộ theo Hợp đồng là Quý 2/2012.
Do Công ty Đ1 kinh doanh không hiệu quả nên tài sản thuế chấp là chung cư C Plaza được bán đấu giá và đơn vị trúng đấu giá là Công ty Cổ phần Đ.
Theo Quyết định số 6296/QĐ-UBND ngày 30/11/2015 của Ủy ban nhân dân Thành phố H chấp nhận cho chuyển nhượng một phần dự án Chung cư L, lô 4 cụm 1 thuộc tổng thể dự án Khu dân cư T 6,57ha - Khu chức năng 6A Đô thị Nam Thành phố, xã B cho Công ty Đ. Công ty Đ phải có trách nhiệm kế thừa các quyền và nghĩa vụ của Công ty Đ1 và hoàn thiện căn hộ giao cho các khách hàng theo đúng hợp đồng đã ký kết. Sau khi Công ty Đ nhận tài sản bán đấu giá và tiếp tục xây dựng dự án, cho đến thời điểm hiện nay giữa Công ty Đ và bà H chưa ký bất kỳ phụ lục, thông báo nào thay đổi các điều kiện thỏa thuận trong hợp đồng mua bán căn hộ chung cư C Plaza số .../2011/HĐMB-TL ngày 13/9/2011. Điều này cho thấy Công ty Đ mặc nhiên thừa nhận các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng mua bán căn hộ đã được ký kết giữa Công ty Đ1 và bà H. Công ty Đ là bên kế thừa các quyền và nghĩa vụ của Công ty Đ1 và đã cam kết sẽ thực hiện tất cả các nghĩa vụ của Công ty Đ1 để lại.
Theo hợp đồng mua bán căn hộ Thời hạn bàn giao căn hộ theo Hợp đồng là Quý 2/2012 nhưng đến năm 2018 theo Thông báo số 93/GĐ-GĐ ngày 29/5/2018 của Cục G về chất lượng công trình xây dựng thì dự án trên đã đủ điều kiện đưa vào sử dụng và đủ điều kiện bàn giao cho khách hàng từ ngày 29/5/2018 nhưng Công ty Đ không thực hiện nghĩa vụ bàn giao 02 căn hộ theo hợp đồng mà Công ty Đ1 đã ký kết với bà H.
Khi nhận chuyển nhượng tài sản bán đấu giá, Công ty Đ và buộc phải biết được tình trạng pháp lý của hợp đồng mua bán căn hộ nêu trên nhưng không có thiện chí thực hiện hợp đồng, liên tục vi phạm các điều kiện đã thỏa thuận trong hợp đồng và Quyết định số 6296/QĐ-UBND ngày 30/11/2015 của Ủy ban nhân dân Thành phố H không bàn giao 02 căn hộ mã số B3-1101 và căn hộ mã số B3-1102 cho bà H. Do đó, bị đơn yêu cầu Công ty Đ phải bàn giao 02 căn hộ nêu trên là có cơ sở chấp nhận.
Tại khoản 1 Điều 6 của Hợp đồng mua bán căn hộ các bên đã thỏa thuận: “Bên bán có trách nhiệm bàn giao Căn hộ cho Bên mua vào thời gian: quý 2/2012”.
Tại điểm 1 khoản 1 Điều 4 của Hợp đồng mua bán căn hộ các bên đã thỏa thuận “...Nếu bên bán không giao nhà cho bên mua sau 12 tháng kể từ ngày đến hạn giao nhà mà không do lỗi của bên mua thì bên bán phải thanh toán lãi phát sinh trên số tiền mà bên bản đã nhận theo mức lãi suất bằng 150% của mức lãi suất cho vay ngắn hạn do Ngân hàng N2 (V) Thành phố Hồ Chí Minh công bố tại thời điểm bên bán chậm bàn giao căn hộ”.
Tại Văn bản số 3793/HCM-TH ngày 11/4/2024 Ngân hàng Thương mại cổ phần N2 – Chi nhánh Thành phố H cung cấp thông tin lãi suất cho vay đồng Việt Nam áp dụng đối với cá nhân được công bố vào thời điểm tháng 6 năm 2018 là 9,2%/năm. Như vậy, lãi phát sinh bên bán phải trả cho bên mua theo hợp đồng là 150% x 9,2%/năm = 13,8%/năm. Tuy nhiên, bà H yêu cầu Công ty Đ thanh toán tiền lãi phát sinh do chậm bàn giao căn hộ cho bà H theo mức lãi suất 13,5%/năm tính từ ngày 01/6/2018 đến ngày 31/5/2024 trên số tiền mà bà H đã thanh toán là 2.777.976.000 đồng (3.429.600.000 đồng x 13,5%/năm x 72 tháng), có lợi cho Công ty Đ nên chấp nhận. Từ ngày 01/6/2024, Công ty Đ có trách nhiệm tiếp tục thanh toán cho bà H tiền lãi phát sinh cho đến khi bàn giao 02 căn hộ nêu trên cho bà H.
Xét thấy, nghĩa vụ phát hành hóa đơn giá trị gia tăng của Công ty Đ đối với bà H là một trong những nghĩa vụ mà Công ty Đ phải thực hiện sau khi nhận tài sản đấu giá. Theo Công văn số 4296/CCT-TTHT ngày 22/4/2020, Công văn số 3348/CCT-THNVDT-TTHT ngày 29/4/2016 của Chi cục Thuế huyện B và Điều 3 của Quyết định 6296/QĐ-UBND của Ủy ban nhân dân Thành phố H thì Công ty Đ đã cam kết thực hiện toàn bộ nghĩa vụ còn lại trong Hợp đồng và nắm rõ nghĩa vụ chịu thuế, phát hành hóa đơn giá trị gia tăng nhưng đến nay Công ty Đ vẫn chưa thực hiện. Do đó, bà H yêu cầu Công ty Đ liên hệ với Chi cục thuế có thẩm quyền để phát hành hóa đơn giá trị gia tăng đối với hai căn hộ trên theo quy định pháp luật là có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Bà H có trách nhiệm thực hiện đúng với thỏa thuận trong Hợp đồng, thanh toán số tiền còn lại là 342.960.000 đồng cho Công ty Đ sau khi nhận được hóa đơn giá trị gia tăng.
Do đó, cấp sơ thẩm chấp nhận toàn bộ yêu cầu phản tố của của bị đơn là có cơ sở chấp nhận.Hội đồng xét xử giữ nguyên bản án sơ thẩm không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn.
Xét thấy đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh có cơ sở chấp nhận.
Án phí dân sự phúc thẩm: Công ty cổ phần Đ phải chịu án phí phúc thẩm 300.000 đồng nhưng được cấn trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai tạm ứng án phí số 0004175 ngày 20/6/2024 của Chi cục Thi hành huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ Khoản 2 Điều 148; Điều 273 và khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- Căn cứ Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015;
- Căn cứ vào Điều 39 Luật nhà ở 2005; Điều 12 Luật nhà ở 2014;
- Căn cứ Nghị định số 71/2010/NĐ- CP ngày 23 tháng 6 năm 2010 của Chính phủ quy định chi tiết và thi hành Luật Nhà ở;
- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
- Căn cứ Luật Thi hành án dân sự năm 2008 sửa đổi, bổ sung năm 2014.
Tuyên xử:
- Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn Công ty cổ phần Đ.
- Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 312/2024/DS-ST ngày 31 tháng 5 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đình chỉ xét xử toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty cổ phần Đ về việc yêu cầu:
- Tuyên chấm dứt hiệu lực Hợp đồng mua bán căn hộ cao ốc Thảo Loan P (Block 3, 4) ngày 13/9/2011 giữa Công ty Trách nhiệm hữu hạn Đ1 và bà Trần Thị Kim H.
- Buộc bà Trần Thị Kim H phải bồi thường thiệt hại cho Công ty Cổ phần Đ số tiền lãi trên số tiền bà H chưa thanh toán theo Hợp đồng mua bán căn hộ tính đến ngày vụ án được đưa ra xét xử, tạm tính từ ngày 29 tháng 5 năm 2018 đến ngày 29 tháng 05 năm 2020, cụ thể: 342.960.000 (Ba trăm bốn mươi hai triệu chín trăm sáu mươi nghìn) đồng x 1,5%/tháng x 24 tháng = 123.465.600 (Một trăm hai mươi ba triệu bốn trăm sáu mươi lăm nghìn sáu trăm) đồng.
- Buộc bà H thanh toán phí quản lý vận hành chung cư đối với 02 căn hộ mã số B3- 1101 và căn hộ M Tầng A Chung cư C. TS tạm tính từ tháng 6 năm 2018 đến tháng 05 năm 2020 là 27.084.540 (Hai mươi bảy triệu không trăm tám mươi bốn nghìn năm trăm bốn mươi) đồng.
- Công ty cổ phần Đ sẽ hoàn lại số tiền 3.429.600.000 đồng (Ba tỷ bốn trăm hai mươi chín triệu sáu trăm nghìn) đồng mà bà H đã thanh toán cho Công ty Trách nhiệm hữu hạn Đ1 sau khi trừ đi khoản tiền bồi thường thiệt hại, chi phí quản lý vận hành, các chi phí phát sinh liên quan và sau khi Công ty cổ phần Đ bán được căn hộ cho bên thứ ba.
- Công ty cổ phần Đ được toàn quyền sở hữu, sử dụng căn hộ mã số B3-1101 và căn hộ M Tầng A Chung cư C ngay sau khi bản án có hiệu lực.
- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu phản tố của bị đơn bà Trần Thị Kim H.
- Buộc Công ty cổ phần Đ tiếp tục thực hiện Hợp đồng mua bán căn hộ chung cư C số .../2011/HĐMB-TL ký ngày 13 tháng 9 năm 2011 giữa bà Trần Thị Kim H và Công ty Trách nhiệm hữu hạn Đ1;
- Buộc Công ty Cổ phần Đ có trách nhiệm bàn giao cho bà Trần Thị Kim H 02 căn hộ có mã số B3-1101, B3-1102 (sàn 11) thuộc Dự án Chung cư L, Lô D cụm I thuộc tổng thể Dự án Khu dân cư Trung Sơn 6,57ha – Khu C Đô thị N, xã B, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh (Căn cứ Bản vẽ hiện trạng nhà do Trung tâm đo đạc Bản đồ Thành phố H lập ngày 08 tháng 11 năm 2021, Số hợp đồng: 130058/TTĐĐBĐ-VPTT).
- Buộc Công ty cổ phần Đ có trách nhiệm thanh toán tiền lãi phát sinh do chậm bàn giao căn hộ cho bà Trần Thị Kim H với số tiền là 2.777.976.000 (Hai tỷ bảy trăm bảy mươi bảy triệu chín trăm bảy mươi sáu nghìn) đồng.
- Kể từ ngày 01 tháng 6 năm 2024, Công ty cổ phần Đ còn phải tiếp tục thanh toán tiền lãi phát sinh do chậm bàn giao căn hộ cho bà Trần Thị Kim H theo mức lãi suất 1,125%/tháng cho đến khi Công ty cổ phần Đ bàn giao 02 căn hộ có mã số B3-1101, B3-1102 (sàn 11) thuộc Dự án Chung cư L, Lô D cụm I thuộc tổng thể Dự án Khu dân cư Trung Sơn 6,57ha – Khu C Đô thị N, xã B, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh căn cứ Bản vẽ hiện trạng nhà do Trung tâm đo đạc Bản đồ Thành phố H lập ngày 08 tháng 11 năm 2021 (Số hợp đồng: 130058/TTĐĐBĐ-VPTT) cho bà Trần Thị Kim H.
- Kể từ khi bà Trần Thị Kim H có đơn yêu cầu thi hành án, nếu Công ty cổ phần Đ chậm trả tiền thì phải trả lãi đối với số tiền chậm trả theo lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
- Buộc Công ty cổ phần Đ có trách nhiệm liên hệ với Chi cục T có thẩm quyền để phát hành hóa đơn giá trị gia tăng đối với hai căn hộ có mã số B3-1101, B (sàn 11) thuộc Dự án Chung cư L, Lô D cụm I thuộc tổng thể Dự án Khu dân cư Trung Sơn 6,57 ha – Khu C Đô thị N, xã B, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh (Căn cứ Bản vẽ hiện trạng nhà do Trung tâm đo đạc Bản đồ Thành phố H lập ngày 08 tháng 11 năm 2021 (Số hợp đồng: 130058/TTĐĐBĐ-VPTT)) theo quy định pháp luật.
- Bà Trần Thị Kim H có trách nhiệm giao cho Công ty cổ phần Đ số tiền còn lại của hợp đồng là 342.960.000 (Ba trăm bốn mươi hai triệu chín trăm sáu mươi nghìn) đồng.
- Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ: Công ty Cổ phần Đ có trách nhiệm hoàn trả lại cho bà Trần Thị Kim H số tiền 6.437.904 (Sáu triệu bốn trăm ba mươi bảy nghìn chín trăm lẻ bốn) đồng.
Thi hành tại Chi cục Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
6. Về án phí sơ thẩm:
- Công ty Cổ phần Đ phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 87.859.520 (T1 mươi bảy triệu tám trăm năm mươi chín nghìn năm trăm hai mươi) đồng, nhưng được cấn trừ vào số tiền tạm ứng án phí 54.065.849 (Năm mươi bốn triệu không trăm sáu mươi lăm nghìn tám trăm bốn mươi chín) đồng mà Công ty Cổ phần Đ đã tạm nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số AA/2019/0079670 ngày 03 tháng 7 năm 2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Chánh. Công ty cổ phần Đ còn phải nộp thêm số tiền là 33.793.671 (Ba mươi ba triệu bảy trăm chín mươi ba nghìn sáu trăm bảy mươi mốt) đồng.
- Bà Trần Thị Kim H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 17.148.000 (Mười bảy triệu một trăm bốn mươi tám nghìn) đồng, nhưng được cấn trừ vào số tiền 56.750.539 (Năm mươi sáu triệu bảy trăm năm mươi nghìn năm trăm ba mươi chín) đồng mà bà H đã tạm theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số AA/2019/0080817 ngày 12 tháng 01 năm 2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Chánh. Bà H được nhận lại số tiền chênh lệch là 39.602.539 (Ba mươi chín triệu sáu trăm lẻ hai nghìn năm trăm ba mươi chín) đồng.
7. Án phí dân sự phúc thẩm: Nguyên đơn Công ty Cổ phần Đ phải chịu án phí 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng nhưng được cấn trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai tạm ứng án phí số 0004175 ngày 20 tháng 6 năm 2024 của Chi cục Thi hành huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh.
Trường hợp bản án được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phan Thị Út |
Bản án số 794/2024/DS-PT ngày 11/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng mua bán căn hộ
- Số bản án: 794/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng mua bán căn hộ
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 11/09/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng mua bán căn hộ
