Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO

TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Bản án số: 794/2024/HS-PT

Ngày: 05 - 9 - 2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Chung Văn Kết
Các Thẩm phán: Ông Hoàng Minh Thịnh
Bà Nguyễn Thị Thanh

Thư ký phiên tòa: Bà Thái Thị Linh Huệ - Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Võ Phong Lưu - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 28 tháng 8 và ngày 05 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 973/2023/TLPT-HS ngày 20 tháng 11 năm 2023, do có kháng cáo của các bị cáo Hoàng Văn G, Chu Thị H, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 72/2023/HS-ST ngày 28 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Long An.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 4810/2024/QĐXXPT-HS ngày 01 tháng 8 năm 2024, đối với:

* Các bị cáo kháng cáo:

  1. Hoàng Văn G, sinh năm 1981, tại Thái Bình. Nơi ĐKHKTT: SỐ C, Lô F, đường số F, phường E, thành phố T, tỉnh Long An; chỗ ở hiện nay: Số E, đường M, phường E, thành phố T, tỉnh Long An; nghề nghiệp: Kinh doanh; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Minh N, sinh năm 1949 và bà Vũ Thị L, sinh năm 1952; vợ Chu Thị H (bị cáo chung vụ án); có 03 người con, người con lớn nhất sinh năm 2002 và người con nhỏ nhất sinh năm 2006; tiền án, tiền sự: Không.
  2. Bị cáo bắt tạm giam ngày 03 tháng 7 năm 2024 đến nay, có mặt tại phiên tòa.

  3. Chu Thị H, sinh năm 1982, tại Thái Bình. Nơi ĐKHKTT: Số C, Lô F, đường số F, phường E, thành phố T, tỉnh Long An; chỗ ở hiện nay: Số E, đường M, phường E, thành phố T, tỉnh Long An; nghề nghiệp: Nội trợ; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Chu Sĩ M, sinh năm 1948 và bà Đinh Thị T, sinh năm 1949; chồng: Hoàng Văn G (bị cáo chung vụ án);

có 03 người con, người con lớn nhất sinh năm 2002 và người con nhỏ nhất sinh năm 2006; tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt tại phiên tòa.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Công ty TNHH V; Địa chỉ: Số B, Quốc lộ A, khu phố T, phường E, thành phố T, tỉnh Long An.

    Người đại diện theo pháp luật: Hoàng Văn G - Chức vụ: Giám đốc.

    Người đại diện theo ủy quyền: Ông Võ Đức T1, nơi cư trú: 114 Lô A, phường B, quận B, Tp . (HĐ ủy quyền ngày 18/6/2024, có mặt).

  2. Công ty TNHH MTV Dầu khí Thành phố H; Địa chỉ: Số B, đường N, Phường V, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.

    Người đại diện theo pháp luật của Công ty: Ông Phạm Văn T2 - Chức vụ: Tổng giám đốc.

    Người đại diện theo ủy quyền: Ông Trần Công L1, sinh năm 1980. Nơi cư trú: Số A, đường N, phường T, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh (có mặt).

  3. Công ty TNHH MTV K; Địa chỉ: Đường L, khu phố D, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
  4. Công ty TNHH T7; Địa chỉ: Khu phố E, phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.

    Người đại diện theo ủy quyền: Ông Đào Nguyên Q, sinh năm 1964; nơi cư trú: Số A, đường L, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh (có mặt).

  5. Công ty TNHH H4; Địa chỉ: Ấp T, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An.

    Người đại diện theo pháp luật của công ty: Ông Huỳnh Đức H1, sinh năm 1976; nơi cư trú: Số F, đường P, Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh – Chức vụ: Giám đốc công ty (vắng mặt).

  6. Ông Hoàng Văn S, sinh năm 1957; nơi cư trú: Ấp P, xã P, huyện H, tỉnh Đồng Tháp (vắng mặt).
  7. Ông Nguyễn Minh H2, sinh năm 1991; nơi cư trú: Ấp N, xã T, thành phố H, tỉnh Kiên Giang (vắng mặt).
  8. Ông Văn Đắc T3, sinh năm 1990; nơi cư trú: Số A, đường H, phường C, thành phố T, tỉnh Long An (vắng mặt).
  9. Ông Phạm Huỳnh P, sinh năm 1984; nơi cư trú: Ấp B, xã C, huyện M, tỉnh Vĩnh Long (vắng mặt).

* Người làm chứng:

  1. Ông Huỳnh Văn Ba Mười B, sinh năm 1992 (vắng mặt).
  2. Ông Huỳnh Quốc T4, sinh năm 1997 (vắng mặt).

Cùng nơi cư trú: Ấp Đ, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An.

  1. Ông Nguyễn Hữu N1, sinh năm 1948; nơi cư trú: Ấp T, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Công ty V thành lập ngày 12-01-2015, vốn điều lệ 1.000.000.000 đồng, do Hoàng Văn G góp 50% và làm Chủ tịch Hội đồng thành viên kiêm Giám đốc, Chu Thị H góp 50%, được phép kinh doanh khí dầu mỏ hóa lỏng (LPG) có nhãn hàng hóa, thương hiệu: MT-GAS, VANLOC SAIGON, ASIA GAS, không có chức năng chiếc nạp, sản xuất LPG chai.

Khoảng 08 giờ ngày 29-11-2018, Hoàng Văn G phân công tài xế Văn Đắc T3 điều khiển xe ô tô tải biển số 62C-054.48 chở Phạm Huỳnh P, cùng 200 vỏ chai LPG các nhãn hiệu Totalgaz, E, Sai G, Gia đình Gas đến Công ty TNHH H4 (gọi tắt là C), địa chỉ ấp T, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An, mua nước LPG nạp vào 200 vỏ chai LPG, đồng thời bảo Chu Thị H đưa cho Văn Đắc T3 số tiền 50.000.000 đồng để trả tiền mua nước LPG. Khoảng 11 giờ 30 phút cùng ngày, Văn Đắc T3 điều khiển xe ô tô tải biển số 62C-054.48 chở Phạm Huỳnh P, cùng 200 chai LPG đã nạp đầy nước LPG về đến C1. G bảo Chu Thị H lấy nút nhựa, màng co và tem chống hàng giả đưa cho Hoàng Văn S, Nguyễn Minh H2 gắn màng co vào van đóng mở khóa gas và dùng nước sôi trên 80°C đổ trực tiếp vào màng co, rồi dán tem chống hàng giả lên màng co, thành chai gas hoàn chỉnh. Đối với những thương hiệu gas có nắp nhựa như T5, E thì G và H cho gắn nắp nhựa vào miệng van trước khi dán màng co và tem chống hàng giả. Đến 12 giờ 40 phút cùng ngày thì bị kiểm tra, phát hiện.

* Trên xe ô tô tải biển số 62C-054.48

  • 49 chai LPG nhãn hiệu Totalgaz vỏ xám, loại 12kg, chưa dán màng co.
  • 94 chai LPG nhãn hiệu Totalgaz vỏ xám, loại 12kg, đã dán màng co.
  • 01 chai LPG nhãn hiệu Gia đình Gas, loại 45kg, chưa dán màng co.

* Trên nền gạch cạnh xe ô tô tải biển số 62C-054.48

  • 11 chai LPG nhãn hiệu Elfgaz vỏ đỏ, loại 12,5kg, đã dán màng co.
  • 37 chai LPG nhãn hiệu Sai Gon Petro, loại 12kg, đã dán màng co.
  • 08 chai LPG nhãn hiệu Totalgaz vỏ cam, loại 12kg, đã dán màng co.
  • 01 ấm kim loại nhãn hiệu HAIHONG.
  • 01 túi nylon bên trong có 43 tem chống hàng giả nhãn hiệu Totalgaz; 38 nắp chụp màu trắng, loại nhỏ, nhãn hiệu Totalgaz; 92 nắp nhựa màu trắng, loại lớn, nhãn hiệu Totalgaz; 13 nắp nhựa màu xanh, không nhãn hiệu; 02 tem chống hàng giả, nhãn hiệu Gia đình Gas; 38 tem chống hàng giả Công ty TNHH MTV Dầu khí Thành phố H; 42 màng co nhãn hiệu Sai Gon Petro; 115 màng co nhãn hiệu Elfgaz.
  • 01 xe ô tô tải biển số 62C-054.48 do Công ty V đứng tên giấy chứng nhận.

Tại các Bản kết luận giám định số 434/C09B ngày 16-01-2019 và số 1439/C09B ngày 01-4-2019 của P1 tại TP ., kết luận:

  • 94 màng co dán trên van đóng mở khóa của 94 chai LPG nhãn hiệu Totalgaz vỏ xám, loại 12kg; 11 màng co dán trên van đóng mở khóa của 11 chai LPG nhãn hiệu Elfgaz, loại 12,5kg; 37 màng co dán trên van đóng mở khóa của 37 chai LPG nhãn hiệu Sai Gon Petro, loại 12kg; 08 màng co dán trên van đóng mở khóa của 08 chai LPG nhãn hiệu Totalgaz vỏ màu cam, loại 12kg, so với màng co dùng làm mẫu so sánh, là không được in ra từ một bản in.
  • Các lớp in trên 14 tem chống hàng giả dán trên 14 màng co nhãn hiệu Totalgaz, 11 tem chống hàng giả dán trên 11 màng co nhãn hiệu Elfgaz và 43 tem chống hàng giả nhãn hiệu Totalgaz chưa sử dụng so với các lớp in trên 05 tem chống hàng giả mẫu so sánh cùng loại do Công ty TNHH T8 cung cấp là không phải được in ra từ cùng một phương pháp in.

Đối với các vỏ chai LPG nhãn hiệu Totalgaz, E và Gia đình Gas nêu trên, G và H có được từ việc kinh doanh gas, khách hàng mua gas các nhãn hiệu Cty Việt H được phép kinh doanh và đổi các vỏ chai LPG mang các nhãn hiệu nêu trên. G đem các vỏ chai LPG này bán lại các công ty mang thương hiệu chính hãng, nhưng các công ty này mua với giá thấp nên G và H để lại sản xuất gas giả, bán cho khách hàng thu lợi nhuận cao hơn, để trả lương cho công nhân. Các nút nhựa, màng co và tem chống hàng giả, G mua của người tên D (không xác định nhân thân, lai lịch) tại khu vực chợ B1, huyện B, tỉnh Long An, giá mỗi bộ màng co, tem chống hàng giả từ 1.000 đồng đến 1.600 đồng.

* Tại Kết luận định giá tài sản số 1279/KL-HĐĐG ngày 26-4-2019 của Hội đồng định giá Tố tụng hình sự Ủy ban nhân dân tỉnh L, xác định: Giá trị 200 chai LPG các nhãn hiệu bị tạm giữ nêu trên là 173.201.719 đồng.

* Tại Bản Cáo trạng số 13/CT-VKSLA-P1 ngày 28-9-2021 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An, đã truy tố các bị cáo Hoàng Văn G và Chu Thị H, về tội “Sản xuất hàng giả” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 192 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 72/2023/HSST ngày 28 tháng 9 năm 2023
của Tòa án nhân dân tỉnh Long An, quyết định:

  1. Tuyên bố: Các bị cáo Hoàng Văn G và Chu Thị H phạm tội “Sản xuất hàng giả”.
  2. Về hình phạt:
    1. Áp dụng: Điểm đ khoản 2 Điều 192; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 50 và Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

      Xử phạt: Bị cáo Hoàng Văn G 06 (Sáu) năm tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo chấp hành hình phạt.

    2. Áp dụng: Điểm đ khoản 2 Điều 192; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 50; Điều 58; khoản 2 Điều 54 và Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

      Xử phạt: Bị cáo Chu Thị H 03 (Ba) năm tù, nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 05 năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm 28-9-2023.

Giao bị cáo Chu Thị H cho Ủy ban nhân dân phường E1, thành phố T, tỉnh Long An để giám sát giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo Chu Thị H có trách nhiệm phối hợp với cơ quan, tổ chức, chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo Chu Thị H cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án Hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới, thì Tòa án buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 Bộ luật Hình sự.

Trong trường hợp bị cáo Chu Thị H vắng mặt tại nơi cư trú, thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật Thi hành án Hình sự năm 2019.

    1. Áp dụng: Khoản 4 Điều 192 Bộ luật Hình sự, cấm các bị cáo Hoàng Văn G và Chu Thị H hành nghề liên quan đến việc kinh doanh gas 04 năm kể từ ngày chấp hành xong bản án.
  1. Về trách nhiệm dân sự: Không chấp nhận yêu cầu bồi thường của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan Công ty TNHH MTV Dầu khí Thành phố H.

Ngoài ra, án sơ thẩm còn quyết định về việc xử lý vật chứng, án phí, việc thi hành án và quyền kháng cáo vụ án theo luật định.

* Sau khi xét xử sơ thẩm:

  • Ngày 29/9/2023, các bị cáo Hoàng Văn G, Chu Thị H kháng cáo kêu oan.
  • Ngày 13/10/2023, Công ty TNHH MTV Dầu khí Thành phố H kháng cáo, nội dung đề nghị xác định tư cách Công ty là bị hại mới đúng; đối với phần trách nhiệm dân sự: Buộc các bị cáo G, H phải bồi thường cho Công ty số tiền 68.500.000 đồng (Trong đó: thiệt hại vật chất 18.500.000 đồng và khoản lợi nhuận các bị cáo thu được do xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ 50.000.000 đồng); Đồng thời yêu cầu trả lại cho Công ty C2 vỏ chai Saigon Petro.
  • Ngày 10/10/2023, Công ty TNHH T7 có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm, yêu cầu xác định tư cách Công ty là bị hại, vì hành vi phạm tội của các bị cáo gây thiệt hại nghiêm trọng đến quyền lợi của Công ty. Đề nghị hủy án sơ thẩm.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

  • Các bị cáo G, H kháng cáo cho rằng: Các bị cáo yêu cầu Luật sư Nguyễn Đình Thái H3 tham gia bào chữa cho bị cáo nhưng Tòa án cấp sơ thẩm không mời luật sư tham gia phiên Tòa là vi phạm nghiêm trọng trong tố tụng; Về nội dung: các bị cáo chỉ mua nước gas của Công ty H4, chứ không phải là người sản xuất, chiếc nạp gas nên không đồng ý tội danh như Cáo trạng truy tố, án sơ thẩm đã xét xử. Đề nghị cấp phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm.
  • Công ty TNHH MTV Dầu khí Thành phố H và Công ty TNHH T7, giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
  • Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm về xử lý vụ án: Không có tài liệu, chứng cứ nào thể hiện các bị cáo bị ép cung, mớm cung; Lời khai ban đầu các bị cáo đều thừa nhận hành vi phạm tội như Cáo trạng đã truy tố; Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo kêu oan, giữ nguyên tội danh và mức hình phạt như bản án sơ thẩm đã tuyên đối với các bị cáo; Đối với kháng cáo của Công ty TNHH MTV Dầu khí Thành phố H và Công ty TNHH T7 về xác định tư cách bị hại, yêu cầu bồi thường và trả lại võ bình gaz, thấy rằng án sơ thẩm đã xem xét, đánh giá và xử lý đúng pháp luật nên đề nghị không chấp nhận kháng cáo. Đồng thời kiến nghị tiếp tục điều tra và xử lý đối với Công ty TNHH H4 và ông Huỳnh Đức H1 để tránh bỏ lọt người phạm tội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. [1]. Về tố tụng:
    1. [1.1]. Những người vắng mặt đã được triệu tập hợp lệ và có đơn xin xét xử vắng mặt; Do đó, Hội đồng xét xử phúc thẩm tiến hành xét xử vắng mặt theo Điều 292, Điều 293 và 351của Bộ luật TTHS năm 2015.
    2. [1.2]. Đối với đơn xin hoãn phiên tòa của Luật sư bào chữa cho bị cáo Hoàng Văn G và bị cáo Chu Thị H, với lý do chưa tiếp cận hồ sơ vụ án. Thấy rằng, đây là phiên tòa được mở lần thứ 4; các phiên tòa lần 1, 2, 3 các bị cáo cũng làm đơn xin hoãn với lý do yêu cầu luật sư bào chữa, nhưng bị cáo không cung cấp được tài liệu, chứng cứ gì chứng minh bị cáo có nhờ Luật sư và không có Luật sư nào đăng ký tham gia bào chữa cho bị cáo. Hội đồng xét xử phúc thẩm đã giải thích nhiều lần về thủ tục nhờ luật sư và phải đăng ký trước. Do đó, không có căn cứ chấp nhận yêu cầu hoãn phiên tòa của bị cáo.
    3. [1.3]. Đối với khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của các Cơ quan tiến hành tố tụng cấp sơ thẩm tỉnh Long An: Quá trình điều tra, truy tố, xét xử các bị cáo Hoàng Văn G và Chu Thị H liên tục khiếu nại yêu cầu thay đổi Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa và Kiểm sát viên, cho rằng không khách quan; các bị cáo có nhiều đơn khiếu nại ở các ban ngành Trung ương. Thấy rằng, các khiếu nại này đã được cấp sơ thẩm thụ lý, giải quyết theo đúng trình tự thủ tục pháp luật quy định.
  2. [2]. Xét yêu cầu kháng cáo kêu oan của các bị cáo và đề nghị hủy án sơ thẩm, thấy rằng:
    1. [2.1]. Về việc không mời Luật sư bào chữa cho bị cáo tham gia phiên tòa:

      Theo quy định tại Điều 78 của Bộ luật tố tụng hình sự quy định về “Thủ tục đăng ký bào chữa” thì: “Trong mọi trường hợp tham gia tố tụng, người bào chữa phải đăng ký bào chữa”. Hồ sơ thể hiện: không có tài liệu, chứng cứ nào chứng minh Luật sư có xuất trình các giấy tờ để đăng ký tham gia bào chữa cho 02 bị cáo.

      Tại Biên bản phiên tòa sơ thẩm ngày 28/9/2023, chủ tọa phiên tòa đã phổ biến quyền và nghĩa vụ cho bị cáo, trong đó có quyền yêu cầu nhờ Luật sư bào chữa nhưng bị cáo chỉ yêu cầu thay đổi Thẩm phán - chủ tọa. Do đó, việc Tòa sơ thẩm không mời luật sư bào chữa cho bị cáo là phù hợp, vì trường hợp của bị cáo không phải bắt buộc phải có luật sư chỉ định.

    2. [2.2]. Xét yêu cầu kháng cáo kêu oan của các bị cáo, thấy rằng:
      1. [2.1]. Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo Hoàng Văn G, Chu Thị H tiếp tục kêu oan, cho rằng các bị cáo không có hành vi sản xuất, chiếc nạp gas giả, mà chỉ là người mua gas của Công ty H4.

        Hồ sơ thể hiện:

        • Tại Biên bản sự việc do Phòng PC03 Công an tỉnh L lập lúc 15 giờ ngày 29-11-2018 về hành vi quả tang, bị cáo G thừa nhận: “Sáng ngày 29/11/2018 Công ty V có cử tài xế điều khiển xe ô tô tải Biển số KS 62C05448 chở 200 vỏ bình hiệu LPG các loại đến Công ty TNHH H4 để nạp ga.... Đến trưa cùng ngày Công ty V có tổ chức cho công nhân dán màn co, tem chống giả... thì bị lực lượng công an phát hiện bắt quả tang” (BL: 01,02).
        • Lời khai của các bị cáo G, H trong quá trình điều tra đều thừa nhận hành vi phạm tội như Kết luật điều tra, Cáo T6 đã truy tố: “Bị cáo G khai chính bị cáo là người chủ trương sản xuất gas giả nhãn hiệu, không ai chỉ đạo, vợ tôi (bị cáo H) biết việc tôi sản xuất gas giả, tham gia hướng dẫn thực hiện các công đoạn sản xuất gas giả nhằm thu lợi... các công nhân của Công ty V tham gia đóng màn co, dán tem chống giả...là thực hiện theo chỉ đạo của tôi.... Tôi biết việc làm của mình là vi phạm pháp luật, xâm phạm lợi ích chính đáng của các thương hiệu chính hãng... "; Bị cáo H khai: “Chồng tôi là người đưa ra chủ trương sản xuất gas giả nhãn hiệu, không có bàn bạc trước với tôi, nhưng trong quá trình thực hiện tôi có tham gia cùng chồng tôi chỉ đạo, điều hành công nhân thực hiện các công đoạn sản xuất gas giả”.
        • Tại Biên bản hỏi cung ngày 27 tháng 7 năm 2020. Bị cáo H khai: “Công ty V bắt đầu sản xuất gas giả cách ngày bị bắt khoảng 01 năm, đã thực hiện khoản 2, 3 lần, mỗi lần vài chục bình, thuộc các nhãn hiệu Total gas, S, Gia đình gas. Giá bán mỗi bình gas giả nhãn hiệu từ 230.000 đồng đến 235.000 đồng /01 bình 12kg, giá bán tùy theo nước gas nhập khẩu. Số tiền thu lợi từ các lần sản xuất gas giả trước đó tôi trả lương cho nhân viên, trả nợ Ngân hàng...” (BL: 586-589).
        • Tại Bản tự khai ngày 21/10/2019, bị cáo G cũng thừa nhận “việc phân công tài xế đi mua gas, sau đó đem về để anh em công nhân tiến hành dán màng co và tem giả để mang đi bán thì công an tạm giữ...” (BL: 189).
        • Lời khai nhận của các bị cáo phù hợp với lời khai của những người làm chứng là tài xế xe, công nhân trong Công ty của bị cáo (ông Văn Đắc T3, Phạm Huỳnh P, Huỳnh Văn Ba Mười B và ông Huỳnh Quốc T4); Phù hợp với Biên bản thu giữ vật chứng và các kết luận giám định.
        • Việc bị cáo G, H cho rằng bị ép cung trong quá trình điều tra nhưng không có tài liệu, chứng cứ chứng minh.
        • Hơn nửa, sau khi các bị cáo nhận Bản cáo trạng đều ghi: “tôi không có ý kiến gì” (BL 594, 595).
      2. [2.2].Như vậy, việc các bị cáo kêu oan là không có căn cứ, mà có đủ cơ sở xác định:

        Công ty V do các bị cáo G và H góp vốn thành lập và cả hai đều là vợ chồng, Công ty chỉ được phép kinh doanh khí dầu mỏ hóa lỏng (LPG) có nhãn hàng hóa, thương hiệu: MT-GAS; ASIA GAS; VANLOC SAIGON, không được phép kinh doanh LPG chai các nhãn hiệu: Totalgaz, E, Gia đình G, SaiGon Petro và không có chức năng chiếc nạp, sản xuất LPG chai.

        Khoảng 12 giờ 40 phút ngày 29-11-2018, tại địa chỉ số: Số B, Quốc lộ A, khu phố T, phường E, thành phố T, tỉnh Long An, Phòng PC03 Công an tỉnh L kiểm tra bắt quả tang các bị cáo Hoàng Văn G và Chu Thị H đang tổ chức cho công nhân sản xuất 200 chai LPG giả các nhãn hiệu, gồm: 151 chai Totalgaz, loại 12kg (đã dán màng co 102 chai, chưa dán màng co 49 chai); 11 chai Elfgaz loại 12,5kg (đã dán màng co); 37 chai Sai Gon Petro, loại 12kg (đã dán màng co); 01 chai Gia đình Gas, loại 45kg (chưa dán màng co). Hành vi như trên của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Sản xuất hàng giả”. Tổng giá trị 200 chai LPG giả theo kết luận định giá có giá trị là 173.201.719 đồng.

        Cấp sơ thẩm đã truy tố, xét xử các bị cáo Hoàng Văn G và Chu Thị H phạm tội “Sản xuất hàng giả” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 192 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, không oan như kháng cáo của các bị cáo.

  3. [3]. Hành vi phạm tội do các bị cáo gây ra là rất nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế, quyền được bảo hộ về hàng hóa của doanh nghiệp và lợi ích của người tiêu dùng. Vì động cơ, mục đích vụ lợi, các bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội. Việc các bị cáo thay đổi lời khai, kêu oan, gửi đơn khiếu nại, tố cáo nhiều nơi (Từ trung ương đến địa phương) thể hiện bản tính không biết ăn năn hối cải, gây khó khăn cho các cơ quan tiến hành tố tụng. Án sơ thẩm xử phạt bị cáo G 06 năm tù, bị cáo H 03 năm tù nhưng cho hưởng án treo là tương xứng với tính chất mức độ, hậu quả do hành vi phạm tội của các bị cáo gây ra, có xem xét đến vai trò đồng phạm là vợ chồng của 02 bị cáo.
  4. [4]. Đối với C, bị cáo G kháng cáo cho rằng phải xử lý hình sự Giám đốc Công ty H4 ông Huỳnh Đức H1, do bị cáo mua gas của Công ty.

    Vấn đề này thấy rằng, Tòa án sơ thẩm cũng đã có Quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung. Tuy nhiên, sau khi điều tra bổ sung Viện kiểm sát xác định Công ty H4 được phép sang chiết nạp gas và không biết các bị cáo mua nước LPG để sản xuất hàng giả. Do đó, cấp sơ thẩm cho rằng không có căn cứ để xem xét vai trò đồng phạm đối với Công ty H4.

    Tuy nhiên, hồ sơ có nhiều tài liệu thể hiện Công ty H4 có hành vi sang chiếc gas trái phép bị cơ quan chức năng xử phạt hành chính. Do đó, Hội đồng xét xử phúc thẩm kiến nghị Cơ quan cảnh sát điều tra công an tỉnh L tiếp tục điều tra, nếu có dấu hiệu hình sự thì xử lý theo quy định pháp luật, để không bỏ lọt người phạm tội.

  5. [5]. Về kháng cáo của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan - Công ty TNHH MTV Dầu khí Thành phố H, Công ty TNHH T7 liên quan đến tư cách tham gia tố tụng, trách nhiệm bồi thường dân sự và xử lý vật chứng, thấy rằng:
    1. [5.1]. Về tư cách tham gia tố tụng:

      Theo quy định tại Điều 192 của Bộ luật Hình sự năm 2015, thì tội “Sản xuất, buôn bán hàng giả”, có khách thể xâm hại là “hoạt động quản lý thị trường của Nhà nước đối với việc sản xuất, kinh doanh, buôn bán các loại hàng hóa được phép sản xuất, kinh doanh, buôn bán, sử dụng trên thị trường, đồng thời là quyền và lợi ích hợp pháp của người sản xuất, kinh doanh hàng hóa và người tiêu dùng”. Do đó, trong tội này khách thể bị xâm hại là “hoạt động quản lý Nhà nước”, Tòa sơ thẩm xác định tư cách của 02 Công ty tham gia tố tụng là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là đúng pháp luật.

    2. [5.2]. Về thiệt hại và trách nhiệm bồi thường:

      Trong vụ án này, cấp sơ thẩm chỉ truy tố, xét xử hành vi phạm tội quả tang của các bị cáo xảy ra ngày 29-11-2018; Nên thời điểm phạm tội chưa đưa hàng hóa ra thị trường tiêu thụ, thì bị thu giữ toàn bộ tang vật. Vì vậy, chưa gây thiệt hại thực tế nên yêu cầu kháng cáo bồi thường của Công ty TNHH MTV Dầu khí Thành phố H là không có căn cứ để chấp nhận.

      Nếu sau này, phía Công ty chứng minh được số tiền thiệt hại thực tế do hành vi phạm tội của các bị cáo gây ra thì có quyền khởi kiện vụ án dân sự khác.

    3. [5.3]. Về xử lý vật chứng:

      Theo quy định tại Điều 13 Nghị định 87/2018/NĐ-CP ngày 15/6/2018 của Chính Phủ; Điều 6, 7 Thông tư hướng dẫn của Bộ T9 việc đưa các vỏ chai LPG vào thị trường đến người sử dụng bằng 02 hình thức: bán vỏ hoặc ký cược vỏ chai LPG. Việc ký hợp đồng bán lẽ với các đại lý đều có thu tiền vỏ chai (người tiêu dùng chịu khoản này) nên các vỏ chai LPG không thuộc sở hữu của các Công ty thương nhân đầu mối; mà các Công ty này chỉ là chủ sở hữu mang nhãn hiệu hàng hóa đã đăng ký bảo hộ. Án sơ thẩm xác định các vỏ chai thu được là vật chứng của vụ án, nên tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước là đúng quy định tại Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự.

      Đối với xe ô tô tải biển số 62C-054.48, phía đại diện theo ủy quyền của Công ty TNHH V đề nghị nhận lại, lý do xe của Công ty và đang thế chấp Ngân hàng. Thấy rằng xe là vật chứng, phương tiện phạm tội nên án sơ thẩm tuyên tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước là đúng. Tại phiên tòa sơ thẩm, chính bị cáo G khai nhận hiện tại đã trả nợ vay xong cho Ngân hàng TMCP Q1 – Chi nhánh T10, nên việc đề nghị hủy án do không đưa Ngân hàng vào tham gia tố tụng là không cần thiết.

  6. [6]. Từ những phân tích và nhận định trên, không có căn cứ để chấp nhận kháng cáo kêu oan của các bị cáo; kháng cáo của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan - Công ty TNHH MTV Dầu khí Thành phố H, Công ty TNHH T7 liên quan đến tư cách tham gia tố tụng, trách nhiệm bồi thường dân sự và xử lý vật chứng. Quan điểm của Viện kiểm sát cấp cao đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.
  7. [7]. Về án phí hình sự phúc thẩm: Do không chấp nhận kháng cáo kêu oan, kháng cáo về trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng nên các bị cáo G, H và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan - Công ty TNHH MTV Dầu khí Thành phố H, Công ty TNHH T7 phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
  8. [8]. Các phần khác của án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực thi hành kể từ khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

VÌ CÁC LẼ TRÊN,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự;

Không chấp nhận kháng cáo kêu oan của các bị cáo Hoàng Văn G và bị cáo Chu Thị H; kháng cáo của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan - Công ty TNHH MTV Dầu khí Thành phố H, Công ty TNHH T7. Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 72/2023/HSST ngày 28 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Long An.

Tuyên xử:

  1. Tuyên bố: Các bị cáo Hoàng Văn G và Chu Thị H phạm tội “Sản xuất hàng giả”.
  2. Về hình phạt:
    1. Áp dụng: Điểm đ khoản 2 Điều 192; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 50 và Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

      Xử phạt: Bị cáo Hoàng Văn G 06 (Sáu) năm tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 03/7/2024.

    2. Áp dụng: Điểm đ khoản 2 Điều 192; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 50; Điều 58; khoản 2 Điều 54 và Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

      Xử phạt: Bị cáo Chu Thị H 03 (Ba) năm tù, nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 05 năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm 28-9-2023.

Giao bị cáo Chu Thị H cho Ủy ban nhân dân phường E1, thành phố T, tỉnh Long An để giám sát giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo Chu Thị H có trách nhiệm phối hợp với cơ quan, tổ chức, chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo Chu Thị H cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án Hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới, thì Tòa án buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 Bộ luật Hình sự.

Trong trường hợp bị cáo Chu Thị H vắng mặt tại nơi cư trú, thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật Thi hành án Hình sự năm 2019.

    1. Áp dụng: Khoản 4 Điều 192 Bộ luật Hình sự, cấm các bị cáo Hoàng Văn G và Chu Thị H hành nghề liên quan đến việc kinh doanh gas 04 năm kể từ ngày chấp hành xong bản án.
  1. Về trách nhiệm dân sự: Không chấp nhận yêu cầu bồi thường của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan Công ty TNHH MTV Dầu khí Thành phố H.
  2. Về vật chứng: Căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2021 và Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
    1. Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước 01 xe ô tô tải biển số 62C-054.48 do Công ty TNHH V đứng tên Giấy chứng nhận đăng ký xe. Không chấp nhận yêu cầu trả lại xe của Công ty TNHH V.
    2. Tịch thu sung ngân sách Nhà nước gồm: 49 chai LPG nhãn hiệu Totalgaz vỏ xám, loại 12kg (chưa dán màng co); 94 chai LPG nhãn hiệu Totalgaz vỏ xám, loại 12kg (đã dán màng co); 01 chai LPG nhãn hiệu Gia đình Gas, loại 45kg (chưa dán màng co); 11 chai LPG nhãn hiệu Elf gaz vỏ đỏ, loại 12,5kg (đã dán màng co); 37 chai LPG nhãn hiệu Sai Gon Petro, loại 12kg (đã dán màng co); 08 chai LPG nhãn hiệu Totalgaz vỏ cam, loại 12kg (đã dán màng co); 01 ấm kim loại nhãn hiệu HAIHONG.

      Không chấp nhận yêu cầu trả lại vỏ chai LPG mang các thương hiệu của các Công ty TNHH MTV Dầu khí Thành phố H; Công ty TNHH MTV K và Công ty TNHH T7.

    3. Tịch thu tiêu hủy: 01 túi nylon bên trong có chứa: 43 tem chống hàng giả nhãn hiệu Totalgaz; 38 nắp chụp màu trắng, loại nhỏ, nhãn hiệu Totalgaz; 92 nắp nhựa màu trắng, loại lớn, nhãn hiệu Totalgaz; 13 nắp nhựa màu xanh, không nhãn hiệu; 02 tem chống hàng giả, nhãn hiệu Gia đình Gas; 38 tem chống hàng giả Công ty TNHH MTV Dầu khí Thành phố H; 42 màng co nhãn hiệu Sai Gon Petro; 115 màng co nhãn hiệu Elfgaz.

      (Vật chứng và tài sản trên được Cục Thi hành án dân sự tỉnh Long An đang quản lý theo Quyết định chuyển vật chứng số: 119/QĐ-VKSLA-P1 ngày 31-7-2020 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An; Biên bản giao nhận vật chứng các ngày 22-10-2021 và 05-7-2022 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra và Cục Thi hành án Dân sự tỉnh Long An).

  3. Về án phí hình sự phúc thẩm:

    Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

    • Các bị cáo Hoàng Văn G, Chu Thị H mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí.
    • Công ty TNHH MTV Dầu khí Thành phố H, Công ty TNHH T7 mỗi Công ty phải chịu 200.000 đồng án phí.
  4. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
  5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tối cao;
  • - VKSNDCC tại TP. Hồ Chí Minh;
  • - TAND tỉnh Long An;
  • - VKSND tỉnh Long An;
  • - Cục THADS tỉnh Long An;
  • - Công an tỉnh Long An;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Long An;
  • - Trại tạm giam tỉnh Long An;
  • - Trại tạm giam tỉnh Long An;
  • (Tống đạt cho bị cáo)
  • - Lưu: HS, VP, 18bTTLH.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Chung Văn Kết

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 794/2024/HS-PT ngày 05/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về sản xuất hàng giả

  • Số bản án: 794/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Sản xuất hàng giả
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 05/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bác kháng cao
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger