TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 794/2025/HNGĐ-ST Ngày: 21/11/2025 V/v: Ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hòa
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Thông
Bà Nguyễn Thị Hạnh
- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Phương Thảo - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 6 - Hà Nội
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 - Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông Mai Lương Sơn - Kiểm sát viên.
Trong ngày 21 tháng 11 năm 2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 6 - Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình sơ thẩm thụ lý số 175/2025/TLST - HNGĐ ngày 06 tháng 8 năm 2025 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 45/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 31 tháng 10 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 46/2025/QĐST-HNGĐ ngày 12 tháng 11 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Trần Thị Tuyết L; sinh ngày 13/8/1998. CCCD số [...]. Hộ khẩu thường trú: Thôn T, xã N, huyện T, tỉnh Bắc Giang (nay là Thôn T, xã T, tỉnh Bắc Ninh). Có mặt
- Bị đơn: Anh Dương Đình Q; sinh ngày 29/8/1989. CCCD số: [...]. Hộ khẩu thường trú: Tổ dân phố G, phường B, quận H (nay là tổ dân phố G, phường C), thành phố Hà Nội. Vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Trong đơn ly hôn, bản tự khai và trong quá trình tham gia tố tụng, nguyên đơn là chị Trần Thị Tuyết L trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị Tuyết L và anh Dương Đình Q kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND phường B, quận H, thành phố Hà Nội ngày 29/12/2021.
Theo chị L trình bày: Quá trình chung sống vợ chồng phát sinh bất đồng trong mọi vấn đề của cuộc sống, nhiều mâu thuẫn, về nhiều lý do. Nhưng nguyên nhân chủ yếu do anh Q không tu chí làm ăn, hay tụ tập rượu chè, có biểu hiện sử dụng ma túy ngay tại gia đình. Việc này diễn ra khi anh chị đang sống tại nhà bố đẻ chị (ở Bắc Ninh) khiến chị rất sốc. Chị đã nói chuyện với bố mẹ đẻ anh Q. Gia đình đã khuyên can, động viên bằng nhiều cách hy vọng anh Q từ bỏ chơi bời, tu chí làm ăn nhưng không có kết quả, cuộc sống hạnh phúc gia đình không có tương lai. Tiền chi tiêu trong gia đình anh Q mặc kệ chị lo liệu, không chia sẻ, vô trách nhiệm ngay cả khi chị sinh con.
Sau khoảng thời gian dài cố gắng, chị bị kiệt quệ cả về sức khỏe, tinh thần, rơi vào tình trạng tuyệt vọng. Kể từ tháng 4/2024 anh chị sống ly thân không ai quan tâm đến ai. Anh Q bỏ về H sinh sống với bố mẹ đẻ. Chị và con chung vẫn tiếp tục ở nhà của bố đẻ chị (là ông Trần Văn T, sinh năm 1976) tại Thôn T, xã N, huyện T, tỉnh Bắc Giang (nay là Thôn T, xã T, tỉnh Bắc Ninh). Nhà rộng rãi đủ để cho mẹ con chị sinh sống an toàn, thoải mái.
Đến nay, chị thấy giữa anh chị thực sự không thể giải quyết mâu thuẫn, không còn có bất cứ sự gắn kết, chia sẻ quan tâm gì với nhau; tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống chung đã từ rất lâu không còn tồn tại, không thể tiếp tục nên chị xin được ly hôn anh Dương Đình Q để sớm ổn định cuộc sống, yên tâm làm việc nuôi dưỡng con chung.
- Về con chung: Vợ chồng anh chị có 01 con chung là Dương Trí D, sinh ngày 22/8/2022, giới tính nam. Từ nhỏ, con chung do chị trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Khi ly hôn chị tha thiết xin được trực tiếp nuôi dưỡng con chung, chị yêu cầu anh Q cấp dưỡng tiền nuôi con chung. Hiện nay chị L có công việc ổn định với mức thu nhập trên 10.000.000 đồng mỗi tháng. Chị L đã cung cấp xác nhận thu nhập cho Tòa án.
- Về tài sản chung, nợ chung: Chị trình bày vợ chồng mới kết hôn nên không có tài sản chung, không có công nợ chung và cũng không cho ai vay nợ. Chị không đề nghị Toà án giải quyết tài sản chung của vợ chồng trong vụ án này.
* Trong bản tự khai và các ý kiến trình bày trong quá trình tham gia tố tụng, bị đơn là anh Dương Đình Q trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Việc kết hôn và chung sống của anh chị đúng như chị L trình bày. Đối với yêu cầu xin ly hôn của chị L, về cơ bản anh Q mong muốn đoàn tụ để cùng nuôi con, trường hợp chị L nhất quyết xin ly hôn thì anh đề nghị Tòa hoãn việc giải quyết cho đến khi hai bên gia đình giải quyết xong vấn đề tài chính.
- Về con chung: Anh xác nhận vợ chồng có 01 con chung là Dương Trí D, sinh ngày 22/8/2022, giới tính nam, hiện con chung khỏe mạnh, phát triển bình thường. Hiện nay con chung do chị Lê trực T1 chăm sóc, nuôi dưỡng. Khi ly hôn anh Q có nguyện vọng trực tiếp nuôi dưỡng con chung.
Anh đã nhận được các văn bản, giấy tờ do Tòa án giao cho, đã được Tòa án giải thích hướng dẫn về quyền trình bày ý kiến, yêu cầu và giao nộp các tài liệu chứng minh nếu có. Tại buổi làm việc ngày 22/10/2025, anh Q chưa có giấy tờ chứng minh thu nhập để nộp cho Tòa án do Công ty A Q làm việc hẹn đến hết 30/10/2025 mới cấp được. Tuy nhiên đến ngày 21/11/2025, anh Q không nộp bất cứ tài liệu gì bổ sung, chứng minh cho ý kiến của mình.
- Về tài sản chung, nợ chung: Anh Q cam kết sẽ chuẩn bị ý kiến chi tiết đến nộp cho Tòa án chậm nhất vào ngày 30/10/2025 để bổ sung chứng cứ cho đơn yêu cầu giải quyết tài sản, công nợ chung của anh chị. Xong đến ngày 21/11/2025, anh Q không nộp bất cứ tài liệu gì bổ sung, chứng minh cho ý kiến của mình. Các giấy tờ chứng minh về tài sản, nợ chung anh Q cũng chưa có để cung cấp cho Tòa án. Bản thân anh Q cũng chưa có bất cứ yêu cầu gì gửi Tòa án để đề nghị giải quyết.
Tổ dân phố G, phường C (nơi anh Q cư trú) cung cấp: Tổ dân phố không nắm được mâu thuẫn của chị L, anh Q. Hiện nay anh Dương Đình Q đang ở cùng bố mẹ tại Tổ dân phố G, phường C, Hà Nội. Chị Lê K sinh sống cùng anh Q tại đây. Tổ dân phố không có ý kiến gì về các yêu cầu của chị L.
* Tại phiên tòa: Chị L có mặt giữ nguyên ý kiến xin ly hôn; xin được trực tiếp nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu anh Q cấp dưỡng tiền nuôi con chung; không đề nghị giải quyết về tài sản chung của vợ chồng. Anh Q vắng mặt không có lý do.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến: Quá trình giải quyết vụ án người tiến hành tố tụng, nguyên đơn, đã thực hiện đúng quyền nghĩa vụ tố tụng của mình theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn không thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình.
Căn cứ chứng cứ trong hồ sơ vụ án và lời trình bày của đương sự trong hồ sơ vụ án, có đủ căn cứ xác định mâu thuẫn vợ chồng của chị Trần Thị Tuyết L và anh Dương Đình Q đã kéo dài, đến mức trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được; đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị L về việc xin ly hôn anh Q.
Về con chung: Đề nghị giao con chung của anh chị là Dương Trí D, sinh ngày 22/8/2022, giới tính nam cho chị L trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng. Đề nghị ghi nhận sự tự nguyện của chị Lê K yêu cầu anh Q cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản: Không xem xét do các đương sự không có yêu cầu.
Về án phí: Chị Lê phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Chị Trần Thị Tuyết L nộp đơn xin ly hôn với anh Dương Đình Q (có địa chỉ đăng ký thường trú tại: Tổ dân phố G, phường B, quận H (nay là phường C) Thành phố Hà Nội. Tòa án nhân dân khu vực 6, Hà Nội thụ lý, giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền theo loại việc, theo cấp Toà án và theo lãnh thổ quy định tại khoản 1 điều 28, điều 35, điểm a khoản 1 điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 đã sửa đổi bổ sung năm 2025.
[2]. Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn có mặt, bị đơn vắng mặt nên Tòa án tiến hành xét xử vụ án theo quy định tại Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.
[3]. Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị Tuyết L và anh Dương Đình Q kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND phường B, quận H, thành phố Hà Nội ngày 29/12/2021 nên là hôn nhân hợp pháp.
Theo chị L trình bày: Quá trình chung sống vợ chồng phát sinh bất đồng trong mọi vấn đề của cuộc sống, nhiều mâu thuẫn, về nhiều lý do. Nhưng nguyên nhân chủ yếu do anh Q không tu chí làm ăn, hay tụ tập rượu chè, có
biểu hiện sử dụng ma túy ngay tại gia đình. Chị và gia đình đã khuyên can, động viên bằng nhiều cách hy vọng anh Q từ bỏ chơi bời, tu chí làm ăn nhưng không có kết quả, cuộc sống hạnh phúc gia đình không có tương lai. Đến nay, chị thấy anh chị không thể giải quyết mâu thuẫn, không còn có bất cứ sự gắn kết, chia sẻ quan tâm gì với nhau; tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống chung đã từ rất lâu không còn tồn tại, không thể tiếp tục nên chị xin được ly hôn anh Dương Đình Q để sớm ổn định cuộc sống, yên tâm làm việc nuôi dưỡng con chung.
Anh Q không đồng ý ly hôn nhưng nếu chị Lê kiên Q1 xin ly hôn thì anh cũng nhất trí.
Xét thấy mâu thuẫn của anh chị đã kéo dài, trầm trọng, tình cảm vợ chồng không có khả năng hàn gắn nên căn cứ điều 51, Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị L với anh Q.
[4]. Về con chung: Anh chị xác nhận vợ chồng có 01 con chung là Dương Trí D, sinh ngày 22/8/2022, giới tính nam, hiện con chung khỏe mạnh, phát triển bình thường. Hiện nay con chung do chị Lê trực T1 chăm sóc, nuôi dưỡng. Khi ly hôn cả chị L, anh Q đều có nguyện vọng trực tiếp nuôi dưỡng con chung.
Chị Lê cung C xác nhận thu nhập và không yêu cầu anh Q cấp dưỡng tiền nuôi con chung. Anh Q không cung cấp xác nhận thu nhập cho Tòa án.
Xét con chung còn nhỏ, hiện nay đang do chị Lê trực T1 nuôi dưỡng; chị L có thu nhập, nơi ở ổn định có thể đảm bảo ổn định tốt cho việc nuôi dưỡng con chung nên cần chấp nhận yêu cầu của chị L, giao con chung cho chị L trực tiếp nuôi dưỡng và ghi nhận sự tự nguyện của chị Lê K yêu cầu anh Q cấp dưỡng tiền nuôi con chung kể từ khi anh chị ly hôn đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc khi anh chị có thỏa thuận khác.
[5]. Về tài sản, nợ chung của vợ chồng:
Chị L trình bày vợ chồng không có tài sản chung; không có công nợ chung, không cho ai vay nợ; chị không đề nghị Toà giải quyết.
Quá trình giải quyết vụ án, trong thời hạn pháp luật quy định, anh Q không có đề nghị giải quyết về tài sản chung, nợ chung trong thời kỳ hôn nhân. Anh Q có đề nghị hoãn việc giải quyết ly hôn đến khi hai bên gia đình giải quyết xong vấn đề tài chính nhưng không cung cấp chứng cứ cụ thể thể hiện sự việc có liên quan đến việc giải quyết ly hôn của vợ chồng anh chị.
Sau phiên họp công khai chứng cứ, anh Q nộp đơn Đề nghị giải quyết khoản nợ chung trong thời kỳ hôn nhân tuy nhiên anh Q không giao nộp bất cứ tài liệu chứng cứ gì chứng minh kèm theo đơn yêu cầu; trong thời hạn cam kết tại Tòa án ngày 22/10/2025, anh Q cũng không giao nộp bất cứ tài liệu gì khác. Vì vậy, không có căn cứ xem xét giải quyết yêu cầu tại Đề nghị giải quyết khoản nợ chung trong thời kỳ hôn nhân của anh Q trong vụ án này.
Khi có căn cứ và yêu cầu giải quyết đối với tài sản chung, nợ chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân, các đương sự có quyền yêu cầu giải quyết bằng một vụ việc khác.
[6] Về án phí: Chị Trần Thị Tuyết L phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình; Điều 147; Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Trần Thị Tuyết L với anh Dương Đình Q.
Xử chị Trần Thị Tuyết L được ly hôn với anh Dương Đình Q.
2. Về con chung: Xác nhận chị Trần Thị Tuyết L và anh Dương Đình Q có 01 con chung là Dương Trí D, sinh ngày 22/8/2022, giới tính nam, hiện con chung khỏe mạnh, phát triển bình thường.
Giao chị Trần Thị Tuyết L trực tiếp nuôi dưỡng con chung là Dương Trí D, sinh ngày 22/8/2022, giới tính nam kể từ khi ly hôn đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc khi anh chị có thỏa thuận khác.
Ghi nhận sự tự nguyện của chị Trần Thị Tuyết L không yêu cầu anh Dương Đình Q cấp dưỡng tiền nuôi con chung cho đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc khi anh chị có thỏa thuận khác.
Anh Dương Đình Q được quyền thăm nom, chăm sóc giáo dục con chung theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình, các Luật khác liên quan không ai được ngăn cản.
3. Về tài sản chung, nợ chung:
Trả lại đơn Đề nghị giải quyết khoản nợ chung trong thời kỳ hôn nhân của anh Dương Đình Q.
Khi có căn cứ và yêu cầu giải quyết đối với tài sản chung, nợ chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân, các đương sự có quyền yêu cầu giải quyết bằng một vụ việc khác.
4. Về án phí: Chị Trần Thị Tuyết L phải nộp 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm (được đối trừ 300.000 đồng đã nộp tạm ứng án phí tại biên lai số 0003536 ngày 06/8/2025 tại Thi hành án dân sự thành phố Hà Nội). Xác định chị L đã nộp đủ án phí.
5. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Thu Hòa |
Bản án số 794/2025/HNGĐ-ST ngày 21/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - HÀ NỘI về ly hôn
- Số bản án: 794/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/11/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: BA 794-21.11.25 Lê Quyền (Hoa)
