|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - HÀ NỘI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 793/2025/HNGĐ-ST Ngày: 21/11/2025 V/v: Ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hòa
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Thông
Bà Nguyễn Thị Hạnh
- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Phương Thảo - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 6 - Hà Nội
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 - Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu - Kiểm sát viên.
Trong ngày 21 tháng 11 năm 2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 6 - Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình sơ thẩm thụ lý số 47/2025/TLST - HNGĐ ngày 15 tháng 7 năm 2025 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 42/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 22 tháng 10 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 45/2025/QĐST-HNGĐ ngày 12 tháng 11 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Lê Kỳ H, sinh năm 1964. HKTT: Số D, A, phường H (trước đây là phường Y, quận T), thành phố Hà Nội. CCCD số: [...]. Có mặt.
- Bị đơn: Bà Nguyễn Thị H1, sinh năm 1976. HKTT: Số D, A, phường H (trước đây là phường Y, quận T), thành phố Hà Nội. Nơi ở hiện nay: Số A, ngách A, ngõ E đường T, phường H (trước đây là phường M, quận H), thành phố Hà Nội. CCCD số: [...]. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Trong đơn ly hôn, bản tự khai và trong quá trình tham gia tố tụng, nguyên đơn là ông Lê Kỳ H trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Ông Lê Kỳ H và bà Nguyễn Thị H1 kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND phường Y, quận T, thành phố Hà Nội ngày 21/9/2005.
Theo ông H trình bày: Quá trình chung sống đến năm 2018 vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, cãi vã, bất đồng. Nguyên nhân do quan điểm sống bất đồng, thời gian làm việc khác nhau nên hai bên ít có thời gian dành cho gia đình. Ông bà đã nhiều lần tìm cách hàn gắn tình cảm nhưng không có kết quả, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng. Bà H1 đã chuyển ra ngoài thuê nhà khác sinh sống từ năm 2023, vợ chồng hiện nay sống ly thân mỗi người một nơi không ai quan tâm đến ai. Hiện nay bà H1 không sống cùng ông tại địa chỉ số D, A, phường H (trước đây là phường Y, quận T), thành phố Hà Nội.
Đến nay, ông H thấy mâu thuẫn vợ chồng đã rất trầm trọng, không thể giải quyết được. Ông xác định tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống chung không thể tiếp tục, mục đích hôn nhân không đạt được. Ông H đề nghị Tòa án giải quyết cho ông ly hôn với bà H1.
Về con chung: Ông H trình bày vợ chồng ông bà có 01 con chung là Nguyễn Ngọc M, sinh ngày 29/12/2005, giới tính nữ theo giấy khai sinh số 10/2006 do UBND phường Y, quận T, Thành phố Hà Nội cấp. Hiện con chung khỏe mạnh, phát triển bình thường và đã trưởng thành. Con chung ở với ai tùy cháu lựa chọn.
Về tài sản chung: Ông H trình bày vợ chồng ông bà không có công nợ chung, không cho ai vay nợ. Ông không đề nghị Tòa án giải quyết.
Ông H trình bày, vợ chồng ông bà đã là người trưởng thành và có nhận thức có quyết định độc lập của bản thân, đề nghị Tòa xem xét chấp nhận nguyện vọng của ông để ông sớm ổn định cuộc sống.
* Đối với bị đơn là bà Nguyễn Thị H1: Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành thủ tục tố tụng đối với bà Nguyễn Thị H1, tuy nhiên bà Nguyễn Thị H1 không đến Tòa án làm việc, không có ý kiến gửi Tòa án.
Văn bản số 503/CV-CAPHĐ ngày 21/8/2025 của Công an phường H, Hà Nội cung cấp: Công dân Nguyễn Thị H1, sinh năm 1976; căn cước công dân số [...]; HKTT: Số D, A, phường H hiện sinh sống tại: Số A, ngách A, ngõ E, đường T, phường H (trước đây là phường M, quận H), thành phố Hà Nội từ ngày 11/6/2023 đến nay.
Tổ dân phố nơi bà H1 cư trú cho biết: Bà H1 hiện nay đang thuê trọ tại phòng 603, số A, ngách A, ngõ E, đường T, phường H, thành phố Hà Nội. Bà H1 không ở cùng ông Lê Kỳ H. Tổ dân phố không nắm được bà H1 làm gì, ở đâu, hay đi đâu. Tổ dân phố không nắm được thông tin về mâu thuẫn của vợ chồng ông bà. Đề nghị Tòa giải quyết yêu cầu của ông H theo quy định của pháp luật.
* Tại phiên tòa: Ông H giữ nguyên ý kiến, bà H1 vắng mặt không có lý do.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến: Quá trình giải quyết vụ án người tiến hành tố tụng, nguyên đơn, đã thực hiện đúng quyền nghĩa vụ tố tụng của mình theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn không thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình.
Căn cứ chứng cứ trong hồ sơ vụ án và lời trình bày của đương sự trong hồ sơ vụ án, có đủ căn cứ xác định mâu thuẫn vợ chồng của ông Nguyễn Kỳ H2 và bà Nguyễn Thị H1 đã kéo dài, đến mức trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được; đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của ông H2 về việc xin ly hôn bà H1.
Về con chung: Tài liệu ông H2 cung cấp thể hiện: Vợ chồng ông Lê Kỳ H và bà Nguyễn Thị H1 có 01 con chung là Nguyễn Ngọc M, sinh ngày 29/12/2005, giới tính nữ theo giấy khai sinh số 10/2006 do UBND phường Y, quận T, Thành phố Hà Nội cấp. Hiện con chung khỏe mạnh, phát triển bình thường và đã trưởng thành nên đề nghị không xem xét việc nuôi con chung.
Về tài sản: Không xem xét do các đương sự không có yêu cầu. Khi có căn cứ và yêu cầu, các đương sự có quyền yêu cầu giải quyết bằng một vụ việc khác.
Về án phí: Ông Lê Kỳ H phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
- Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Ông Lê Kỳ H nộp đơn xin ly hôn với bà Nguyễn Thị H1 (có địa chỉ đăng ký thường trú tại: Số D, A, phường H (trước đây là phường Y, quận T), thành phố Hà Nội. Nơi ở hiện nay: Số A, ngách A, ngõ E đường T, phường H, thành phố Hà Nội nên Tòa án nhân dân khu vực 6 - Hà Nội thụ lý, giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền theo loại việc, theo cấp Tòa án và theo lãnh thổ quy định tại khoản 1 điều 28, điểm a khoản 1 điều 35, điểm a khoản 1 điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2025.
- Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn có mặt, bị đơn vắng mặt nên Tòa án tiến hành xét xử vụ án theo quy định tại Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về quan hệ hôn nhân: Ông Lê Kỳ H và bà Nguyễn Thị H1 kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND phường Y, quận T, thành phố Hà Nội ngày 21/9/2005.
- Về con chung: Tài liệu ông H xuất trình thể hiện vợ chồng ông bà có 01 con chung là Nguyễn Ngọc M, sinh ngày 29/12/2005, giới tính nữ theo giấy khai sinh số 10/2006 do UBND phường Y, quận T, Thành phố Hà nội cấp. Hiện con chung khỏe mạnh, phát triển bình thường và đã trưởng thành.
- Về tài sản, nợ chung của vợ chồng: Ông H trình bày vợ chồng không có tài sản chung; không có công nợ chung, không cho ai vay nợ; ông H không đề nghị Tòa giải quyết. Bà H1 vắng mặt trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án nên không có ý kiến trình bày, đề nghị gì khác.
- Về án phí: Ông Lê Kỳ H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định.
Theo ông H trình bày: Quá trình chung sống đến năm 2018 vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, cãi vã, bất đồng. Nguyên nhân do quan điểm sống bất đồng, thời gian làm việc khác nhau nên hai bên ít có thời gian dành cho gia đình. Ông bà đã nhiều lần tìm cách hàn gắn tình cảm nhưng không có kết quả, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng. Bà H1 đã chuyển ra ngoài thuê nhà khác sinh sống từ năm 2023, không sống cùng ông tại địa chỉ số D, A, phường H (trước đây là phường Y, quận T), thành phố Hà Nội. Ông bà sống ly thân mỗi người một nơi không ai quan tâm đến ai.
Đến nay, ông H xác định tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống chung đã từ rất lâu không còn tồn tại, không thể tiếp tục nên xin được ly hôn bà Nguyễn Thị H1. Căn cứ điều 51, Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của ông Lê Kỳ H với bà Nguyễn Thị H1.
Khi có căn cứ và yêu cầu giải quyết đối với các tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân, các đương sự có quyền yêu cầu giải quyết bằng một vụ việc khác.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào Điều 51, Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình; Điều 147; Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của ông Lê Kỳ H với bà Nguyễn Thị H1.
- Về con chung: Xác nhận ông Lê Kỳ H và bà Nguyễn Thị H1 có 01 con chung là Nguyễn Ngọc M, sinh ngày 29/12/2005, giới tính nữ theo giấy khai sinh số 10/2006 do UBND phường Y, quận T, Thành phố Hà nội cấp. Hiện con chung đã trưởng thành.
- Về tài sản chung, nợ chung: Không xem xét giải quyết do các đương sự không có yêu cầu. Khi có căn cứ và yêu cầu giải quyết đối với các tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân, các đương sự có quyền yêu cầu giải quyết bằng một vụ việc khác.
- Về án phí: Ông Lê Kỳ H phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm (được đối trừ 300.000 đồng đã nộp tạm ứng án phí tại biên lai số 0000730 ngày 15/7/2025 tại Thi hành án dân sự thành phố Hà Nội). Xác định ông H đã nộp đủ án phí.
- Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Xử ông Lê Kỳ H được ly hôn với bà Nguyễn Thị H1.
Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Thu Hòa |
Bản án số 793/2025/HNGĐ-ST ngày 21/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - HÀ NỘI về ly hôn
- Số bản án: 793/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/11/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: BA 793-21.11.25 Hung Huong (Hoa)
