|
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 792/2024/DS-PT Ngày 19 tháng 9 năm 2024. V/v: “Tranh chấp QSDĐ (chồng ranh) và yêu cầu hủy GCNQSDĐ”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
| Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: | Bà Lê Thị Tuyết Trinh |
| Các Thẩm phán: | Bà Huỳnh Thanh Duyên |
| Bà Phạm Thị Duyên |
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Mạnh Hùng - Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Gia Viễn - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 12 và 19 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm vụ án dân sự thụ lý số 419/2024/TLPT-DS ngày 25 tháng 5 năm 2024 về “Tranh chấp quyền sử dụng đất (chồng ranh) và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”. Do Bản án dân sự sơ thẩm số 177/2024/DS-ST ngày 28 tháng 3 năm 2024 của Toà án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh bị kháng cáo, kháng nghị.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 2564/2024/QĐ-PT ngày 08 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn:
- Ông Nguyễn Tấn Đ sinh năm 1958 (chết ngày 25/01/2024);
- Bà Lê Thị T sinh năm 1959; Địa chỉ: 3 (số M) N, Tổ D, Ấp A, xã N, huyện N, Thành phố Hồ Chí Minh,(vắng mặt).
Người đại diện theo ủy quyền cho bà Lê Thị T: Ông Nguyễn Đình A và bà Phạm Thị Ngọc T1; Địa chỉ liên hệ: Số A H, phường P, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh (theo giấy ủy quyền lập ngày 21/10/2022, bà T1 vắng mặt, ông Đình A vắng mặt).
* Người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của ông Nguyễn Tấn Đ gồm:
- Bà Lê Thị T sinh năm 1959 (vợ), (vắng mặt).
- Ông Nguyễn Tấn C, sinh năm 1981 (con), (vắng mặt).
- Ông Nguyễn Tấn P, sinh năm 1987 (con), (có mặt).
- Bà Nguyễn Thị Ngọc Q, sinh năm 1989 (con) (có mặt).
- Bị đơn: Bà Nguyễn Thị A1, sinh năm 1974; Địa chỉ: 5 H, Phường A, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; Tạm trú: 01 L, Phường H, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh, (vắng mặt).
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Trần Văn Đ1, sinh năm 1994; Địa chỉ: N - T - Hà Tĩnh, (theo giấy ủy quyền lập ngày 17/11/2023- có mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Nguyễn Tấn P, sinh năm 1987, (có mặt)
- Bà Trần Thị Thùy L, sinh năm 1991, (vắng mặt)
- Trẻ Nguyễn Thị Thảo N, sinh năm 2012.
- Trẻ Nguyễn Thị Thảo N1, sinh năm 2014.
Cùng địa chỉ: 3/14 (số M) N, Tổ D, Ấp A, xã N, huyện N, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo pháp luật của trẻ N và trẻ N1 có ông Nguyễn Tấn P và bà Trần Thị Thùy L.
- Ông Nguyễn Tấn C, sinh năm 1981, (vắng mặt).
- Bà Nguyễn Thị Ngọc H, sinh năm 1983, (vắng mặt).
- Bà Nguyễn Thị Ngọc T2, sinh năm 2003, (vắng mặt).
- Trẻ Nguyễn Thị Ngọc N2, sinh năm 2007.
Cùng địa chỉ: C (số M) N, Tổ D, Ấp A, xã N, huyện N, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo pháp luật của trẻ N2 có ông Nguyễn Tấn C và bà Trần Thị Ngọc H1.
- Ủy ban nhân dân huyện N, Thành phố Hồ Chí Minh; Địa chỉ: Số C N, Ấp A, xã P, huyện N, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Võ Phan Lê N3 - Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện N, Thành phố Hồ Chí Minh; (Theo giấy ủy quyền ngày 08/11/2023- có đơn xét xử vắng mặt).
- Ông Lữ M, sinh năm 1975. Địa chỉ: Số E H, Phường A, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
- Người kháng cáo: Bị đơn là bà Nguyễn Thị A1.
-Người kháng nghị: Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn cùng đại diện ủy quyền cùng thống nhất trình bày như sau:
Nguyên gia đình ông Đ được Nhà nước công nhận phần đất có tổng diện tích là 1.335/2.861m² theo GCNQSDĐ số S206858, số vào sổ cấp giấy chứng nhận: 1505QSDĐ/H-UBND do UBND huyện N cấp ngày 24/5/2001 cho hộ ông Nguyễn Tấn Đ. Trong quá trình sử dụng gia đình ông Đ đã chuyển nhượng và một phần bị Nhà nước thu hồi nên tổng diện tích còn lại là 827,15m² bao gồm:
+ Phần đất thứ nhất có diện tích 327,15m² thuộc thửa đất số 1170 = 327,15/2.861m², tờ bản đồ số 2, tọa lạc tại xã N, huyện N, Thành phố Hồ Chí Minh theo GCNQSDĐ số S206858, số vào sổ cấp giấy chứng nhận: 1505QSDĐ/H-UBND do UBND huyện N cấp ngày 24/5/2001 cho hộ ông Nguyễn Tấn Đ;
+ Phần đất thứ hai có diện tích 500m² thuộc thửa đất số 2400, tờ bản đồ số 2, tọa lạc tại xã N, huyện N, Thành phố Hồ Chí Minh theo GCNQSDĐ số AB050311, số vào sổ cấp giấy chứng nhận: H00006 do UBND huyện N cấp ngày 22/12/2004 cho ông Nguyễn Tấn Đ và bà Lê Thị T.
Do đó, việc sử dụng đất của gia đình ông Đ là liên tục, hợp pháp và được Nhà nước công nhận.
Đến đầu năm 2019 khi có nhu cầu chia đất cho các con nên ông Đ ký hợp đồng đo đạc với Trung tâm đo đạc bản đồ thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H để đo đạc lại phần đất của mình, đến ngày 29/01/2019 ông nhận được bản đồ hiện trạng vị trí ngày 29/01/2019 của Trung tâm đo đạc bản đồ thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H thì ông Đ biết được phần đất của gia đình ông bị chồng lấn với đất của bà Nguyễn Thị A1. Cụ thể đất bị chồng lấn có diện tích trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là 21,95m² nên ông Đ có gặp bà A1 để thương lượng nhưng không được, nên ông Đ đã gửi đơn giải quyết tranh chấp đến UBND xã N nhưng sự việc vẫn không được giải quyết.
Ngày 15/8/2019, ông Đ bà T làm đơn khởi kiện gửi đến Tòa án nhân dân huyện Nhà Bè để yêu cầu: “Công nhận cho gia đình ông Đ phần đất có diện tích 21,95m² nằm trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của gia đình ông Đ, kiến nghị UBND huyện N thu hồi, điều chỉnh đối với các giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bà A1".
Ngày 17/7/2023, ông P là đại diện ủy quyền của ông Đ và bà T nộp đơn bổ
sung yêu cầu khởi kiện đề nghị Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xem xét giải quyết: Tuyên hủy một phần Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BO 548241 do UBND Huyện N cấp cho bà Nguyễn Thị A1 ngày 10/10/2013 đối với phần diện tích đất 24,1m² căn cứ theo Bản vẽ số 008329/TTĐĐBĐ-VPQ7 do Trung tâm đo đạc bản đồ lập ngày 07/11/2019.
Ngày 25/01/2024 ông Nguyễn Tấn Đ chết (theo Trích lục khai tử số 11/TLKT ngày 26/01/2024 do Ủy ban nhân dân xã N cấp). Tại Đơn xác nhận lại yêu cầu khởi kiện ngày 22/3/2024 bà T và những người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của ông Đ gồm: Bà Lê Thị T sinh năm 1959 (Vợ), Ông Nguyễn Tấn C sinh năm 1981 (Con), Ông Nguyễn Tấn P, sinh năm 1987 (Con), Bà Nguyễn Thị Ngọc Q, sinh năm 1989 (Con) xác định yêu cầu khởi kiện như sau:
- Yêu cầu Tòa án công nhận quyền sử dụng đất cho gia đình chúng tôi đối với phần diện tích đất 16,4m² tại các vị trí số 11 (diện tích: 9,9m²); số 12 (diện tích: 2,1m²); số 14 (diện tích: 4,4m²) theo Bản vẽ hiện trạng vị trí áp ranh do Trung tâm đo đạc bản đồ - Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H lập ngày 07/11/2019;
- Yêu cầu Tòa án hủy bỏ một phần Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BQ548208, số vào sổ cấp GCN: CH03122 do UBND huyện N cấp ngày 10/10/2013, đăng ký biến động ngày 04/7/2016 cho bà Nguyễn Thị A1 tại các vị trí số 11 (diện tích: 9,9m²); số 12 (diện tích: 2,1m²); số 14 (diện tích: 4,4m²) theo bản vẽ hiện trạng vị trí áp ranh do Trung tâm đo đạc bản đồ - Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H lập ngày 07/11/2019.
* Bị đơn Nguyễn Thị Al có người đại diện theo ủy quyền là ông Trần Văn Đ1 cùng thống nhất trình bày như sau:
Nguyên trước đây vào năm 2013 bà A1 có chuyển nhượng phần đất diện tích 180m² thuộc thửa đất số 431, tờ bản đồ số 40, tọa lạc tại xã N, huyện N, TP . theo GCNQSDĐ số BQ548208, số vào sổ cấp GCN: CH03122 do UBND huyện N cấp ngày 10/10/2013 cho ông Lữ M và bà Nguyễn Thị A1 (cập nhật biến động ngày 04/7/2016 cho cá nhân bà Nguyễn Thị A1). Việc bà A1 nhận chuyển nhượng đất này đều hợp pháp, ngay tình theo quy định pháp luật. Ông Nguyễn Tấn Đ, bà Lê Thị T khởi kiện để yêu cầu công nhận cho họ phần đất có tổng diện tích 21,95m² (trong đó có diện tích 9,9m² nằm trùng giấy đất với ông Đ, bà T; phần đất còn lại có diện tích 12,05m² chưa được áp ranh) thì bà A1 không đồng ý với yêu cầu này.
Lý do: Phần đất có diện tích 9,9m² nằm trong phần đất có diện tích 500m² được nhà nước cấp GCNQSDĐ cho vợ chồng ông Đ, bà T trùng với phần đất có
diện tích 9,9m² nằm trong phần đất 180m² thuộc thửa đất số 431, tờ bản đồ số 40, tọa lạc tại xã N, huyện N, Thành phố Hồ Chí Minh theo GCNQSDĐ số BQ548208, số vào sổ cấp giấy chứng nhận: CH03122 do UBND huyện N cấp ngày 10/10/2013 cho ông Lữ M và bà Nguyễn Thị A1 (cập nhật biến động ngày 04/7/2016 cho cá nhân bà Nguyễn Thị A1), theo bản vẽ do Trung tâm đo đạc bản đồ thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H lập ngày 07/11/2019. Ngoài ra đối với phần đất có diện tích 12,05m² cũng nằm trùng nhưng chưa áp ranh. Trong khi tất cả phần đất tranh chấp nêu trên đều nằm trong GCNQSDĐ được tôi chuyển nhượng hợp pháp, ngay tình theo quy định của pháp luật chứ không phải tôi lấn đất của ông Đ, bà T theo đơn khởi kiện của ông Đ, bà T.
Ngày 26/11/2019, bà A1 có đơn gửi Tòa án nhân dân huyện Nhà Bè, yêu cầu: Hủy bỏ một phần các GCNQSDĐ số S206858, số vào sổ cấp giấy chứng nhận: 1505QSDĐ/H-UBND do UBND huyện N cấp ngày 24/5/2001 cho hộ ông Nguyễn Tấn Đ và GCNQSDĐ số AB050311, số vào sổ cấp giấy chứng nhận: H00006 do UBND huyện N cấp ngày 22/12/2004 cho ông Nguyễn Tấn Đ và bà Lê Thị T.
Bà A1 cho rằng: Đến thời điểm tháng 7 năm 2019 ông Đ, bà T mới nảy sinh tranh chấp ranh giới đất với bà, lợi dụng việc bà ở xa, không thường xuyên đến đất gia đình ông Đ, bà T đã xây dựng công trình xây dựng trái phép để lấn chiếm phần đất tranh chấp với bà. Đối với công trình xây dựng trái phép trên đất của bà, bà đề nghị Tòa án xác minh tại UBND xã N để xác minh sự việc. Đối với kết quả định giá của Công ty cổ phần Đ2 và đầu tư kinh doanh bất động sản, do đây là yêu cầu định giá của nguyên đơn ông Đ, bà T, chưa có sự thống nhất với bà nên bà đề nghị Tòa án thành lập Hội đồng định giá theo đúng quy định của pháp luật để việc định giá được chính xác và khách quan.
* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan gia đình ông Nguyễn Tấn P, bà Trần Thị Thùy L, trẻ Nguyễn Thị Thảo N, trẻ Nguyễn Thị Thảo N1 (Trẻ N4 và N1 có người đại diện theo pháp luật là ông P, bà L); gia đình ông Nguyễn Tấn C, bà Nguyễn Thị Ngọc H, bà Nguyễn Thị Ngọc T2, trẻ Nguyễn Thị Ngọc N2; (Trẻ Nữ có người đại diện theo pháp luật là ông C, bà H) cùng thống nhất trình bày như sau:
Ông Nguyễn Tấn P, bà Trần Thị Thùy L, trẻ Nguyễn Thị Thảo N, trẻ Nguyễn Thị Thảo N1 (Trẻ N4 và N1 có người đại diện theo pháp luật là ông P, bà L); gia đình ông Nguyễn Tấn C, bà Nguyễn Thị Ngọc H, bà Nguyễn Thị Ngọc T2, trẻ Nguyễn Thị Ngọc N2; Trẻ Nguyễn Mạnh T3 (trẻ Nữ có người đại diện theo pháp luật là ông C, bà H) là con và cháu của phía nguyên đơn, đang sinh sống tại địa chỉ đất đang tranh chấp.
Quyền sử dụng đất đang có tranh chấp nêu trên là tài sản thuộc quyền sử dụng hợp pháp của ông Nguyễn Tấn Đ, Lê Thị T, được sử dụng ổn định liên tục từ trước năm 1980 đến nay và đã được cấp giấy, chúng tôi không có bất kỳ quyền lợi nào liên quan đến quyền sử dụng đất này. Việc bị đơn bà Nguyễn Thị A1 yêu cầu Tòa án hủy một phần giấy chứng nhận của gia đình tôi là hoàn toàn không có cơ sở và trái quy định pháp luật, mong Q tòa xem xét chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và bác toàn bộ yêu cầu phản tố của bị đơn, đồng thời do bận việc và con còn nhỏ chúng tôi xin được vắng mặt toàn bộ quá trình Tòa án giải quyết vụ án và đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt chúng tôi.
* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan UBND huyện N trình bày như sau:
Liên quan đến việc tranh chấp, với tư cách là người được ủy quyền vụ án vụ án thụ lý số 105/2020/TLST-DS ngày 06 tháng 02 năm 2020 về “Tranh chấp quyền sử dụng đất” nguyên đơn ông Nguyễn Tấn Đ và bị đơn bà Nguyễn Thị A1, UBND huyện N, Thành phố Hồ Chí Minh, đề nghị Tòa án nhân dân Thành phố hòa giải, đối thoại và xét xử vắng mặt.
* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Lữ M, Tòa án đã tiến hành triệu tập, tống đạt theo quy định nhưng vẫn vắng mặt, không có ý kiến trong suốt quá trình giải quyết vụ án.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 177/2024/DS-ST ngày 28/3/2024 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, đã quyết định:
Căn cứ vào khoản 2, khoản 3 Điều 26; Điều 34; Điều 38, Điều 147, các Điều 155, 156, 157; các Điều 164, 165, 166, Điều 177, Điều 189, Điều 228, Điều 271, Điều 273, Điều 277, Điều 278 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Căn cứ Điều 49, Điều 50, Điều 129 Luật đất đai năm 2003; Điều 99, Điều 100 Luật đất đai năm 2013; Luật người cao tuổi; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Tấn Đ (chết ngày 25/01/2024) có những người kế thừa quyền, nghĩa vụ và bà Lê Thị T.
Công nhận phần đất có diện tích 12 m² tại vị trí 11 (diện tích 9,9m²), vị trí 12 (diện tích 2,1m²) theo Bản đồ hiện trạng Vị trí - Áp ranh do Trung tâm đo đạc bản đồ Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H lập ngày 07/11/2019 là thuộc quyền sử dụng của ông Nguyễn Tấn Đ (chết ngày 25/01/2024) có những người kế thừa quyền, nghĩa vụ và bà Lê Thị T. Hủy một phần Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BQ548208, số
vào sổ cấp GCN: CH03122 do UBND huyện N cấp ngày 10/10/2013, đăng ký biến động ngày 04/7/2016 cho bà Nguyễn Thị A1 đối với diện tích đất 12m² tại các vị trí 11 (diện tích 9,9m²), vị trí 12 (diện tích 2,1m²) theo bản vẽ hiện trạng vị trí áp ranh do Trung tâm đo đạc bản đồ - Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H lập ngày 07/11/2019.
Bà Nguyễn Thị A1 có nghĩa vụ liên hệ với UBND huyện N, Thành phố Hồ Chí Minh; Chi nhánh V.ĐKĐĐ huyện N, Thành phố Hồ Chí Minh và các cơ quan chức năng có thẩm quyền để thực hiện các thủ tục điều chỉnh lại ranh giới, diện tích đất trên giấy chứng nhận theo Bản đồ hiện trạng vị trí - Áp ranh do Trung tâm đo đạc bản đồ - Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H lập ngày 07/11/2019 tại các vị trí 11 (diện tích 9,9m²); số 12 (diện tích 2,1m²). Nếu bà Nguyễn Thị A1 không thực hiện thì bà Lê Thị T và những người kế thừa quyền nghĩa vụ của ông Nguyễn Tấn Đ được quyền liên hệ với các cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định pháp luật, để điều chỉnh lại ranh đất theo Bản đồ hiện trạng vị trí - Áp ranh do Trung tâm đo đạc bản đồ - Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H lập ngày 07/11/2019.
2. Không chấp nhận yêu cầu phản tố của bà Nguyễn Thị A1 về việc: Hủy bỏ một phần các GCNQSDĐ số S206858, số vào sổ cấp giấy chứng nhận: 1505QSDĐ/H-UBND do UBND huyện N cấp ngày 24/5/2001 cho hộ ông Nguyễn Tấn Đ và GCNQSDĐ số AB050311, số vào sổ cấp giấy chứng nhận: H00006 do UBND huyện N cấp ngày 22/12/2004 cho ông Nguyễn Tấn Đ và bà Lê Thị T.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về chi phí tố tụng, về án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 03/4/2024, bị đơn là bà Nguyễn Thị A1 kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm. Đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm để xét xử lại vụ án theo thủ tục chung.
Ngày 10/4/2024, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh có quyết định kháng nghị bản án sơ thẩm, đề nghị Tòa phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm để giải quyết lại theo thủ tục chung.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Bị đơn bà Nguyễn Thị A1 (do ông Trần Văn Đ1 đại diện) giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, đề nghị Hội đồng xét xử hủy bản án sơ thẩm đề giải quyết lại theo thủ tục chung.
Người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của bị đơn bảo lưu quan điểm đã trình bày ở cấp sơ thẩm, đề nghị bác kháng cáo của bị đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm:
Thông qua kiểm sát việc giải quyết vụ án, từ khi thụ lý đến thời điểm hiện nay thấy rằng Hội đồng xét xử và những người tham gia tố tụng đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, không có vi phạm.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh và kháng cáo của bà Nguyễn Thị A1; hủy bản án sơ thẩm để giải quyết lại vụ án theo thủ tục chung.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có tại hồ sơ vụ án, lời trình bày của các đương sự và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét khách quan, toàn diện và đầy đủ chứng cứ Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định như sau:
Về tố tụng:
+ Quyết định kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh và đơn kháng cáo của bà Nguyễn Thị A1 làm trong hạn luật định và hợp lệ nên được xem xét tại cấp phúc thẩm theo quy định tại Điều 273, 280 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
+ Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có kháng cáo đã được triệu tập hợp lệ lần hai nhưng vắng mặt nên căn cứ Điều 296 Bộ luật tố tụng dân sự Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt.
+ Tòa án cấp sơ thẩm xác định quan hệ tranh chấp, thời hiệu khởi kiện và thụ lý giải quyết là đúng theo quy định tại Điều 26, 34, 38 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Về nội dung:
[1] Nguyên đơn yêu cầu công nhận phần diện tích đất 16,4m² tại các vị trí số 11 (diện tích 9,9m²); số 12 (diện tích 2,1m²); số 14 (diện tích 4,4m²) theo Bản vẽ hiện trạng vị trí, áp ranh do Trung tâm đo đạc bản đồ thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H lập ngày 07/11/2019 thuộc quyền sử dụng theo giấy chứng nhận số H00006 ngày 22/12/2004, thửa 2400 do UBND Nhà Bè cấp cho nguyên đơn hộ ông Nguyễn Tấn Đ năm 2004. Và yêu cầu hủy một phần giấy chứng nhận số CH03122 ngày 10/10/2013 thửa 431 do UBND huyện N cấp cho ông Lữ M và bà Nguyễn Thị A1 đã cập nhật tên bà A1 ngày 04/7/2016 đối với diện tích 16,4m² do cấp trùng cho bị đơn bà A1.
Bị đơn bà Nguyễn Thị A1 xác định theo giấy chứng nhận cấp cho nguyên đơn năm 2004 chỉ có diện tích 9,9m² là nằm trùng với phần đất thuộc thửa 431 đã
được UBND huyện N cấp GCNQSDĐ số BO 548208 (CH03122) ngày 10/10/2013 cho bà A1, phần còn lại 12,05m² chưa được áp ranh. Do đó, bị đơn không đồng ý yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và phản tố yêu cầu hủy một phần giấy chứng nhận số H00006 ngày 22/12/2004, thửa 2400 do UBND Nhà Bè cấp cho nguyên đơn năm 2004 đối với phần đất cấp trùng.
Quá trình giải quyết vụ án các đương sự thống nhất với kết quả định giá theo Chứng thư thẩm định giá số 5481222/CT-TV ngày 31/01/2023 do nguyên đơn nộp và các bản vẽ, bản vẽ áp ranh; Cả nguyên đơn, bị đơn đều không đồng ý thực hiện việc đo vẽ, áp ranh lại theo quy định của pháp luật và đề nghị Tòa án căn cứ vào chứng thư, các bản vẽ và các tài liệu chứng cứ khác có tại hồ sơ để làm cơ sở xem xét giải quyết vụ án.
Xét:
[2] Về nguồn gốc đất, hồ sơ cấp GCNQSDĐ của nguyên đơn ông Đ, bà T; thấy rằng:
Tại Bản tường trình về nguồn gốc nhà ở, đất ở ngày 23/10/2004, Tờ khai xác định mốc thời gian sử dụng đất ngày 23/10/2004 của hộ ông Đ có xác nhận của UBND xã N: Xác định hộ ông Đ sử dụng nhà đất từ năm 1977 đến nay.
Theo tài liệu hồ sơ cấp giấy chứng nhận của hộ ông Đ, do Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai huyện N cung cấp theo yêu cầu xác minh thu thập chứng cứ của Tòa án; Theo Công văn số 550/UBND ngày 11/5/2022 và Công văn số 652/UBND ngày 01/6/2022 của UBND Xã N, huyện N, thể hiện: Năm 1977 hộ ông Nguyễn Tấn Đ có khai hoang, nhận chuyển nhượng của bà Trương Thị B một phần đất thuộc thửa 1170 tờ bản đồ số 02 (theo TL02/CT-UB) và sử dụng ổn định từ đó cho đến nay. Ngày 24/10/2000, ông Đ làm đơn xin đăng ký quyền sử dụng đất và đã được Ủy ban nhân dân và Hội đồng xét duyệt đăng ký quyền sử dụng đất xã N phê duyệt. Từ ngày 13/10/1999 đến ngày 28/10/1999, hồ sơ cấp giấy chứng nhận cho hộ ông Đ đã được niêm yết công khai tại trụ sở UBND xã N. Ngày 24/05/2001, UBND huyện N đã ban hành Quyết định số 30/QĐ-UB-ĐC cấp GCNQSDĐ số 1505QSDĐ/H-UBND với tổng diện tích là 1.335/2861m² thuộc một phần thửa 1170 cho hộ ông Đ.
Ngày 11/09/2001, ông Đ chuyển nhượng cho bà Trần Bích T4 một phần đất có diện tích 497m² và bà Trần Bích T4 đã được UBND huyện N tách thửa, cấp GCNQSDĐ vào ngày 05/12/2001. Đến năm 2004, Nhà nước thực hiện dự án mở rộng đường N ảnh hưởng đến phần đất của hộ ông Đ nên đã xác minh nguồn gốc, đo vẽ, kiểm kê diện tích đất và tài sản trên đất theo quy định của pháp luật để thực hiện thủ tục thu hồi và bồi thường cho hộ ông Đ đối với phần đất có diện tích 10,35m². Phần đất thuộc một phần thửa 1170 của hộ ông Đ còn lại là 827,15m².
Sau đó vợ chồng ông Đ bà T xin hợp thức hóa phần đất có nhà và đã được UBND huyện N cấp GCNQSDĐ SỐ H00006 ngày 22/12/2004 với diện tích 500m² thửa mới là 2400; diện tích đất còn lại thuộc một phần thửa 1170 của hộ ông Đ là 327,15m².
Cho thấy, việc UBND huyện N đã cấp GCNQSDĐ số 1505QSDĐ/H-UBND ngày 24/05/2001 với tổng diện tích 1.335m² thuộc một phần thửa 1170 và GCNQSDĐ số H00006 ngày 22/12/2004 với diện tích 500m² thửa mới số 2400 (sau khi biến động QSDĐ) cho hộ gia đình ông Đ nhằm công nhận quyền sử dụng đất mà gia đình ông Đ đã khai hoang, nhận chuyển nhượng và sử dụng ổn định không bị tranh chấp là đúng quy định của pháp luật đất đai năm 1993 và năm 2003.
[3] Về Nguồn gốc đất và hồ sơ cấp GCNQSDĐ của bị đơn bà A1:
Theo tài liệu chứng cứ do bị đơn cung cấp, hồ sơ do Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện N cung cấp cho Tòa án, thể hiện:
- Phần Nhà đất số D đường N, ấp A, xã N có diện tích đất là 180m², diện tích nhà 42,5m² thuộc thửa 431 của bà N5 được UBND huyện N cấp GCNQSDĐ số CH 02471 ngày 29/01/2013, có nguồn gốc trước đây do ông Lê Văn Nó sử dụng và được nhà nước cập nhật bổ sung trên GCNQSDĐ vào năm 2002 diện tích đất khoảng 500m². Sau đó, ông Nó chuyển nhượng một phần cho người khác, đến năm 2013 thì chủ sử dụng phần nhà đất này là bà N5.
Ngày 04/09/2013 bà N5 đã chuyển nhượng toàn bộ nhà đất trên cho ông Lữ M và bà A1. Ngày 10/10/2013, ông M và bà A1 đã được UBND huyện N cấp GCNQSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CH03122 cho nhà đất số D đường N.
- Nhà đất số D đường N, ấp A, xã N diện tích đất là 180m², diện tích nhà 42,5m² thuộc thửa 2432 (thửa 1169 cũ) của ông Trần Văn H2 và bà Nguyễn Thị Tuyết N7 được cấp GCNQSDĐ ngày 23/12/2004. Ngày 04/09/2013, ông H2 và bà N7 đã chuyển nhượng toàn bộ nhà đất này cho ông M và bà A1. Ngày 10/10/2013, ông M và bà A1 đã được UBND huyện N cấp GCNQSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CH03123 cho nhà đất số D đường N với số thửa mới là 441.
Sau đó, ông M bà A1 ly hôn, hai người thỏa thuận phân chia tài sản và Chi nhánh đăng ký văn phòng đất đai huyện N đã cập nhật tên bà Nguyễn Thị A1 là chủ sở hữu đối với nhà đất số D thuộc thửa 431 và nhà đất số 406D thuộc thửa 441 ngày 04/7/2016.
Cho thấy, bị đơn bà A1 có quyền sử dụng, quyền sở hữu đối với hai nhà đất 406C và 406D nêu trên là từ nhận chuyển nhượng và được phân chia từ tài sản chung vợ chồng với ông Lữ M.
[4] Theo bản đồ hiện trạng vị trí, áp ranh ngày 07/11/2019 của Trung tâm đo đạc bản đồ Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H lập thì phần diện tích đất chồng lấn vừa thuộc giấy chứng nhận cấp cho nguyên đơn năm 2004, vừa thuộc giấy chứng nhận cấp cho ông M, bà A1 năm 2013 đã cập nhật tên bà A1 ngày 04/7/2016 có hiện trạng được thể hiện: Tại vị trí số 11, 12 với tổng diện tích là 12m². Phần đất thể hiện tại vị trị số 14 diện tích 4,4m² không thuộc giấy chứng nhận của bà A1.
Theo Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 30/3/2021 thể hiện: Phần đất tranh chấp nhìn từ đường N vào được giới hạn bởi tường nhà và tường gạch tự xây (cao 0,5m). Trên phần đất tranh chấp do chồng ranh không có công trình trên đất, có 01 cây dừa và một phần vách tôn của nhà vệ sinh do nguyên đơn tự xây dựng tạm; Phần đất 12m² tranh chấp này hiện do gia đình nguyên đơn ông Đ đang quản lý sử dụng.
Đồng thời, như đã phân tích tại mục [2] thì phía nguyên đơn ông Đ đã được UBND huyện N công nhận và cấp giấy chứng nhận đối với phần đất 500m² thuộc thửa 2400, tờ bản đồ số 02 (trong đó bao gồm phần đất tranh chấp diện tích là 12m²) trên cơ sở nguyên đơn đã quản lý, sử dụng ổn định từ từ năm 1977 cho đến nay. Mặt khác, bị đơn không chứng minh được việc các chủ đất trước và bị đơn có quá trình quản lý, sử dụng đối với phần diện tích 12m² đất tranh chấp. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm công nhận phần diện tích tranh chấp 12m² thuộc quyền sử dụng của phía nguyên đơn và bác yêu cầu phản tố của bị đơn bà Al về hủy GCNQSDĐ do UBND Nhà Bè cấp cho hộ ông Đ năm 2004 là phù hợp với quy định của pháp luật.
Đối với phần đất có diện tích 4,4 m² tại vị trí số 14 trên bản vẽ hiện trạng, nguyên đơn không chứng minh thuộc quyền sử dụng của nguyên đơn và không đồng ý thực hiện đo vẽ, áp ranh để xác định phần đất này bị chồng lấn của thửa nào theo giấy chứng nhận nào. Nên, Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu công nhận cho nguyên đơn đối với phần diện tích 4,4m² tại vị trí số 14 là đúng quy định của pháp luật.
[5] Đối với yêu cầu hủy một phần GCNQSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BQ548208, số vào sổ cấp GCN: CH03122 do UBND huyện N cấp ngày 10/10/2013, đăng ký biến động ngày 04/7/2016 cho bà A1 tại các vị trí 11 (diện tích 9,9m²); số 12 (diện tích 2,1m²); số 14 (diện tích 4,4m²)
theo Bản vẽ hiện trạng vị trí áp ranh do Trung tâm đo đạc bản đồ - Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H lập ngày 07/11/2019; Thấy rằng:
UBND huyện N cấp GCNQSDĐ cho ông M và bà A1 năm 2013 và cập nhật cho bà A1 ngày 04/7/2016 thì trong đó có cả phần diện tích 12m² do nguyên đơn quản lý sử dụng theo CNQSDĐ được cấp năm 2004 như đã nhận định nêu trên. Nên, nguyên đơn yêu cầu hủy một phần GCNQSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BQ548208, số vào sổ cấp GCN: CH03122 do UBND huyện N cấp ngày 10/10/2013, đăng ký biến động ngày 04/7/2016 cho bà A1 tại các vị trí 11 (diện tích 9,9m²), số 12 (diện tích 2,1m²) có tổng diện tích 12m² theo Bản vẽ hiện trạng vị trí áp ranh do Trung tâm đo đạc bản đồ - Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H lập ngày 07/11/2019 là đúng quy định của pháp luật.
Tuy nhiên; theo Công văn số 837/TCQLĐĐ-CĐKĐĐ ngày 11/5/2021 của T5 thuộc Bộ T6 thì không cho phép hủy một phần GCNQSDĐ.
Mà trong trường hợp cần tuyên hủy giấy chứng nhận số BQ548208, số vào sổ cấp GCN: CH03122 do UBND huyện N cấp ngày 10/10/2013, đăng ký biến động ngày 04/7/2016 của bà Nguyễn Thị A1 để bà A1 liên hệ với Cơ quan có thẩm quyền kê khai, đăng ký cập nhật biến động cấp mới GCNQSDĐ theo quy định tại Điều 84 Nghị Định 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật đất đai và khoản 5 Điều 9 Thông tư 24/2014/TT-BTNMT ngày 19/5/2014. Đồng thời, Cơ quan có thẩm quyền cấp GCNQSDĐ căn cứ vào Bản án có hiệu lực pháp luật để điều chỉnh cập nhật biến động và cấp mới GCNQSDĐ theo quy định của pháp luật và theo Bản án cho bà Nguyễn Thị A1.
Theo đó, việc Tòa án cấp sơ thẩm tuyên hủy một phần GCNQSSĐ đã cấp cho bà Nguyễn Thị A1 nêu trên là không phù hợp với quy định của pháp luật đất đai, gây khó khăn cho quá trình thi hành án. Nên, Hội đồng xét xử sửa lại phần tuyên hủy GCNQSSĐ của Tòa án cấp sơ thẩm; Tòa án cấp sơ thẩm cần rút kinh nghiệm về tuyên hủy một phần GCNQSDĐ.
[6] Từ những nhận định và phân tích nêu trên; Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh và không chấp nhận kháng cáo của bà Nguyễn Thị A1; sửa một phần bản án sơ thẩm.
[7] Án phí dân sự phúc thẩm: Do kháng cáo không được chấp nhận nên bà Nguyễn Thị A1 phải chịu 300.000 đồng theo quy định tại Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.
[8] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 2 Điều 308, Điều 309; Điều 49, Điều 50, Điều 129 Luật đất đai năm 2003; Điều 99, Điều 100 Luật đất đai năm 2013; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Không chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh; không chấp nhận kháng cáo của bà Nguyễn Thị A1; Sửa một phần Bản án dân sự sơ thẩm số 117/2024/DS-ST ngày 28/3/2024 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
2. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Tấn Đ (chết ngày 25/01/2024) có những người kế thừa quyền, nghĩa vụ và bà Lê Thị T.
- Công nhận phần đất có diện tích 12 m² tại vị trí 11 (diện tích 9,9m²), vị trí 12 (diện tích 2,1m²) theo Bản đồ hiện trạng vị trí - áp ranh do Trung tâm đo đạc bản đồ Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H lập ngày 07/11/2019 là thuộc quyền sử dụng của ông Nguyễn Tấn Đ (chết ngày 25/01/2024) có những người kế thừa quyền, nghĩa vụ và bà Lê Thị T.
- Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BQ548208, số vào sổ cấp GCN: CH03122 do UBND huyện N cấp ngày 10/10/2013, đăng ký biến động ngày 04/7/2016 cho bà Nguyễn Thị A1.
Bà Nguyễn Thị A1 được quyền liên cơ quan nhà nước có thẩm quyền để cập nhật biến động cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật và theo Bản án.
3. Không chấp nhận yêu cầu phản tố của bà Nguyễn Thị A1 về việc: Hủy bỏ một phần các GCNQSDĐ số S206858, số vào sổ cấp giấy chứng nhận: 1505QSDĐ/H-UBND do UBND huyện N cấp ngày 24/5/2001 cho hộ ông Nguyễn Tấn Đ và GCNQSDĐ số AB050311, số vào sổ cấp giấy chứng nhận: H00006 do UBND huyện N cấp ngày 22/12/2004 cho ông Nguyễn Tấn Đ và bà Lê Thị T.
4. Án phí dân sự phúc thẩm: Bà Nguyễn Thị p nộp 300.000 đồng; được khấu trừ vào 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0032837 ngày 12/4/2014 của Cục thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh.
5. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải Thi hành án có quyền thỏa thuận Thi hành án, quyền yêu cầu Thi hành án, tự nguyện Thi hành án hoặc bị cưỡng chế Thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu Thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
6. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Tuyết Trinh |
14
Bản án số 792/2024/DS-PT ngày 19/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp qsdđ (chồng ranh) và yêu cầu hủy gcnqsdđ
- Số bản án: 792/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp QSDĐ (chồng ranh) và yêu cầu hủy GCNQSDĐ
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 19/09/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: không chấp nhận kháng nghị, kháng cáo, sửa một phần bản án sơ thẩm
