Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN HÀM THUẬN BẮC

TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 79/2024/HS-ST

Ngày: 31/7/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM THUẬN BẮC,

TỈNH BÌNH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Huyền.

Các Hội thẩm nhân dân: 1/ Ông Nguyễn Thanh Sơn.

2/ Ông Đặng Văn Minh.

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hà – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Bích T – Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 69/2024/TLST-HS ngày 21 tháng 6 năm 2024; Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 73/2024/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 7 năm 2024 đối với các bị cáo:

1/ ĐỒNG TÂM - Sinh năm 2000.

Nơi sinh: tỉnh Bình Thuận.

Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: thôn L, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận.

Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Chăm; Tôn giáo: Bà la môn.

Nghề nghiệp: Không.

Trình độ học vấn: 05/12.

Cha: Đ. Mẹ: Thông Thị S.

Tiền án: Ngày 24/5/2021, bị Toà án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc xử phạt 03 năm tù về tội “Cướp giật tài sản” tại Bản án hình sự sơ thẩm số 66/2021/HS-ST, chấp hành xong hình phạt tù ngày 09/5/2023, chưa được xoá án tích.

Tiền sự: Không.

Bị cáo hiện đang tại ngoại tại địa phương, bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

2/ THÔNG MINH NINH - Sinh năm 2000.

Nơi sinh: tỉnh Bình Thuận.

Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: thôn L, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận.

Quốc Tịch: Việt Nam; Dân tộc: Chăm; Tôn giáo: Bà la môn.

Giới tính: Nam

Nghề nghiệp: Không.

Trình độ học vấn: 01/12

Cha: Thông Sôi. Mẹ: Lâm Thị L.

Tiền án: Không.

Tiền sự: Ngày 03/01/2024, bị UBND xã H ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi trộm cắp tài sản, hình thức phạt tiền, mức phạt 2.500.000 đồng.

Bị cáo hiện đang tại ngoại tại địa phương, bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Bị hại:

  1. Ông Nguyễn Văn D, sinh năm 1971.
  2. Địa chỉ: Thôn P, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận.

  3. Bà Đặng Thị G, sinh năm 1975.
  4. Địa chỉ: Thôn P, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận.

  5. Ông Trần Văn Á, sinh năm 1970.
  6. Địa chỉ: Thôn P, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Ông Lê Chí H, sinh năm 1995.
  2. Địa chỉ: Thôn B, xã T, huyện H, tỉnh Bình Thuận.

  3. Bà Lê Thị N, sinh năm 1971.
  4. Địa chỉ: Thôn P, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận.

  5. Ông Thông Minh C, sinh năm 1979.
  6. Địa chỉ: Thôn L, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận.

Ông Lê Chí H vắng mặt – có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Tất cả những người còn lại có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Đ bị Toà án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc xử phạt 03 năm tù về tội “Cướp giật tài sản”, tại Bản án hình sự sơ thẩm số 66/2021/HS-ST ngày 24/5/2021, chấp hành xong hình phạt tù ngày 09/5/2023. Trong thời gian chưa được xóa án tích, T1 cùng Thông Minh N1, là đối tượng có tiền sự về hành vi trộm cắp tài sản tiếp tục thực hiện trộm cắp tài sản của người dân trên địa bàn xã H, cụ thể như sau:

Khoảng 22 giờ 30 phút ngày 09/01/2024, Thông Minh N1 điều khiển xe mô tô, biển số 86F9-9020 đến Ngã ba L, thuộc xã H gặp T1 thì T1 nói với N1: “đi kiếm đồ bán kiếm tiền xài”, N1 đồng ý nói: “đi”. Sau đó, N1 điều khiển xe mô tô, biển số 86F9-9020 chở T1 ngồi sau đi đến kênh nước, thuộc thôn P, xã H thì thấy có 03 cái mô tơ bơm nước để tại mép kênh gồm: 02 mô tơ hiệu LEDO PUMP, Volt 220v, Power 3HP của bà Đặng Thị G, sinh năm 1975 và ông Trần Văn Á, sinh năm 1970, cùng ở thôn P, xã H và 01 mô tơ hiệu LEDO PUMP, Volt 220v, Power 2HP của ông Nguyễn Văn D, sinh năm 1971, ở thôn P, xã H. N1 dừng xe lại rồi cùng T1 đến chỗ để mô tơ, tháo dây buộc và lấy 01 mô tơ của ông D chở đến tiệm thu mua phế liệu của bà Lê Thị N, sinh năm 1971, ở thôn P, xã H bán được 200.000 đồng. Số tiền có được từ việc bán mô tơ, T1 và N1 mua đồ ăn và nạp card chơi game hết. Sau đó, T1 và N1 quay lại tiếp tục lấy 02 mô tơ của ông Á và bà G đem cất giấu trong bụi cây gần đó rồi cả hai đi về nhà. Đến sáng ngày 10/01/2024, T1 điều khiển xe mô tô biển số 86F9-9020 đến chỗ cất giấu 02 mô tơ rồi chở đến tiệm điện cơ của anh Lê Chí H, sinh năm 1995, ở thôn B, xã T bán được 950.000 đồng. Sau đó, T1 lấy tiền đi chuộc điện thoại đã cầm thế trước đó, N1 không biết T1 đi bán mô tơ và T1 cũng không chia tiền cho N1. Ngày 10/01/2024, Công an xã H nhận được tin báo của bà Đặng Thị G, ông Trần Văn Á và ông Nguyễn Văn D về việc bị trộm cắp mô tơ. Công an xã H nghi vấn T1 và N1 đã trộm cắp nên ngày 12/01/2024 mời T1 và N1 về làm việc thì cả hai thừa nhận hành vi phạm tội của mình. Lê Chí H và Lê Thị N biết được mô tơ do N1 và T1 trộm cắp đem bán nên đã tự nguyện giao nộp 03 chiếc mô tơ trên cho Công an xã H xử lý theo quy định pháp luật.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 13/KL-HĐĐGTT ngày 21/02/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng huyện H kết luận:

  • 01 mô tơ bơm nước, hiệu LEDO PUMP, Volt 220v, Power 3HP, Flow 50m³, màu xám bạc, mua vào năm 2022, đã qua sử dụng, thời điểm định giá 09/01/2024, trị giá tài sản là 3.320.000 đồng.
  • 01 mô tơ bơm nước, hiệu LEDO PUMP, Volt 220v, Power 3HP, Flow 50m³, màu xám bạc, mua vào năm 2022, đã qua sử dụng, thời điểm định giá 09/01/2024, trị giá tài sản là 3.320.000 đồng.
  • 01 mô tơ bơm nước, hiệu LEDO PUMP, Volt 220v, Power 2HP, Flow 50m³, màu xám bạc, mua vào năm 2020 đã qua sử dụng, thời điểm định giá 09/01/2024, trị giá tài sản là 1.782.000 đồng.

Tổng giá trị tài sản là 8.422.000 đồng.

Về xử lý vật chứng:

Đối với 02 mô tơ hiệu LEDO PUMP, Volt 220v, Power 3HP và 01 mô tơ hiệu LEDO PUMP, Volt 220v, Power 2HP lần lượt do ông Trần Văn Á, bà Đặng Thị G, ông Nguyễn Văn D là chủ sở hữu. Sau khi tạm giữ và làm rõ, Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an huyện H đã ra Quyết định xử lý vật chứng, trả lại các mô tơ này cho ông Á, bà G và ông D.

Đối với xe mô tô biển số 86F9-9020, qua xác minh xác định xe do ông Phan Hồng B, sinh năm 1963, ở thôn B, xã B, huyện B đăng ký sở hữu, ông B đã bán lại xe cho một thanh niên (không rõ nhân thân). Ông Thông Minh C, sinh năm 1979, ở thôn L, xã H, huyện H (là hàng xóm của Thông Minh N1) mua lại xe này của một thanh niên (không rõ nhân thân). Ngày 09/01/2024, N1 mượn xe đi chơi, sau đó dùng xe làm phương tiện trộm cắp tài sản nhưng C không biết nên Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an huyện H đã ra Quyết định xử lý vật chứng, trả lại xe cho Thông M Cường theo quy định.

Về dân sự:

Bị hại Trần Văn Á, Đặng Thị G, Nguyễn Văn D đã nhận lại mô tơ và không yêu cầu bồi thường gì. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Lê Chí H, Lê Thị N không yêu cầu bồi thường gì.

Tại bản cáo trạng số 72/CT-VKSHTB ngày 18/6/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc truy tố các bị cáo Đồng T2, Thông Minh N1 về tội: “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: các bị cáo Đ, Thông Minh N1 đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã nêu, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng và đề nghị Hội đồng xét xử:

Về trách nhiệm hình sự: Áp dụng:

  • khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm g, h khoản 1 Điều 52, Điều 17, Điều 58 Bộ luật Hình sự. Phạt Đồng Tâm từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 06 tháng tù.
  • khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 17, Điều 58 Bộ luật Hình sự. Phạt Thông Minh N1 từ từ 01 năm đến 01 năm 03 tháng tù.

Các bị cáo nói lời sau cùng: Các bị cáo rất ăn năn, hối hận về việc mình đã làm, mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa, các bị cáo Đ, Thông Minh N1 khai nhận về hành vi phạm tội của các bị cáo đúng như Cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc đã truy tố. Xét lời khai nhận tội của các bị cáo tại Tòa phù hợp lời khai tại Cơ quan điều tra Công an huyện H, biên bản xác định hiện trường, các tài liệu chứng cứ khác có tại hồ sơ và được thẩm tra tại phiên tòa. Đủ căn cứ pháp luật để khẳng định: Khoảng 22 giờ 30 phút ngày 09/01/2024, Thông Minh N1 điều khiển xe mô tô biển số 86F9-9020 chở Đ ngồi phía sau đến khu vực kênh nước, thuộc thôn P, xã H lấy trộm 01 mô tơ bơm nước, hiệu LEDO PUMP, Volt 220v, Power 2HP (trị giá 1.782.000 đồng) của ông Nguyễn Văn D đem đến bán cho Lê Thị N lấy số tiền 200.000 đồng dùng tiêu xài. Sau đó, T2, N1 tiếp tục quay lại lấy 02 mô tơ hiệu LEDO PUMP, Volt 220v, Power 3HP của bà Đặng Thị G và ông Trần Văn Á (trị giá mỗi mô tơ 3.320.000 đồng) đem cất giấu. Sáng ngày 10/01/2024, T2 điều khiển xe mô tô biển số 86F9-9020 đến chở 02 mô tơ này đem bán cho Lê Chí H được số tiền 950.000 đồng dùng tiêu xài cá nhân mà không chia tiền cho N1. Tổng giá trị tài sản mà T2, N1 chiếm đoạt qua định giá là 8.422.000 đồng.

Hành vi của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận truy tố bị cáo về tội danh và điều luật áp dụng là hoàn toàn có căn cứ, đúng pháp luật.

[3] Xét tính chất, mức độ phạm tội của các bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng: Các bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết được hành vi của mình là xâm phạm tài sản của người khác, là vi phạm pháp luật. Tuy nhiên, vì lười lao động, thích hưởng thụ nhưng muốn có tiền tiêu xài cá nhân nên các bị cáo đã nảy sinh ý định trộm cắp tài sản của người khác. Đây là vụ án đồng phạm có tính chất giản đơn. Cả hai có sự thống nhất cao về ý chí, cùng phối hợp thực hiện hành vi trộm cắp. Trong vụ án, bị cáo T2 thể hiện vai trò tích cực hơn so với bị cáo còn lại. Bị cáo T2 đóng vai trò khởi xướng, là người thực hành, người sử dụng số tiền bán được tài sản trộm cắp nhiều hơn cả; bị cáo N1 đóng vai trò đồng phạm giúp sức tích cực cho bị cáo T2 thực hiện hành vi phạm tội, cùng sử dụng một phần số tiền bán được tài sản trộm cắp. Do đó, Hội đồng xét xử sẽ cân nhắc khi lượng hình đối với từng bị cáo.

Hành vi phạm tội của các bị cáo gây bất bình, mất an ninh trật tự tại địa phương là nguy hiểm cho xã hội, tạo tâm lý hoang mang trong nhân dân về việc giữ gìn tài sản nên cần thiết phải xử phạt các bị cáo mức án nghiêm khắc.

[4] Xét tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Các bị cáo Đ, Thông Minh N1 phạm tội 02 lần trở lên. Bị cáo Đ đã bị kết án, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý là tái phạm. Hội đồng xét xử sẽ cân nhắc khi lượng hình đối với các bị cáo.

[5] Xét tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra, tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Do đó, Hội đồng xét xử sẽ xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo.

[6] Về hình phạt: Căn cứ vào tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, nhân thân của từng bị cáo, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử xét thấy: Các bị cáo đều có nhân thân xấu (T2 có tiền án, N1 có tiền sự), nhưng cả hai bị cáo không hề nhận ra hành vi sai trái của mình, không tu dưỡng bản thân, tu chí làm ăn mà tiếp tục phạm tội. Điều này thể hiện thái độ xem thường pháp luật, kỷ cương xã hội của các bị cáo. Do đó, cần thiết phải lên cho các bị cáo mức án nghiêm khắc tương xứng với hành vi và hậu quả do các bị cáo gây ra, cách ly các bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục và phòng ngừa chung.

Đối với mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị đối với các bị cáo, Hội đồng xét xử sẽ xem xét quyết định khi lượng hình.

[7] Về xử lý vật chứng:

Cơ quan Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an huyện H đã xử lý xong, đúng quy định pháp luật.

[8] Về trách nhiệm dân sự:

Sau khi nhận lại tài sản, các bị hại Trần Văn Á, Đặng Thị G, Nguyễn Văn D không yêu cầu bồi thường gì. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Lê Chí H, Lê Thị N cũng không yêu cầu bồi thường.

Do không ai có yêu cầu bồi thường gì về dân sự nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[9] Về các vấn đề khác:

Đối với Lê Thị N và Lê Chí H là những người thu mua phế liệu, sửa chữa mô tơ đã mua mô tơ do Đ, Thông Minh N1 trộm cắp mà có nhưng khi mua N, H không biết tài sản đem bán có nguồn gốc phạm pháp nên không phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” quy định tại Điều 323 Bộ luật Hình sự.

Các bị cáo Đồng T2 và Thông Minh N1 phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, Điểm g, h khoản 1 Điều 52, Điều 17, Điều 58 Bộ luật Hình sự (đối với Đ).

Căn cứ vào khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, Điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 17, Điều 58 Bộ luật Hình sự (đối với Thông Minh N1).

Căn cứ vào Điều 331 và Điều 333 Bộ luật tố tụng Hình sự.

Căn cứ vào Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên bố: Các bị cáo Đ, Thông Minh N1 đều phạm tội "Trộm cắp tài sản".

Xử phạt:

Đ (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày chấp hành án.

Thông Minh Ninh 01 (một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày chấp hành án.

Về án phí: Các bị cáo Đồng T2, Thông Minh N1 mỗi người phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo đối với bản án:

Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai tại địa phương.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Thuận;
  • - VKSND tỉnh Bình Thuận;
  • - Sở tư pháp;
  • - VKSND huyện HTB;
  • - Công an huyện HTB;
  • - Chi cục THADS huyện HTB;
  • - Cơ quan THAHS huyện HTB;
  • - Bị cáo; những người tham gia tố tụng khác;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Thanh Huyền

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Nguyễn Thanh Sơn Đặng Văn Minh

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Thanh Huyền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 79/2024/HS-ST ngày 31/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM THUẬN BẮC, TỈNH BÌNH THUẬN về hình sự (trộm cắp tài sản)

  • Số bản án: 79/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Trộm cắp tài sản)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 31/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM THUẬN BẮC, TỈNH BÌNH THUẬN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger