Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ĐẮK MIL

TỈNH ĐẮK NÔNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 61/2024/HS-ST

Ngày 05 - 9 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẮK MIL

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hải Âu;

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trương Văn Cường và ông Nguyễn Duy Chấn;

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Vân Anh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đắk Mil.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông tham gia phiên tòa: Bà Niê Đoan Trinh – Kiểm sát viên.

Ngày 05/9/2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Đắk Mil mở phiên toà xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 60/2024/HS-ST, ngày 05/8/2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 66/2024/QĐXXST-HS, ngày 16/8/2024; Quyết định hoãn phiên toà số 34/2024/HSST-QĐ ngày 28 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Phạm Thị T, sinh năm 1984 tại tỉnh Đắk Nông; Nơi đăng ký HKTT: Thôn T, xã T, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông. Nơi cư trú: Thôn A, xã Đ, huyện T, tỉnh Đắk Nông; Nghề nghiệp: Điều Dưỡng; Trình độ học vấn: 12/12; Giới tính: Nữ; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Thiên chúa giáo; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Phạm H, sinh năm 1963 và bà Hồ Thị N, sinh năm 1963; Chồng là Đỗ Văn H1, sinh năm 1983 và 02 con (con lớn sinh năm 2010, con nhỏ sinh năm 2015); Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo được áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú và Tạm hoãn xuất cảnh từ ngày 17/5/2024. Bị cáo đang tại ngoại – Có mặt.

Bị hại: Ông Vừ Vạ S (đã chết).

Người đại diện hợp pháp của bị hại: Vừ Nhịa P, sinh năm 1995 – Vắng mặt.

Địa chỉ: Thôn N, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông.

Những người tham gia tố tụng khác:

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

1/ Anh Vừ Nhịa P1, sinh năm 1995 – Vắng mặt.

Địa chỉ: Thôn N, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Phạm Thị T có giấy phép lái xe hạng A1, do Sở giao thông vận tải tỉnh Đ cấp ngày 18/11/2015. Vào khoảng 17 giờ 16 phút ngày 17/01/2024, tại Km 1843 + 200m đường H (Quốc lộ A) thuộc thôn T, xã T, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông, Phạm Thị T điều khiển xe mô tô biển số 48E1 - 197.66 từ nhà bố mẹ đẻ ở bên trái đường (theo hướng từ huyện Đ đi huyện Đ), chuyển hướng sang bên phải đường để đi về hướng huyện Đ, khi Phạm Thị T điều khiển xe đi từ vỉa hè ra đường H (Quốc lộ A) để chuyển hướng sang bên phải đường, do không chú ý quan sát nên không phát hiện ông Vừ Vạ S điều khiển xe mô tô biển số 48D1 - 171.25 đi từ huyện Đ về huyện Đ, chở theo sau ông Sùng Mí N1 dẫn đến xe mô tô biển số 48D1 - 171.25 do ông Vừ Vạ S điều khiển đã tông vào phần thân bên trái xe mô tô biển số 48E1 - 197.66 do Phạm Thị T điều khiển làm 02 xe và người ngã ra đường. Hậu quả làm ông Vừ Vạ S tử vong, Phạm Thị T bị thương, còn ông Sùng Mí N1 không bị thương tích gì, 02 xe mô tô bị hư hỏng.

* Kết quả xét nghiệm nồng độ cồn của Phạm Thị T: định lượng cồn trong máu là 00 mmol/l.

* Kết quả khám nghiệm hiện trường: Hiện trường nơi xảy ra vụ tai nạn giao thông là đoạn đường Km 1843 + 200m đường H (Quốc lộ A) thuộc thôn T, xã T, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông. Lấy mép đường bên phải theo hướng từ huyện Đ đi huyện C làm mép đường chuẩn, lấy cột điện số T38/B-14 nằm trong lề đường chuẩn làm điểm mốc để cố định hiện trường (ký hiệu ĐM). Lấy chiều hướng từ huyện Đ đi huyện C làm chiều hướng khám nghiệm. Đây là đoạn đường thẳng, không có vật cản, tầm nhìn không bị hạn chế, mặt đường trải nhựa rộng 11m. Trên mặt đường có vạch sơn màu vàng đứt quãng rộng 0,15m phân chia đường thành 02 chiều đường, ở mỗi chiều đường có vạch sơn liền màu trắng rộng 0,2m phân chia thành 02 làn đường, 01 làn đường dành cho xe cơ giới, 01 làn đường dành cho xe thô sơ và người đi bộ. Trong đó, làn đường dành cho xe thô sơ và người đi bộ rộng 1,9m. Hai bên đường là khu dân cư.

Tiến hành khám nghiệm hiện trường phát hiện, ghi nhận vị trí phương tiện và dấu vết sau:

- 01 dấu vết chà trượt, trầy xước trên mặt đường bên phải, kích thước 1,2m x 6,4m, điểm đầu cách mép chuẩn 1,02m, cách ĐM 15,6m, cách trục trước xe mô tô biển số 48E1 - 197.66 là 05m. Điểm cuối cách mép chuẩn 1,23m, cách ĐM 12,1m. Đây là dấu vết chà trượt, trầy xước do mặt ngoài các bộ phận của xe mô tô biển số 48D1 - 171.25 và 48E1-197.66 ma sát với mặt đường tạo nên, được ký hiệu (1) trên sơ đồ.

- Xe mô tô biển số 48E1 - 197.66 nằm ngã nghiêng bên phải trên mặt đường bên phải, đầu xe hướng về huyện Đ, đuôi xe hướng về huyện C. Trục trước cách mép chuẩn 1,7m, cách ĐM 13,2m, cách điểm cuối vết số (1) 1,55m. Trục sau cách mép chuẩn 2,73m, cách ĐM 13m. Được ký hiệu xe số (1) trên sơ đồ.

- Xe mô tô biển số 48D1 - 171.25 nằm ngã nghiêng bên phải trên mặt đường bên phải, đầu xe hướng về huyện Đ, đuôi xe hướng về huyện C. Trục trước nằm đè lên trên xe mô tô biển số 48E1 - 197.66, cách mép chuẩn 1,8m, cách ĐM 12,85m, cách trục trước xe (1) 0,7m. Trục sau cách mép chuẩn 1,55m, cách ĐM 12,3m, cách trục sau xe (1) 0,55m. Được ký hiệu xe số (2) trên sơ đồ.

- 01 (một) dấu vết máu trên mặt đường bên phải, kích thước 1,5m x 2,9m, tâm vết máu cách mép chuẩn 1,65m, cách ĐM 12,2m, cách trục sau xe (1) 2,4m. Được ký hiệu (VM) trên sơ đồ.

- Căn cứ vào vị trí của phương tiện, các dấu vết có trên hiện trường, xác định tại vị trí trên mặt đường bên phải, cách mép chuẩn 1,6m, cách ĐM 15,9m, cách điểm đầu vết số (1) 01m, cách trục trước xe (1) 06m, cách trục trước xe (2) 6,7m, cách trục sau xe (2) 7,5m, cách tâm vết máu 8,6m, là điểm va chạm đầu tiên tương ứng với mặt đường giữa xe mô tô biển số 48E1 - 197.66 với xe mô tô biển số 48D1 - 171.25.

* Kết quả khám phương tiện

- Tiến hành khám nghiệm xe mô tô biển số 48D1 - 171.25, theo hướng từ trước ra sau, từ trên xuống dưới, quy ước mô tả theo hướng ngồi của người điều khiển. Ghi nhận xe có các dấu vết liên quan đến vụ việc tai nạn giao thông như sau:

  • + Mặt nạ phía trước đầu xe bị bể vỡ trong kích thước 20cm x 20cm.
  • + Phần dè chắn bùn phía trước bị gãy rời, không còn ở vị trí ban đầu.
  • + Trục trước của xe bị gãy rời khỏi vị trí ban đầu, lệch về bên phải 10cm.
  • + Hệ thống đèn chiếu sáng ở đầu xe bị bể vỡ, bung bật trong kích thước 15cm x 20cm.
  • + Phần mặt nạ gắn liền với yếm chắn gió bên phải bị trầy xước, bung bật trong kích thước 60cm x 40cm.
  • + Bánh xe phía trước bị gãy, vỡ trong kích thước 20cm x 05cm.

- Tiến hành khám nghiệm xe mô tô biển số: 48E1 - 197.66 theo hướng từ trước ra sau, từ trên xuống dưới, quy ước mô tả theo hướng ngồi của người điều khiển. Ghi nhận xe có các dấu vết liên quan đến vụ việc tai nạn giao thông như sau:

  • + Hệ thống đèn chiếu sáng phần đầu xe bị bể vỡ, bung bật trong kích thước 30cm x 20cm.
  • + Phần đèn chuyển hướng bên trái trước đầu xe bị bể vỡ trong kích thước 30cm x 06cm.
  • + Yếm chắn gió bên trái phía trước bị trầy xước, bung bật trong kích thước 20cm x 05cm.
  • + Phần vỏ đầu xe bị bể vỡ, bung bật trong kích thước 50cm x 10cm.
  • + Phần vỏ thân xe bên trái bị bể vỡ, bung bật trong kích thước 50cm x 30cm.
  • + Cần đạp số bên trái, phía trước bị cong vênh xuống dưới, lệch so với vị trí ban đầu 06cm.
  • + Gác để chân bên trái, phía trước bị cong vênh về phía sau, lệch so với vị trí ban đầu 05cm.
  • + Mặt ngoài tay lái bên trái bị trầy xước, mài mòn trong kích thước 3cm x 05cm.
  • + Mặt ngoài tay xách phía sau, bên phải bị trầy xước, mài mòn trong kích thước 02cm x 03cm.
  • + Mặt ngoài ốp ống bô của xe bị trầy xước, mài mòn trong kích thước 06cm x 05cm.
  • + Gác để chân phía sau bên phải bị trầy xước, mài mòn trong kích thước 02cm x 03cm.
  • + Vỏ thân xe bên phải gắn liền với yếm chắn gió bị bể vỡ, bung bật trong kích thước 70cm x 50cm.
  • + Mặt ngoài tay lái bên phải bị trầy xước, mài mòn trong kích thước 03cm x 03cm.
  • + Tay thắng bên phải bị gãy, trầy xước trong kích thước 03cm x 02cm.

* Tại bản kết luận giám định tử thi số 28/KLGĐTT-TTPY, ngày 05/02/2024 của Trung tâm pháp y thuộc Sở y tế tỉnh Đ kết luận ông Vừ Vạ S bị:

  1. Các kết quả chính:
    • Kết quả khám nghiệm: Vỡ xương hộp sọ vùng trán đỉnh hai bên.
    • Kết quả xét nghiệm, giám định khác: Không.
    • Kết quả khác: Không.
  2. Kết luận:
    • Kết luận nguyên nhân chết: Chấn thương sọ não.
    • Kết luận khác:
      • + Tổn thương vùng đầu qua kiểm tra vết sây sát, bầm tím da vùng trán thấy bầm tụ máu dưới da cơ, làm vỡ xương hộp sọ của Vừ Vạ S do bị va đập với lực rất mạnh và tác động trực tiếp với vật tày gây nên.
      • + Các vết sưng nề, bầm tím da vùng mặt, hai tay và chân trái do bị va đập với vật tày tác động trực tiếp gây nên.

* Tại bản kết luận định giá tài sản số 11/KL-HĐĐGTS, ngày 26/02/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Đ, tỉnh Đắk Nông kết luận: thiệt hại của xe mô tô biển số 48D1 - 171.25 là 3.500.000 đồng.

Bản cáo trạng số 59/CT-VKS (ĐM) ngày 05/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Mil truy tố bị cáo Phạm Thị T về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 của BLHS.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Mil giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Phạm Thị T về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a, khoản 1, Điều 260 Bộ luật hình sự.

Sau phân tích các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đại diện VKS đề nghị HĐXX tuyên bố bị cáo Phạm Thị T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của BLHS, xử phạt bị cáo Phạm Thị T từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 02 năm đến 03 năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Về vật chứng: Áp dụng khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự đề nghị:

  • + Chấp nhận việc Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ đã trả lại: xe mô tô biển số 48D1 - 171.25; xe mô tô biển số 48E1 - 197.66; giấy đăng ký xe mô tô biển số 48D1 - 171.25 cho các chủ sở hữu hợp pháp.
  • + Trả lại giấy phép lái xe hạng A1, tên Phạm Thị T cho bị cáo.
  • * Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã bồi thường 65.000.000 đồng cho đại diện theo pháp luật của bị hại. Đại diện theo pháp luật của bị hại không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì thêm và có đơn bãi nại. Ông Sùng Mí N1 không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thiệt hại.

Bị cáo Phạm Thị T xin HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo được hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Tại phiên tòa, bị cáo Phạm Thị T khai nhận: Vào khoảng 17 giờ 16 phút ngày 17/01/2024, tại Km 1843 + 200m đường H (Quốc lộ A) thuộc thôn T, xã T, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông, Phạm Thị T (là người có giấy phép lái xe hạng A1, do Sở giao thông vận tải tỉnh Đ cấp ngày 18/11/2015) điều khiển xe mô tô biển số 48E1 - 197.66 chuyển hướng đi từ bên trái đường sang bên phải đường (theo hướng từ huyện Đ đi huyện Đ), do không chú ý quan sát, không bảo đảm an toàn khi chuyển hướng, vi phạm Điều 15 Luật Giao thông đường bộ dẫn đến va chạm với xe mô tô biển số 48D1 - 171.25 do ông Vừ Vạ S điều khiển đi theo hướng từ huyện Đ đi huyện C. Hậu quả làm ông S tử vong do chấn trương sọ não, xe mô tô biển số 48D1 - 171.25 bị hư hỏng, thiệt hại 3.500.000 đồng. Hành vi của bị cáo Phạm Thị T đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” tại điểm a khoản 1 Điều 260 của BLHS.

Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Mil truy tố bị cáo Phạm Thị T về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 của BLHS là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Điều 260 của Bộ luật Hình sự quy định:

1. Người nào tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho người khác thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

a) Làm chết người;

[3]. Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo là người có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự; trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; bị cáo đã bồi thường cho gia đình bị hại số tiền 65.000.000 đồng, đại diện hợp pháp của bị hại có đơn bãi nại cho bị cáo. Do đó, bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

4]. Về tình tiết tăng nặng: Không.

[5]. Xét tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo Hội đồng xét xử xét thấy: Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, xâm phạm đến trật tự an toàn giao thông đường bộ, gây thiệt hại đến tài sản, sức khỏe và tính mạng của người khác, gây tâm lý hoang mang trong quần chúng nhân dân khi tham gia thông đường bộ, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương. Bị cáo thừa biết rằng khi điều khiển phương tiện tham gia giao thông không chấp hành đúng quy định pháp luật về giao thông đường bộ là nguy hiểm cho những người và phương tiện khác tham gia giao thông khác, nhưng do không tuân thủ quy định khi tham gia giao thông, khi đi qua đường bị cáo không quan sát dẫn đến va chạm với xe máy đi ngược chiều. Hậu quả làm ông Vừ V Sính chết do chấn thương sọ não, vì vậy bị cáo phải chịu trách nhiệm về hành vi mình đã gây ra.

Hội đồng xét xử xét thấy, bị cáo có các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự và không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 52 của Bộ luật hình sự; bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, ngoài lần vi phạm pháp luật này không có vi phạm nào khác, bị cáo đủ điều kiện được hưởng án treo theo hướng dẫn tại Điều 2 của Nghị quyết số: 02/2018/NQ-HĐTP, ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao. Do đó, Hội đồng xét xử thấy cần áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự và không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà chỉ cần giao bị cáo cho chính quyền địa phương và gia đình nơi bị cáo cư trú trực tiếp giám sát, giáo dục là đủ, tạo điều kiện cho bị cáo trở thành công dân tốt, thể hiện sự khoan hồng của nhà nước và pháp luật.

[6]. Về trách nhiệm dân sự: Trong quá trình điều tra, bị cáo đã bồi thường cho đại diện theo pháp luật của bị hại 65.000.000 đồng và đại diện theo pháp luật của bị hại không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thêm. Xét thấy, việc thỏa thuận bồi thường giữa bị cáo và gia đình bị hại là tự nguyện, phù hợp với quy định của pháp luật nên HĐXX chấp nhận.

[7]. Về vật chứng của vụ án: Đối việc Cơ quan CSĐT Công an huyện Đ đã trả xe mô tô biển số 48D1 - 171.25 và 01 giấy đăng ký xe mô tô biển số 48D1 - 171.25 cho ông Vừ Nhị P2; trả xe mô tô biển số 48E1 - 197.66 cho bị cáo Phạm Thị T là phù hợp với quy định của pháp luật nên HĐXX chấp nhận.

Đối với 01 giấy phép lái xe hạng A1, tên Phạm Thị T không liên quan đến hành vi phạm tội nên cần trả lại cho bị cáo.

[8]. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự theo quy định của pháp luật

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Phạm Thị T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Phạm Thị T 01 năm 06 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 03 năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm ngày 05/9/2024.

Giao bị cáo Phạm Thị T cho Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện T, tỉnh Đắk Nông và gia đình bị cáo phối hợp, giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Trong trường hợp thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định khoản 1 Điều 92 Luật thi hành án Hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

2. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 của BLHS; Điều 584, 585, 586, 589 và 591 của Bộ luật Dân sự: Chấp nhận việc bị cáo đã bồi thường cho người đại diện hợp pháp của bị hại số tiền 65.000.000 đồng (Sáu mươi lăm triệu đồng).

3. Về vật chứng của vụ án: Áp dụng khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự: Chấp nhận Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ đã trả lại mô tô biển số 48D1 - 171.25 và 01 giấy đăng ký xe mô tô biển số 48D1 - 171.25 cho ông Vừ Nhị P2; trả 01 xe mô tô biển số 48E1 - 197.66 cho bị cáo Phạm Thị T.

Trả lại giấy phép lái xe hạng A1mang tên Phạm Thị T cho bị cáo Phạm Thị T (theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 05/8/2024 tại Tòa án nhân dân huyện Đắk Mil).

4. Về án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật tố tụng Hình sự; áp dụng Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Phạm Thị T phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí Hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo toàn bộ bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Người đại diện hợp pháp của bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo toàn bộ bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt bản án hợp lệ.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo nội dung liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Nông
  • - Sở tư pháp tỉnh Đắk Nông;
  • - VKSND huyện Đắk Mil;
  • - Cơ quan điều tra CA huyện Đắk Mil;
  • - Cơ quan THAHS CA huyện Đắk Mil;
  • - Nhà tạm giữ CA huyện Đắk Mil;
  • - Bộ phân nghiệp vụ CA huyện Đắk Mil;
  • - Chi cục THADS huyện Đắk Mil;
  • - Bị cáo; đại diện bị hại;
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
  • - Lưu hồ sơ.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

(Đã ký và đóng dấu)

Nguyễn Thị Hải Âu

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 61/2024/HS-ST ngày 05/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẮK MIL TỈNH ĐẮK NÔNG về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ

  • Số bản án: 61/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 05/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẮK MIL TỈNH ĐẮK NÔNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger