TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẾN LỨC TỈNH LONG AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 79/2024/HS-ST
Ngày: 30-7-2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẾN LỨC, TỈNH LONG AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đặng Thị Nga
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Tống Văn Truyền
- Ông Trần Văn Tươi
- Thư ký phiên tòa: Bà Lại Thị Anh Thư – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bến Lức, tỉnh Long An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bến Lức, tỉnh Long An tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Xuân Hương - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bến Lức, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 78/2024/TLST-HS ngày 04 tháng 7 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 79/2024/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 7 năm 2024 đối với các bị cáo:
- Nguyễn Nhựt H (tên gọi khác: Không), sinh năm 2001, tại tỉnh Đồng Tháp; Nơi đăng ký thường trú và chỗ ở: Số D, ấp A, xã Đ, huyện L, tỉnh Đồng Tháp; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 06/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Thanh Đ, sinh năm 1977 và bà Đỗ Thị Hồng Â, sinh năm 1978; Bản thân bị cáo chưa có vợ, con; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo tại ngoại điều tra đến ngày 17/7/2024 bị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện C bắt tạm giam cho đến nay (có mặt).
Nhân thân:
Ngày 17/7/2024 bị Công an huyện C, tỉnh Long An ra Quyết định khởi tố bị can số 43/QĐ-ĐTTH ngày 17/7/2024 về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
- Nguyễn Thị Thu N (tên gọi khác: Không), sinh năm 2002, tại tỉnh Long An; Nơi đăng ký thường trú: Số D ấp B, xã T, huyện C, tỉnh Long An; Chỗ ở: Ấp A, xã L, huyện B, tỉnh Long An; Nghề nghiệp: Công nhân; Trình độ học vấn: 09/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: nữ; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Phạm Thành T, sinh năm 1972 và bà Nguyễn Thị Đ1, sinh năm 1970; Bản thân bị cáo chưa có chồng, con; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo tại ngoại điều tra cho đến nay (có mặt).
Nhân thân:
Ngày 17/7/2024 bị Công an huyện C, tỉnh Long An ra Quyết định khởi tố bị can số 44/QĐ-ĐTTH ngày 17/7/2024 về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Bị hại: Ông Nguyễn Thành Đ2, sinh năm 2003 (có mặt)
Địa chỉ: Ấp G, xã L, huyện B, tỉnh Long An
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Nhựt H và Nguyễn Thị Thu N sống chung như vợ chồng và làm công nhân tại Công ty L (Công ty) trong Khu công nghiệp P, Ấp C, xã A, huyện B, tỉnh Long An. Khoảng 17 giờ 30 phút ngày 27/02/2024, H và N nghỉ giữa buổi nên ra bãi xe Công ty lấy xe đi mua cơm thì N thấy xe mô tô Airblade biển số 62N1-45977 của anh Nguyễn Thành Đ2 đang đậu trong bãi xe, có chìa khóa cắm vào ổ khóa, nên N rủ H trộm tài sản thì H đồng ý. Nguyệt đi lại và mở cốp xe 62N1-45977 thấy bên trong cốp có 02 cái bóp (một cái bóp nam màu đen, một cái bóp nam sọc ca rô màu xanh đen), H lấy 01 cái bóp sọc ca rô màu xanh đen cầm trên tay, còn N lấy cái bóp đen cầm trên tay và đóng cốp xe lại, H và N lấy xe chạy về nhà trọ. Trên đường đi Hào kiểm tra 02 bóp vừa trộm được thì trong bóp sọc ca rô màu xanh đen có 2.000.000đ (gồm 04 tờ tiền Việt Nam mệnh giá 500.000₫), còn trong bóp màu đen có 100.000đ (gồm 01 tờ mệnh giá 50.000đ, 02 tờ mệnh giá 20.000đ, 01 tờ mệnh giá 10.000₫), sau khi kiểm tra xong H lấy tiền đưa cho N giữ, rồi vứt 02 cái bóp vào lề đường, số tiền trộm được H và N tiêu xài cá nhân hết. Đến 22 giờ cùng ngày, sau khi tan ca lấy xe về thì Đ2 phát hiện mất 02 bóp da bên trong có 2.100.000 đồng cất trong cóp xe. Đến ngày 16/3/2024, anh Đ2 đến Công an xã A trình báo, đến ngày 17/3/2024, H và N được Công an xã A mời về làm việc thì khai nhận hành vi trộm cắp tài sản ngày 27/02/2024 tại Công ty L. Công an xã A tiếp nhận đơn và chuyển Công an huyện B giải quyết theo thẩm quyền. Đối với 02 bóp da CQĐT tiến hành truy tìm vật chứng nhưng không tìm thấy.
Tại Kết luận định giá tài sản số 13/KL-HĐĐG ngày 28/3/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện B, định giá và kết luận: 01 cái bóp nam màu đen; 01 cái bóp nam sọc ca rô màu xanh đen, tổng giá trị tài sản là 135.000 đồng.
Tại phiên tòa, các bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản Cáo trạng của Viện kiểm sát đã nêu. Hành vi của các bị cáo Nguyễn Nhựt H và Nguyễn Thị Thu N bị truy tố về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự là đúng tội các bị cáo, không oan.
Tại Bản Cáo trạng số 77/CT-VKSBL ngày 02/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bến Lức, tỉnh Long An đã truy tố các bị cáo Nguyễn Nhựt H và Nguyễn Thị Thu N về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, trong phần luận tội, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bến Lức vẫn giữ nguyên nội dung bản cáo trạng và phân tích, đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi, các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo Nguyễn Nhựt H và Nguyễn Thị Thu N không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo Nguyễn Nhựt H và Nguyễn Thị Thu N có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, các bị cáo đã tự nguyện bồi thường thiệt hại cho bị hại với số tiền 2.100.000 đồng, bị hại xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Riêng bị cáo N đang mang thai 24 tuần nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm n khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Nhựt H và Nguyễn Thị Thu N phạm tội “Trộm cắp tài sản”;
Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 50; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt: Bị cáo Nguyễn Nhựt H từ 09 tháng đến 01 năm tù.
Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, s, n khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 50; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị Thu N từ 09 tháng đến 01 năm tù.
Về hình phạt bổ sung: Do các bị cáo có hoàn cảnh khó khăn nên đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Sau vụ việc, bị hại Nguyễn Thành Đ2 yêu cầu các bị cáo Nguyễn Nhựt H và Nguyễn Thị Thu N liên đới bồi thường số tiền 2.100.000 đồng. Các bị cáo đã bồi thường cho bị hại số tiền 2.100.000 đồng, bị hại Nguyễn Thành Đ2 không có yêu cầu bồi thường gì thêm nên không đề nghị xem xét.
Các bị cáo nói lời sau cùng: Các bị cáo biết hành vi của mình là vi phạm pháp luật, các bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Xét hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng: Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện B, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện B, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình giải quyết vụ án, các bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
[2] Xét hành vi của các bị cáo: Các bị cáo Nguyễn Nhựt H và Nguyễn Thị Thu N là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, do không tiền tiêu xài nên khoảng 17 giờ 30 phút ngày 27/02/2024, các bị cáo Nguyễn Nhựt H và Nguyễn Thị Thu N đi vào bãi giữ xe Công ty L trong Khu công nghiệp P địa chỉ: Ấp C, xã A, huyện B lén lút mở cốp xe mô tô Airblade biển số 62N1-45977 của anh Nguyễn Thành Đ2 trộm 01 cái bóp nam màu đen và 01 cái bóp nam sọc ca rô màu xanh đen trị giá 135.000đ, bên trong 02 bóp có 2.100.000đồng của anh Đ2, tổng tài sản các bị cáo H và N chiếm đoạt của anh Đ2 là 2.235.000đ, cả hai tiêu xài cá nhân hết.
Lời khai nhận tội của các bị cáo tại tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, phù hợp với những chứng cứ có trong hồ sơ vụ án như sơ đồ, bản ảnh hiện trường vụ án. Trong vụ án này bị cáo N là người khởi xướng và rủ rê bị cáo H đi trộm cắp tài sản. Các bị cáo H và N cùng là người thực hành hành vi trộm cắp tài sản với tổng giá trị tài sản bị chiếm đoạt là 2.235.000 đồng. Hành vi trái pháp luật của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến tài sản của người khác, lợi dụng sự sơ hở của chủ sở hữu các bị cáo đã lén lút chiếm đoạt tài sản để lấy tiền tiêu xài cá nhân, các bị cáo thực hiện do lỗi cố ý trực tiếp, đã xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác, xâm phạm trật tự an toàn xã hội, gây mất trật tự địa phương. Việc trộm cắp tài sản chỉ mang tính nhất thời, không có sự cấu kết chặt chẽ, phân công công việc cụ thể nên thuộc trường hợp đồng phạm giản đơn. Như vậy, hành vi của các bị cáo Nguyễn Nhựt H và Nguyễn Thị Thu N đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”. Tội danh và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bến Lức đã truy tố các bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[3] Xét tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo Nguyễn Nhựt H và Nguyễn Thị Thu N không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[4] Xét tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo Nguyễn Nhựt H và Nguyễn Thị Thu N có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, các bị cáo đã tự nguyện bồi thường thiệt hại cho bị hại với số tiền 2.100.000 đồng, bị hại xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Riêng bị cáo N đang mang thai 24 tuần nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm n khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[5] Về hình phạt: Hành vi phạm tội của các bị cáo cần được xử lý nghiêm, cần áp dụng mức hình phạt tương xứng, nghiêm khắc mới có tác dụng trong đấu tranh phòng, chống tội phạm. Tuy nhiên, khi lượng hình phạt Hội đồng xét xử có xem xét đến vai trò của từng bị cáo trong vụ án đồng phạm để xử phạt các bị cáo mức án vừa có tính chất răn đe, vừa thể hiện sự khoan hồng của pháp luật nhằm giáo dục, cải tạo các bị cáo thành người có ích cho gia đình và xã hội. Xét tính chất, hành vi phạm tội, nhân thân của các bị cáo, hậu quả của vụ án cần áp dụng hình phạt nghiêm khắc cách ly các bị cáo Nguyễn Nhựt H và Nguyễn Thị Thu N ra khỏi xã hội một thời gian để răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
Về hình phạt bổ sung: Xét thấy các bị cáo không có công việc, thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
[6] Về trách nhiệm dân sự: Sau vụ việc, bị hại Nguyễn Thành Đ2 yêu cầu các bị cáo Nguyễn Nhựt H và Nguyễn Thị Thu N liên đới bồi thường số tiền 2.100.000 đồng. Các bị cáo đã bồi thường cho bị hại số tiền 2.100.000 đồng, bị hại Nguyễn Thành Đ2 không có yêu cầu bồi thường gì thêm nên không đề cập xem xét.
[7] Về án phí: Các bị cáo Nguyễn Nhựt H và Nguyễn Thị Thu N phải chịu án phí hình sự sơ thẩm, theo quy định tại Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về việc quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Nhựt H và Nguyễn Thị Thu N phạm tội “Trộm cắp tài sản”;
1.1 Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm b, n, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 50; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị Thu N 09 (chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày chấp hành án.
1.2 Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 50; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Nhựt H 09 (chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày chấp hành án.
3. Về án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về việc quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án
Các bị cáo Nguyễn Nhựt H và Nguyễn Thị Thu N mỗi bị báo phải chịu 200.000đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 332, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự: Các bị cáo, bị hại được quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đặng Thị Nga |
Bản án số 79/2024/HS-ST ngày 30/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẾN LỨC, TỈNH LONG AN về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 79/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẾN LỨC, TỈNH LONG AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Nhựt Hào phạm tội trộm cắp tài sản
