TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƯƠNG MỸ THÀNH PHỐ HÀ NỘI ***** | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ***** |
Bản án số: 79/2024/DS-ST
Ngày: 30/05/2024
V/v: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƯƠNG MỸ - TP HÀ NỘI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Long
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Tiến Lợi
Bà Nguyễn Thị Hà
Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Đỗ Thị Luân – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Chương Mỹ.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chương Mỹ tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Gia Ánh - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 05 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chương Mỹ, Thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án Dân sự thụ lý số: 157/2023/TLST-DS ngày 09/10/2023 về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 31/2024/QĐXXST-DS ngày 08/05/2024 giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP Đ (Ngân hàng S1).
Địa chỉ trụ sở chính: Số A T, phường L, quận H, Thành phố Hà Nội;
Đại diện theo pháp luật: Ông Lê Văn T - Chủ tịch Hội đồng quản trị
Đại diện theo ủy quyền: Bà Lã Thị H - Chức vụ: Phó Giám đốc khối xử lý nợ (Theo Giấy ủy quyền số: 68/2022/UQ-SeABank ngày 14/01/2022 của Chủ tịch Hội đồng Quản trị Ngân hàng TMCP Đ).
Bà Lã Thị H ủy quyền cho ông Phạm Ngọc T1, ông Lê Tuấn T2 (Giấy ủy quyền số: 5259/2023/UQ-SeABank ngày 17/4/2023)
* Bị đơn: Bà Đặng Thanh H1, sinh năm 1981.
Nơi đăng ký HKTT và cư trú: thôn Ứ, xã L, huyện C, Thành phố Hà Nội.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Nguyễn Thị S, sinh năm 1957 (mẹ bà H1)
Bà Nguyễn Thị S uỷ quyền cho bà Đặng Thanh H1 theo giấy uỷ quyền ngày 04/4/2024. - Anh Vũ Duy A, sinh năm 2001 (con bà H1)
Anh Vũ Duy A uỷ quyền cho bà Đặng Thanh H1 theo giấy uỷ quyền ngày 30/05/2024. - Chị Trần Thảo V, sinh năm 2008 (con bà H1)
- Chị Trần Thảo V1, sinh năm 2010 (con bà H1)
Người đại diện theo pháp luật của chị Trần Thảo V và chị Trần Thảo V1: Bà Đặng Thanh H1. - Đều đăng ký HKTT và cư trú: thôn Ứ, xã L, huyện C, Thành phố Hà Nội.
- UBND xã L, huyện C, Thành phố Hà Nội.
Đại diện theo pháp luật: Ông Đặng Văn H2 – Chủ tịch UBND xã.
Địa chỉ: xã Lam Điền, huyện Chương Mỹ, Thành phố Hà Nội
Tại phiên tòa:
+ Người đại diện theo ủy quyền của Ngân hàng TMCP Đ là ông Phạm Ngọc T1 và Bị đơn là bà Đặng Thanh H1. Đều có mặt.
+ UBND xã L, huyện C, Thành phố Hà Nội xin vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và lời trình bày của người đại diện theo ủy quyền của Nguyên đơn - Ngân hàng TMCP Đ (gọi tắt là: Ngân hàng S1) - Ông Phạm Ngọc T1 trình bày:
Về hợp đồng tín dụng: Ngày 25/01/2021, giữa Ngân hàng TMCP Đ – Chi nhánh L – Phòng G (gọi tắt là: Ngân hàng S1) với bà Đặng Thanh H1 ký Hợp đồng cho vay từng lần (Áp dụng đối với trường hợp khoản vay chỉ giải ngân một lần) số: REF2102200309/HĐTD/HN6 - ĐTH ngày 25/01/2021 với nội dung: Bà Đặng Thanh H1 vay Ngân hàng S1 số tiền là: 282.000.000 đồng (Bằng chữ: Hai trăm tám mươi hai triệu đồng).
Mục đích vay: Vay xây, sửa nhà.
Thời hạn vay: 120 tháng (kể từ ngày giải ngân vốn vay đầu tiên là ngày 28/01/2021 đến 28/01/2031).
Lãi suất cho vay tại thời điểm giải ngân là: 7,5%/năm cố định trong 12 tháng kể từ ngày giải ngân. Hết thời hạn trên lãi suất được điều chỉnh định kỳ vào ngày làm việc đầu tiên của mỗi quý khi có sự thay đổi về lãi suất cơ sở. Mức điều chỉnh lãi suất được xác định bằng lãi suất cơ sở của Ngân hàng S1 đang áp dụng tại thời điểm điều chỉnh cộng với biên độ 2,99%/năm; lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn áp dụng với nợ gốc quá hạn và bằng 10% với nợ lãi chậm trả.
Thực hiện Hợp đồng tín dụng nêu trên, ngày 28/01/2021 Ngân hàng S1 đã giải ngân cho bà Đặng Thanh H1 số tiền là: 282.000.000 đồng (Bằng chữ: Hai trăm tám mươi hai triệu đồng).
Tài sản bảo đảm của khoản vay:
Tài sản bảo đảm: Tài sản bảo đảm cho nghĩa vụ tín dụng của bà Đặng Thanh H1 bao gồm: Toàn bộ quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 458, tờ bản đồ số 22, diện tích 101,0m² tại địa chỉ: thôn Ứ, xã L, huyện C, Thành phố Hà Nội (Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số: CY 463876; số vào sổ cấp GCN: CS – CM 11138 do Sở Tài nguyên và Môi Trường Thành phố H cấp ngày 30/11/2020) mang tên bà Đặng Thanh H1.
Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số công chứng: 417.2021/HĐTC, quyển số 01TP/CC-SCC/HĐGD ngày 25/01/2021 tại Văn phòng C.
Đăng ký giao dịch bảo đảm tại Văn phòng Đ1 – Chi nhánh huyện C ngày 26/01/2021.
Trong quá trình thực hiện các hợp đồng tín dụng trên, bà Đặng Thanh H1 đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ gốc và nợ lãi cho Ngân hàng S1.
Tính đến ngày 04/3/2024, bà Đặng Thanh H1 đã thanh toán cho Ngân hàng S1 số tiền: 97.492.119 đồng (trong đó nợ gốc là 52.361.986 đồng, nợ lãi là 45.130.133 đồng). Sau khi khoản nợ quá hạn, bà H1 trả nợ không đúng theo các cam kết và đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ gốc và nợ lãi cho Ngân hàng S1.
Tính đến ngày 08/5/2024, dư nợ của bà Đặng Thanh H1 tại Ngân hàng S1 tổng số tiền là: 277.541.189 đồng. Trong đó: Nợ gốc: 229.638.014 đồng; Nợ lãi trong hạn: 39.177.226 đồng; Nợ lãi quá hạn: 8.725.949 đồng.
Ngân hàng S1 khởi kiện đề nghị Tòa án nhân dân huyện Chương Mỹ, Thành phố Hà Nội:
Buộc bà Đặng Thanh H1 phải có trách nhiệm thanh toán cho Ngân hàng S1 khoản tiền còn nợ theo Hợp đồng cho vay đã ký tổng số tiền tạm tính đến ngày 08/5/2024 là: 277.541.189 đồng. Trong đó: Nợ gốc: 229.638.014 đồng; nợ lãi trong hạn: 39.177.226 đồng; nợ lãi quá hạn: 8.725.949 đồng.
Buộc bà Đặng Thanh H1 phải tiếp tục trả cho Ngân hàng S1 các khoản tiền nợ lãi, phạt, phí phát sinh theo thỏa thuận tại Hợp đồng cho vay đã ký kể từ ngày 09/5/2024 cho đến khi bà Đặng Thanh H1 thanh toán xong toàn bộ khoản nợ.
Kể từ ngày Quyết định/Bản án có hiệu lực pháp luật, bà H1 không thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ toàn bộ khoản nợ nêu trên và lãi phát sinh theo Hợp đồng cho vay đã ký cho Ngân hàng S1 thì Ngân hàng S1 có quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án Dân sự có thẩm quyền tiến hành kê biên, phát mại tài sản bảo đảm của khoản vay nói trên để thu hồi nợ.
Toàn bộ số tiền thu được từ việc bán/xử lý tài sản bảo đảm được dùng để thanh toán nghĩa vụ trả nợ của bà Đặng Thanh H1 đối với Ngân hàng S1. Nếu số tiền thu được từ việc xử lý tài sản bảo đảm không đủ thanh toán hết khoản nợ thì bà Đặng Thanh H1 vẫn phải có nghĩa vụ trả hết khoản nợ cho Ngân hàng S1.
* Bị đơn (bà Đặng Thanh H1), bà Đặng Thanh H1 là người đại diện theo uỷ quyền của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là bà Nguyễn Thị S và anh Vũ Duy A trình bày:
Bà Đặng Thanh H1 xác nhận ngày 25/01/2021, bà H1 ký hợp đồng vay vốn tại Ngân hàng S1 – Phòng giao dịch G theo Hợp đồng cho vay từng lần số: REF2102200309/HĐTD/HN6 - ĐTH ngày 25/01/2021với nội dung: Số tiền vay: 282.000.000 đồng. Mục đích vay, thời hạn vay, lãi suất vay như người đại diện theo uỷ quyền của Ngân hàng S1 đã trình bày.
Bà Đặng Thanh H1 thừa nhận để bảo đảm cho khoản vay, bà H1 đã thế chấp tài sản là: Toàn bộ quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 458, tờ bản đồ số 22, tại địa chỉ: thôn Ứ, xã L, huyện C, Thành phố Hà Nội (Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CY 463876; số vào sổ cấp GCN: CS – CM 11138 do Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H cấp ngày 30/11/2020) mang tên bà Đặng Thanh H1.
Bà Đặng Thanh H1 thừa nhận, trong quá trình thực hiện hợp đồng, bà H1 đã thanh toán trả cho Ngân hàng S1 tổng số tiền là: 97.492.119 đồng. Trong đó: Trả nợ gốc số tiền là: 52.361.986 đồng, trả nợ lãi số tiền là: 45.130.133 đồng. Hiện tài sản thế chấp do bà H1 đang quản lý, sử dụng.
Hiện những người đang sinh sống trên đất thế chấp gồm có: Bà Nguyễn Thị S (mẹ bà H1), anh Vũ Duy A, chị Trần Thảo V và chị Trần Thảo V1 (các con bà H1). Ngoài ra không có ai khác.
Bà Đặng Thanh H1 thừa nhận, trong quá trình sử dụng đất, bà H1 xây dựng
công trình lên phần ngõ xóm. Phần ngõ xóm này, trước kia là dùng để đi vào ngõ nhà ông Đặng Đình T3. Sau đó ông T3 có bán lại cho bà H1 thửa đất đó và bà H1 đã làm Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và đã thế chấp nên hiện không có ai đi đường ngõ xóm này. Trên thửa đất thế chấp, bà H1 xây dựng nhà 02 tầng từ năm 2020.
Bà Đặng Thanh H1 thừa nhận, đến nay bà H1 còn nợ Ngân hàng S1 tổng số tiền tạm tính đến ngày 08/5/2024 là: 277.541.189 đồng. Trong đó: Nợ gốc: 229.638.014 đồng; nợ lãi trong hạn: 39.177.226 đồng; nợ lãi quá hạn: 8.725.949 đồng.
Nay, Ngân hàng S1 khởi kiện yêu cầu trả nợ, bà H1 đồng ý trả nợ cho Ngân hàng S1 nhưng bà đề nghị Ngân hàng S1 cho bà thêm thời gian để bà thu xếp tiền để trả nợ cho Ngân hàng S1.
* Ý kiến trình bày tại phiên tòa của các đương sự:
+ Ý kiến của người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn - Ngân hàng S1:
Người đại diện theo ủy quyền của Ngân hàng S1 giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, yêu cầu bà Đặng Thanh H1 phải thanh toán cho Ngân hàng S1 tổng số tiền còn nợ tạm tính đến hết ngày 30/05/2024 (ngày xét xử sơ thẩm) là: 279.903.316 đồng. Trong đó: Nợ gốc: 229.638.014 đồng; nợ lãi trong hạn là: 40.825.813 đồng; nợ lãi quá hạn là: 9.439.489 đồng.
Buộc bà Đặng Thanh H1 phải tiếp tục chịu lãi phát sinh trên số dư nợ gốc kể từ ngày 31/05/2024 theo mức lãi suất đã thỏa thuận tại Hợp đồng cho vay đã ký cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ cho Ngân hàng S1.
Trong trường hợp bà Đặng Thanh H1 không trả nợ hoặc trả nợ không đầy đủ cho Ngân hàng S1 thì Ngân hàng S1 có quyền đề nghị Cơ quan Thi hành án Dân sự có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ.
+ Bị đơn - bà Đặng Thanh H1 thừa nhận khoản tiền còn nợ như người đại diện theo uỷ quyền của Ngân hàng S1 trình bày, bà H1 đề nghị Ngân hàng S1 giãn thời gian cho bà từ 06 đến 10 tháng để bà H1 thu xếp để trả nợ cho Ngân hàng S1.
* Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến tại phiên tòa:
+ Về tố tụng: Thẩm phán, Thư ký thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự. Tòa án đã tiến hành thu thập chứng cứ theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự. Nguyên đơn, bị đơn thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ của đương sự theo quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự.
+ Về nội dung: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn xuất trình; ý kiến, quan điểm của nguyên đơn trong quá trình giải quyết vụ án và các tài liệu chứng cứ do Tòa án thu thập. Đại diện Viện kiểm sát đề nghị:
- Về khoản tiền còn nợ và trách nhiệm trả nợ: Đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng S1 về yêu cầu buộc bà Đặng Thanh H1 phải thanh toán toàn bộ khoản nợ cho Ngân hàng S1 số tiền tạm tính đến hết ngày 30/05/2024 là: 279.903.316 đồng. Trong đó: Nợ gốc: 229.638.014 đồng; nợ lãi trong hạn là: 40.825.813 đồng; nợ lãi quá hạn là: 9.439.489 đồng.
Buộc bà Đặng Thanh H1 phải tiếp tục chịu lãi trên số dư nợ gốc kể từ ngày 31/05/2024 theo mức lãi suất đã thỏa thuận tại Hợp đồng cho vay đã ký cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ cho Ngân hàng S1.
- Về xử lý tài sản bảo đảm: Đề nghị chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn về việc nguyên đơn là Ngân hàng S1 có quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án Dân sự có thẩm quyền kê biên, phát mại tài sản thế chấp để thu hồi nợ trong trường hợp bà Đặng Thanh H1 không trả nợ hoặc trả nợ không đầy đủ cho Ngân hàng S1. Toàn bộ số tiền thu được từ việc bán/xử lý tài sản bảo đảm được dùng để thanh toán nghĩa vụ trả nợ của bà Đặng Thanh H1 đối với Ngân hàng S1. Nếu số tiền thu được từ việc xử lý tài sản bảo đảm không đủ thanh toán hết khoản nợ thì bà Đặng Thanh H1 vẫn phải có nghĩa vụ trả hết khoản nợ cho Ngân hàng S1.
- Về án phí: Bị đơn bà Đặng Thanh H1 phải chịu án phí Dân sự sơ thẩm có giá ngạch tương ứng với nghĩa vụ phải thanh toán theo quy định của pháp luật. Nguyên đơn (Ngân hàng S1) được chấp nhận yêu cầu khởi kiện nên được hoàn trả số tiền dự phí đã nộp.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1.] Về tố tụng:
[1.1] Về thẩm quyền giải quyết: Ngày 25/01/2021, giữa Ngân hàng S1 với bà Đặng Thanh H1 ký Hợp đồng cho vay từng lần với số tiền bà Đặng Thanh H1 vay Ngân hàng S1 là 282.000.000 đồng (Bằng chữ: Hai trăm tám mươi hai triệu đồng). Trong quá trình thực hiện Hợp đồng tín dụng, bà H1 đã vi phạm thỏa thuận trong Hợp đồng cho vay đã ký. Ngân hàng S1 khởi kiện tại Tòa án nhân dân huyện Chương Mỹ yêu cầu bà H1 phải thanh toán khoản tiền còn nợ trước hạn. Bị đơn là bà Đặng Thanh H1 có hộ khẩu thường trú tại: thôn Ứ, xã L, huyện C, Thành phố Hà
Nội, tài sản thế chấp có địa chỉ tại: thôn Ứ, xã L, huyện C, Thành phố Hà Nội nên theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng Dân sự, thẩm quyền giải quyết vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân huyện Chương Mỹ, Thành phố Hà Nội.
[1.2]. Về sự vắng mặt của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là Ủy ban nhân dân xã L, huyện C: Ủy ban nhân dân xã L, huyện C đã có ý kiến xin vắng mặt. Căn cứ quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 227 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự; Điều 28 Nghị quyết số 05/2012/NQ-HĐTP ngày 03/12/2012 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt Ủy ban nhân dân xã L, huyện C.
[ 2]. Về nội dung vụ án:
[2.1] Xét yêu cầu về quan hệ tín dụng: Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn – Ngân hàng S1 và bên vay bà Đặng Thanh H1 đều xác nhận toàn bộ nội dung thỏa thuận tín dụng theo Hợp đồng cho vay với tổng số tiền bà Đặng Thanh H1 vay Ngân hàng S1 là: 282.000.000 đồng (Bằng chữ: Hai trăm tám mươi hai triệu đồng). Về số tiền bà Đặng Thanh H1 đã được Ngân hàng S1 giải ngân theo Hợp đồng cho vay đến nay bà Đặng Thanh H1 thừa nhận.
[2.2] Xét tính pháp lý của Hợp đồng cho vay từng lần:
Hợp đồng cho vay từng lần số: REF2102200309/HĐTD/HN6 - ĐTH ngày 25/01/2021 được các bên (Ngân hàng S1 và bà H1) tự nguyện thỏa thuận ký kết, có hình thức và nội dung phù hợp quy định của pháp luật nên có hiệu lực thi hành. Trong quá trình thực hiện hợp đồng, bà H1 đã vi phạm các thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng đã ký. Vì vậy, Ngân hàng S1 khởi kiện buộc bên vay là bà H1 phải thực hiện nghĩa vụ thanh toán nợ trước hạn và yêu cầu bà H1 phải trả khoản tiền gốc còn nợ, tiền lãi trong hạn, tiền lãi quá hạn phát sinh chưa thanh toán là có căn cứ.
Tại phiên tòa, Ngân hàng S1 đã xuất trình đầy đủ các tài liệu, chứng cứ chứng minh khoản tiền còn nợ (tiền gốc, tiền lãi) tạm tính đến hết ngày 30/05/2024 là: 279.903.316 đồng. Trong đó: Nợ gốc: 229.638.014 đồng; nợ lãi trong hạn là: 40.825.813 đồng; nợ lãi quá hạn là: 9.439.489 đồng.
Do vậy, cần buộc bà H1 phải có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng S1 số tiền còn nợ tạm tính đến hết ngày 30/05/2024 là: 279.903.316 đồng. Trong đó: Nợ gốc:
229.638.014 đồng; nợ lãi trong hạn là: 40.825.813 đồng; nợ lãi quá hạn là: 9.439.489 đồng.
Kể từ ngày 31/05/2024, bà Đặng Thanh H1 phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi phát sinh theo lãi suất đã thỏa thuận trong Hợp đồng cho vay đã ký cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ cho Ngân hàng S1.
[2.3] Về tài sản bảo đảm: Biện pháp bảo đảm tiền vay được quy định tại: Điều 3 của Hợp đồng cho vay từng lần số: REF2102200309/HĐTD/HN6 - ĐTH ngày 25/01/2021và nội dung chi tiết được thực hiện theo Điều 2 của Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số công chứng: 417.2021/HĐTC, quyển số 01TP/CC-SCC/HĐGD ngày 25/01/2021 tại Văn phòng C, Thành phố Hà Nội giữa bên thế chấp là bà Đặng Thanh H1 với bên nhận thế chấp là Ngân hàng S1. Đối tượng bảo đảm tín dụng là: Toàn bộ quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 458, tờ bản đồ số 22 tại địa chỉ: thôn Ứ, xã L, huyện C, Thành phố Hà Nội (Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CY 463876; số vào sổ cấp GCN: CS – CM 11138 do Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H cấp ngày 30/11/2020) mang tên bà Đặng Thanh H1.
[2.4] Xét tính pháp lý của Hợp đồng thế chấp: Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất công chứng số: 417.2021/HĐTC, quyển số 01TP/CC-SCC/HĐGD ngày 25/01/2021 tại Văn phòng C, Thành phố Hà Nội giữa Ngân hàng S1 và bà Đặng Thanh H1 có nội dung và hình thức tuân thủ đúng quy định tại Bộ luật Dân sự năm 2015 và Luật Đất đai năm 2013; Nghị định số 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 của Chính phủ về giao dịch bảo đảm và Nghị định số 11/2012/NĐ-CP ngày 22/02/2012 của Chính phủ về việc sửa đổi một số điều của Nghị định số 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 về giao dịch bảo đảm. Theo đó, các thỏa thuận trong Hợp đồng thế chấp có hiệu lực pháp luật để thi hành.
Do vậy, yêu cầu của Ngân hàng S1 được quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án Dân sự có thẩm quyền xử lý tài sản bảo đảm trong trường hợp bà Đặng Thanh H1 không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ tín dụng là có căn cứ nên được chấp nhận. Trong trường hợp bà Đặng Thanh H1 không thanh toán hoặc không thanh toán đầy đủ khoản nợ cho Ngân hàng S1, Ngân hàng S1 có quyền đề nghị Cơ quan Thi hành án Dân sự có thẩm quyền kê biên, xử lý, phát mại tài sản thế chấp là: Toàn bộ quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 458, tờ bản đồ số 22 tại địa chỉ: thôn Ứ, xã L, huyện C, Thành phố Hà Nội (Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CY
463876; số vào sổ cấp GCN: CS – CM 11138 do Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H cấp ngày 30/11/2020) mang tên bà Đặng Thanh H1.
Tại thời điểm xem xét thẩm định tại chỗ: Trên thửa đất số 458, tờ bản đồ số 22 tại địa chỉ: thôn Ứ, xã L, huyện C, Thành phố Hà Nội có: Bà Đặng Thanh H1, bà Nguyễn Thị S, anh Vũ Duy A, chị Trần Thảo V, chị Trần Thảo V1 đang sinh sống trên đất.
Theo đó: Bà Đặng Thanh H1, bà Nguyễn Thị S, anh Vũ Duy A, chị Trần Thảo V, chị Trần Thảo V1 cùng những người đang sinh sống trên thửa đất (nếu có phát sinh thêm) có trách nhiệm bàn giao tài sản thế chấp để thi hành án.
Đối với hiện trạng thửa đất thế chấp: Thửa đất số 458, tờ bản đồ số 22 tại địa chỉ: thôn Ứ, xã L, huyện C trước đây thuộc quyền sử dụng của ông Đặng Đình T3, thửa đất này có phần đất ngõ xóm đi vào thửa đất mang tên ông Đặng Đình T3 và chỉ do gia đình ông T3 sử dụng. Sau đó, ông Đặng Đình T3 chuyển nhượng cho bà Đặng Thanh H1, sau khi nhận chuyển nhượng bà H1 đã sang tên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên bà Đặng Thanh H1 và xây dựng công trình lên phần ngõ xóm vào năm 2020. Diện tích thửa đất số 458, tờ bản đồ số 22 và phần ngõ trước đây hiện không có tranh chấp với các hộ liền kề. Do vậy, trong trường hợp Cơ quan Thi hành án Dân sự có thẩm quyền kê biên, xử lý, phát mại tài sản thế chấp để thu hồi nợ cho Ngân hàng S1 thì diện tích, kích thước tài sản được xử lý là diện tích, kích thước theo hiện trạng sử dụng đất đối với thửa đất số 458, tờ bản đồ số 22 tại địa chỉ: thôn Ứ, xã L, huyện C, Thành phố Hà Nội mang tên bà Đặng Thanh H1.
Trường hợp số tiền thu được từ việc phát mại tài sản bảo đảm không đủ để thực hiện nghĩa vụ trả nợ, bà Đặng Thanh H1 vẫn phải có nghĩa vụ tiếp tục trả hết các khoản nợ cho Ngân hàng S1.
[3]. Về án phí.
+ Bà Đặng Thanh H1 phải chịu án phí Dân sự sơ thẩm có giá ngạch trên số tiền phải thanh toán trả Ngân hàng S1 là: 13.995.166 đồng.
+ Ngân hàng S1 được chấp nhận yêu cầu khởi kiện nên được hoàn trả số tiền 6.000.000 đồng dự phí đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chương Mỹ, Thành phố Hà Nội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 26, 35, 39, 147, 227, 228, 244, 266, 271, 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015; các Điều 318, 320, 321, 322, 323, 324, 325, 463, 466, 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015;
Căn cứ các Điều 90, 91, 95, 98 Luật các tổ chức tín dụng;
Nghị quyết số 05/2012/NQ-HĐTP ngày 03/12/2012 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; Nghị định số 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 về giao dịch bảo đảm; Nghị định số 11/2012/NĐ-CP ngày 22/02/2012 của Chính phủ về việc sửa đổi một số điều của Nghị định số 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 về giao dịch bảo đảm; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016. Xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ đối với bà Đặng Thanh H1 về yêu cầu trả nợ gốc, nợ lãi trong hạn, lãi quá hạn và dành quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án phát mại tài sản thế chấp để thu hồi nợ.
- Buộc bà Đặng Thanh H1 phải trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ tổng số tiền nợ tạm tính đến hết ngày 30/05/2024 là: 279.903.316 đồng (Bằng chữ: Hai trăm bảy mươi chín triệu, chín trăm linh ba nghìn, ba trăm mười sáu đồng). Trong đó: Nợ gốc: 229.638.014 đồng; nợ lãi trong hạn là: 40.825.813 đồng; nợ lãi quá hạn là: 9.439.489 đồng.
Kể từ ngày 31/05/2024, bà Đặng Thanh H1 phải tiếp tục chịu lãi, phí phát sinh theo thỏa thuận trong Hợp đồng cho vay từng lần (Áp dụng đối với trường hợp khoản vay chỉ giải ngân một lần) số: REF2102200309/HĐTD/HN6 - ĐTH ngày 25/01/2021 cho đến khi bà Đặng Thanh H1 thanh toán xong toàn bộ khoản nợ cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ.
- Trong trường hợp bà Đặng Thanh H1 không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ, Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ có quyền đề nghị Cơ quan Thi hành án Dân sự có thẩm quyền kê biên, phát mại tài sản thế chấp là: Toàn bộ quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 458, tờ bản đồ số 22 tại địa chỉ: thôn Ứ, xã L, huyện C, Thành phố Hà Nội (Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CY 463876; số vào sổ cấp GCN: CS – CM 11138 do Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H cấp ngày 30/11/2020) mang tên bà Đặng Thanh H1.
Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số công chứng: 417.2021/HĐTC, quyển số 01TP/CC-SCC/HĐGD ngày 25/01/2021 tại Văn phòng C.
Diện tích, kích thước tài sản được xử lý là diện tích, kích thước theo hiện trạng sử dụng đất đối với thửa đất số 458, tờ bản đồ số 22 tại địa chỉ: thôn Ứ, xã L, huyện C, Thành phố Hà Nội mang tên bà Đặng Thanh H1.
Theo đó: Bà Đặng Thanh H1, bà Nguyễn Thị S, anh Vũ Duy A, chị Trần Thảo V, chị Trần Thảo V1 cùng những người đang sinh sống trên thửa đất (nếu có phát sinh thêm) có trách nhiệm bàn giao tài sản thế chấp để thi hành án.
Trường hợp số tiền thu được từ việc phát mại tài sản bảo đảm không đủ để thực hiện nghĩa vụ trả nợ bà Đặng Thanh H1 vẫn phải có nghĩa vụ tiếp tục trả hết các khoản nợ cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ.
- Về án phí:
- + Bà Đặng Thanh H1 phải chịu án phí Dân sự sơ thẩm có giá ngạch trên số tiền phải thanh toán trả Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ là: 13.995.166 đồng (Bằng chữ: Mười ba triệu, chín trăm chín mươi lăm nghìn, một trăm sáu mươi sáu đồng).
- + Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ được hoàn trả số tiền 6.000.000 đồng (Bằng chữ: Sáu triệu đồng) dự phí đã nộp (theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2020/0077066 ngày 05/10/2023) tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chương Mỹ, Thành phố Hà Nội.
Trêng hîp b¶n ¸n, quyÕt ®Þnh ®îc thi hµnh theo qui ®Þnh t¹i ĐiÒu 2 LuËt thi hµnh ¸n d©n sù th× ngêi ®îc thi hµnh ¸n d©n sù, ngêi ph¶i thi hµnh ¸n d©n sù cã quyÒn tháa thuËn thi hµnh ¸n, quyÒn yªu cÇu thi hµnh ¸n, tù nguyÖn thi hµnh ¸n hoÆc cïng chñ ®éng thi hµnh ¸n theo qui ®Þnh t¹i c¸c ®iÒu 6, 7, 9 LuËt thi hµnh ¸n d©n sù. Thêi hiÖu thi hµnh ¸n d©n sù ®îc thùc hiÖn theo qui ®Þnh t¹i ĐiÒu 30 LuËt thi hµnh ¸n d©n sù.
- Về quyền kháng cáo:
- + Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ và bà Đặng Thanh H1 có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
- + Ủy ban nhân dân xã L, huyện C, Thành phố Hà Nội có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án.
Nơi nhận
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Nguyễn Hoàng Long |
Bản án số 79/2024/DS-ST ngày 30/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƯƠNG MỸ - TP HÀ NỘI về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 79/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/05/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƯƠNG MỸ - TP HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: quyết định yêu cầu bị đơn buộc trả nợ
